THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHNO PTNT HÀ
NỘI ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH
1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHNO&PTNT HÀ NỘI
1.1. Sự hình thành, phát triển, cơ cấu tổ chức của NHNo&PTNT Hà Nội.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội là một chi nhánh
trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, có trụ sở
chính tại số 77 phố Lạc Trung - Hai Bà Trưng - Hà Nội.
Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam ra đời theo quyết định số 56 và 59 tháng
8 năm 1988 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Sự ra đời của Ngân hàng nông
nghiệp Việt Nam theo yêu cầu cấp bách của nền kinh tế với mục đích chủ yếu là
góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế, kiềm chế làm phát, ổn định tiền
tệ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và trực tiếp giải quyết nâng cao đời sống của nông
dân. NHNN&PTNT Việt Nam có vai trò là Ngân hàng quản lý TW, có hệ thống chi
nhánh rộng khắp trong cả nước từ tỉnh đến huyện, xã gồm hơn 2500 chi nhánh.
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam hoạt động theo
mô hình Tổng công ty Nhà nước, theo quyết định số 90/TTg ngày 07 tháng 03 năm
1994 của Thủ Tướng Chính phủ, thời gian hoạt động là 99 năm , trụ sở tại Hà Nội ,
Ngân hàng có con dấu riêng và có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam.
Ngoài ra, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam còn
mở tài khoản tại các Ngân hàng khác cả trong nước và ngoài nước để phục vụ thêm
cho việc giao dịch và kinh doanh. Ngân hàng có trách nhiệm bảo toàn và phát triển
vốn, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh và có quyền tự chủ về mặt tài
chính.
Ngày 15 tháng 10 năm 1996, Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam đổi tên
thành Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam theo quyết định
số 280/QĐ-NH5 do Thống đốc Ngân hàng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Cao Sỹ
Khiêm ký.
- Tên giao dịch : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt
Nam
- Tên giao dịch quốc tế: Vietnam Bank for agriculture and Rural
động quản lý theo Ngân hàng 2 cấp nhằm giảm những thủ tục phiền hà, kém hiệu
quả và tăng quyền tự chủ, năng lực tài chính của Ngân hàng chi nhánh. Hoạt động
này được tiến hành thí nghiệm tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ
Chí Minh. Từ nay các Ngân hàng cấp huyện không chịu sự quản lý của các Ngân
hàng thành phố mà chịu sự quản lý của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội một
lần nữa lại bị thu hẹp về nguồn vốn và phạm vi hoạt động. Ngân hàng chỉ còn quản
lý các chi nhánh Ngân hàng cấp IV là chi nhánh các Ngân hàng nhỏ ở các quận nội
thành như : Cầu Giấy, Đồng Xuân, Chợ Hôm, Giảng Võ, Tây Hồ và Thanh Xuân.
Các chi nhánh Ngân hàng cấp IV là chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp. Như vậy ,
Ngân hàng đã chuyển hoạt động của mình chủ yếu trên địa bàn ngoại thành sang
địa bàn nội thành.
Ngày 15 tháng 10 năm 1996, Ngân hàng Nông nghiệp đổi tên thành Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam thì Ngân hàng Nông nghiệp
Hà Nội cũng được đổi tên thành Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Hà Nội .
Cơ cấu tổ chức và các phòng ban điều hành của Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Hà Nội như sau:
♦ Ban giám đốc
- Giám đốc : Đặng Văn Mão - Phụ trách tình hình hoạt động kinh doanh của toàn
bộ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội .
- Phó Giám đốc : Nguyễn Quốc Hùng - Phụ trách lĩnh vực kinh doanh, kế hoach ,
thanh toán Quốc tế.
- Phó Giám đốc : Nguyễn Thị Phồn Lan - Phụ trách lĩnh vực kế toán.
Bộ máy hoạt động kinh doanh của Ngân hàng gồm có 8 phòng ban chính
gồm: Phòng kinh doanh , kế toán, kho quỹ, kiểm soát, hành chính, thanh toán Quốc
tế, kế hoạch và phòng vi tính
♦ Phòng kinh doanh
- Quan hệ tín dụng nông thôn
- Nghiệp vụ tín dụng
đào tạo cán bộ , với những nhiệm vụ sau:
- Hành chính , văn thư, tiếp tân
- Quản trị, quản lý kho tàng, vật tư, ấn chỉ...
- Pháp chế, thư ký, tổng hợp cho Giám đốc, tổ chức họp, lưu trữ hồ sơ pháp lý,
tổng hợp các báo cáo chỉ đạo
- Tổ chức cán bộ: Mô hình, quy chế và hoạt động, quy chế nhân viên, sắp xếp,
bố trí cán bộ.
- Đào tạo, chính sách, lao động tiền lương...
♦ Phòng kế hoạch
- Đề ra kế hoach tổng hợp, phân phối, điều hoà vốn.
- Thống kê, đề xuất chiến lươc kinh doanh, phân tích thông tin đề xuất huy động
vốn.
♦ Phòng vi tính
NHNo&PTNT có 08 chi nhánh Ngân hàng cấp quận trực thuộc:
1- NHNo&PTNT quận Hai Bà Trưng
2- NHNo&PTNT quận Hoàn Kiếm
3- NHNo&PTNT quận Cầu Giấy
4- NHNo&PTNT quận Ba Đình
5- NHNo&PTNT quận Tây Hồ
6- NHNo&PTNT quận Đống Đa
7- NHNo&PTNT quận Thanh Xuân
NHNo&PTNT quận khu vực Tam Trinh Các chi nhánh cấp quận (Chi nhánh
Ngân hàng cấp IV) trên địa bàn Hà Nội của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Hà Nội về thực chất là giống như phòng giao dịch của Ngân hàng. ở
đây bao gồm một ban Giám đốc có một Giám đốc, một Phó giám đốc kiêm kế toán
trưởng và các nhân viên phụ trách vấn đề huy động vốn, cho vay, kế toán, thủ quỹ.
Các chi nhánh cấp quận vừa kinh doanh, vừa thực hiện các mục tiêu kinh tế
xã hội, thực hiện các nghiệp vụ mà Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Hà Nội cho phép như:
- Nhận tiền gửi của dân cư, các tổ chức kinh tế.
lợi thế lớn là nằm trên một khu vực phát triển mạnh mẽ nhất cả nước, có khả năng
huy động và cho vay nhiều. Đóng góp của Ngân hàng đối với sự phát triển của
Ngân hàng Thành phố Hà Nội không phải là nhỏ. Đó là kết quả sự hợp tác giữa
Ngân hàng với các doanh nghiệp, các cấp chính quyền và dân cư. Sự tăng trưởng
và phát triển của Ngân hàng gắn liền với sự tăng trưởng, phát triển của kinh tế
Thành phố nói riêng và của cả nước nói chung.
2. VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
NHNO&PTNT HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN QUA.
Trong những năm qua mặc dù vẫn còn chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài
chính khu vực, thiên tai lũ lụt, hạn hán tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp,
và đời sống nhân dân, sản xuất hàng hoá ở mức độ thấp và chịu ảnh hưởng lơn của
xuất nhập khẩu. Trước những khó khăn trên, Đảng và Nhà nước đã có những quyết
sách nên nền kinh tế tiếp tục phát triển ổn định và vững chắc. Một số doanh nghiệp
đã dần tự khẳng định mình trong cơ chế thị trường, một số ngành hàng, mặt hàng
đã tìm được chỗ đứng trong nước và trên thế giới. Năm 2000, tốc độ tăng GDP đạt
6.7% trong đó sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản Hà nội có nhiều thành tích đáng
phấn khởi, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 4.5% so với năm trước.
Sản lượng lương thực có hạt tăng hơn 18 000 tấn, chăn nuôi tăng trưởng khá, sản
xuất tiểu thủ công nghiệp làng nghề chuyền thống đều phát triển khá. Giá trị sản
xuất công nghiệp trên địa bàn cũng tăng 16% so với năm 99 vượt khế hoạch do
thành phố đề ra ( tăng 9.5- 10.5%) và là tốc độ tăng giá trị sản xuất cao nhất kể từ
1998 trở lại. Thương mại, du lịch và các loại dịch vụ khác đạt mức tăng trưởng khá
và tương đối vững chắc, tốc độ tăng bình quân 5 năm là 13.36% năm. Về giá cả
trong năm chỉ có vàng và ngoại tệ tăng giá còn các mặt hàng khác tương đối ổn
định, thậm chí các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho đời sống như lương thực, thực
phẩm, rau xanh, và một số mặt hàng tiêu dùng khác lại có xu hường ổn định. Nhìn
chung tình hình kinh tế thủ đô trong thời gian qua tuy còn gặp nhiều khó khăn
nhưng phát triển sôi động tạo nhiều thuận lợi cho hoạt động Ngân hàng.
Về phía ngành Ngân hàng thống đốc NHNN đã ban hành các cơ chế, chính
sách về điều hành thị trường tiền tề, quản lý ngoại hối, công bố lãi suất cơ bản, cơ
2. Tiền gửi dân cư
- Không kỳ hạn
- Có kỳ hạn
3. Tiền gửi và tiền vay của TCTD
1172
813
359
689
425
264
871
1036
700
306
1287
930
357
1022
1020
470
550
1781
1141
640
1454
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh NHNo&PTNT Hà Nội)
Qua tình hình huy động vốn của NHNo&PTNT Hà nội trong thời gian qua
ta thấy nguồn vốn luôn tăng trưởng ở mức khá. Cơ cấu nguồn vốn được cải thiện
dần. Nguồn tiền gửi không kỳ hạn luôn chiếm ưu thế trong cơ cấu nguồn vốn. Đây
là nguồn vốn có lãi suất thấp, tạo cơ hội thuận lợi để hạ lãi suất cho vay, mở rộng
dụng vốn của NHNo&PTNT Hà Nội trong thời gian qua.
Bảng 3: Tình hình sử dụng vốn của NHNo&PTNT Hà Nội
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu 1999 2000 2001
1. Doanh số cho vay
2. Doanh số thu nợ
3. Dư nợ
4. Nợ quá hạn
1975.850
2.001.496
957.294
3.451.052
3.111.715
1.297.134
23.013
4.040.012
3.757.000
1.572.000
40.314
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh NHNo&PTNT Hà Nội)
Qua bảng trên ta thấy doanh số cho vay, doanh số thu nợ và dư nợ liên tục
tăng qua các năm năm sau cao hơn năm trước. Doanh số cho vay năm 1999 là:
1.975.850 triệu VND thì sang năm 2000 tăng vọt lên 3.451.052 triệu VND, gấp
1,75 lần so với năm 1999. Doanh số cho vay năm 2001 tăng lên 4.040.012 triệu
VND tăng 27% so với năm 2000. Điều đó, chứng tỏ Ngân hàng đã kịp thời nắm
bắt nhu cầu khách hàng và chủ động đáp ứng nhu cầu làm tăng doanh số cho vay
qua các năm. Doanh số thu nợ qua các năm cũng tăng lên đáng kể, nếu trong năm
1999 doanh số thu nợ là 2.001.496 triệu VND thì sang năm 2000 con số này là
3.111.715 triệu VND và tăng lên 3.757.000 năm 2001. Doanh số thu nợ chứng tỏ
bên cạnh việc mở rộng doanh số cho vay các thành phân kinh tế, Ngân hàng cũng
ty vật tư nông nghiệp, Ngân hàng còn có nhiều khách hàng lớn trong lĩnh vực xây
dựng và sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp. Các khách hàng có quan hệ tốt
với Ngân hàng là công ty Xây lắp vật tư xây dựng 7, Công ty XLVTXD5, công ty
gạch ốp lát Hà nội, công ty XD&PTNT, Tổng công ty da giầy, nhà máy thuốc lá
Thăng Long, công ty bia Hà Nội...
Bảng 4: Lãi suất kinh doanh nội tệ
Đơn vị: %
Lãi suất 2000 2001
1. Đầu vào 0,44 0,484
2. Đầu ra 0,63 0,616
3. Chênh lệch = (2)-(1) 0,19 0,132
4.Tăng, giảm -0,058
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh NHNo&PTNT Hà Nội)
Năm 2001, mặc dù bị cạnh tranh gay gắt nhất là về lãi suất huy động vốn và
cho vay nhưng do tận thu lãi tốt nên lãi suất cho vay thực thu tuy thấp hơn năm
2000 nhưng không lớn và hầu hết các Ngân hàng có chênh lệch lãi suất dương mặc
dù có Ngân hàng trả lãi trước. Chênh lệch lãi suất năm 2001 thấp hơn năm 2000 là
tất yếu vì xu hướng chênh lệch lãi suất ngày càng bị thu hẹp do các Ngân hàng nên
lãi suất đầu vào lớn.
2.3. Hoạt động kinh doanh đối ngoại.
Hoạt động kinh doanh đối ngoại là một mặt hoạt động nghiệp vụ rất quan
trọng có liên quan đến phát triển kinh tế của đất nước cũng như của từng doanh
nghiệp có liên quan đến xuất nhập khẩu. Năm 2001, NHNo&PTNT Hà nội đã tiếp
tục tích cực mở rộng với quan hệ với các Ngân hàng nước ngoài. Nếu những năm
trước NHNo&PTNT Hà nội đã làm tốt công tác thanh toán quốc tế thì năm 2001
công tác này được chú trọng hơn và kết quả hoạt động kinh doanh đối ngoại đã có
chuyển biến tích cực là:
♦ Về xuất khẩu:
- Đã gửi chứng từ đòi tiền 110 món, trị giá 2,7 triệu USD, tăng 20% so với năm
2000.
Năm 2001 đã chuyển tiền điện tử 10.542 món với 12.011 tỷ đồng, tăng 7 lần
doanh số thanh toán năm 2000 mà không để xẩy ra sai sót, nhầm lẫn cho khách
hàng.
♦ Ngân quỹ: với mạng lưới gồm 8 chi nhánh trực thuộc và 20 phòng giao dịch
tuy thiếu về phương tiện điều chuyển nhưng NHNo&PTNT Hà nội đã tổ chức tốt
công tác Ngân quỹ nên vừa mở rộng được diện thu tiền mặt tại chỗ cho một số
doanh nghiệp vừa cung ứng kịp thời chính xác các nhu cầu thu chi của khách hàng
nhất là chi xã hội cho các chi nhánh kho bạc, các trường Đại học....