CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, con người là nhân tố chính trong việc thúc đẩy sự phát triển
của xã hội, trong đó tri thức là yếu tố quan trọng, đóng vai trò quyết định. Với
nhu cầu ngày càng cao của xã hội, đòi hỏi giáo dục phải có những bước tiến
quan trọng nhằm đào tạo những chủ nhân tương lai của đất nước để đáp ứng và
đón đầu sự phát triển của đất nước trong sự hội nhập hiện nay.
Vật lý là môn khoa học cơ bản gắn liền với thực tiễn, vì vậy trong quá
trình dạy học người giáo viên có thể chia sẻ những kiến thức Vật lý nhằm giải
quyết các vấn đề thực nghiệm, giải thích các hiện tượng trong cuộc sống. Thông
qua quá trình này, tạo điều kiện kích thích sự tò mò, ham hiểu biết của học sinh,
từ đó giúp các em từng bước tìm hiểu và nghiên cứu Vật lý. Như Galileo Galile
đã từng nói “Chúng ta không thể dạy người ta bất cứ điều gì. Chúng ta chỉ có thể
giúp họ phát hiện ra điều gì đó ngay trong chính bản thân họ”. Vì vậy, quá trình
giảng dạy Vật lý ở nhà trường phổ thông không chỉ là quá trình truyền thụ kiến
thức của thầy cho trò, mà là quá trình tương tác giữa thầy và trò nhằm đạt đến
kiến thức chân lý.
Việc cải cách giáo dục đang dần thay đổi, lấy vai trò người học làm trung
tâm, nhằm phát triển năng lực bản thân, tự giải quyết vấn đề nhằm đáp ứng nhu
cầu của xã hội. Với phương pháp dạy học mới, giáo viên sẽ định hướng cho học
sinh tự tìm hiểu kiến thức, qua đó sẽ khắc phục lối truyền thụ kiến thức một
chiều, ghi nhớ máy móc của học sinh. Từ đó sẽ phát huy được tính tích cực, chủ
động sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học.
Trong xu thế giáo dục hiện nay thì sự kết hợp các phương tiện dạy học,
cùng với việc hình thành và rèn luyện kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề là
một trong những yếu tố cần thiết trong quá trình dạy học. Xuất phát từ những lý
do này tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Vận dụng phương pháp dạy học nêu và
giải quyết vấn đề và dạy học một số kiến thức chương “Chất khí” - Vật lý
10 THPT” để giúp học sinh tìm hiểu kiến thức chương này một cách sâu sắc
hơn, cũng như việc vận dụng các kiến thức liên quan và bên cạnh đó là phát huy
- Phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập
- Người học được rèn luyện các kỹ năng cần thiết
- Người học được sớm tiếp cận những vấn đề thực tiễn
2
- Bài học được tiếp thu vừa rộng vừa sâu, được lưu giữ lâu trong trí nhớ
người học
- Đòi hỏi giáo viên không ngừng vươn lên
b) Nhược điểm
- Khi dạy học với phương pháp này thì cần nhiều thời gian hơn so với
phương pháp dạy học truyền thống.
- Khó vận dụng ở những môn học có tính trừu tượng cao
- Khó vận dụng cho lớp đông
II. Thực trạng của việc vận dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết
vấn đề trong dạy học Vật lý ở trường THPT 19 - Kim Bôi
1. Thuận lợi
- Đông đảo GV có nhận thức đúng đắn về đổi mới PPDH. Nhiều GV đã
xác định rõ sự cần thiết và có mong muốn thực hiện đổi mới PPDH.
Một số GV đã và đang vận dụng được các PPDH tích cực trong dạy học; kĩ năng
sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại và ứng dụng CNTT vào việc tổ chức hoạt
động dạy học một cách khá hiệu quả.
2. Hạn chế
a) Đối với giáo viên
- Hoạt động đổi mới PPDH chưa mang lại hiệu quả cao. Truyền thụ tri
thức phần lớn vẫn là PPDH truyền thống, một chiều. Một bộ phận giáo viên
không tích cực đầu tư, cải tiến PPDH, không trau dồi chuyên môn nhằm nâng
cao tay nghề. Một số giáo viên mặc dù có ý thức đổi mới PPDH nhưng việc thực
hiện chỉ mang tính hình thức, đối phó chưa thực sự đem lại hiệu quả mong
Cách thức tổ chức các hoạt động của từng giai đoạn dạy học
- GV chia lớp học thành các nhóm nhỏ tùy thuộc theo sĩ số HS của lớp
thực nghiệm. HS sẽ làm việc theo nhóm để giải quyết và đưa ra câu trả lời cho
từng yêu cầu hay câu hỏi mà GV đưa ra sau những khoảng thời gian nhất định.
- GV sẽ chấm điểm hoạt động của từng nhóm theo các tiêu chí cụ thể
để lựa chọn ra nhóm nào hoạt động tốt nhất, và các cá nhân hoạt động tích cực
nhất.
Giai đoạn nêu và phát biểu vấn đề: GV cho từng nhóm HS làm thí nghiệm để làm
nảy sinh vấn đề, từ đó phát biểu vấn đề cần giải quyết.
Giai đoạn giải quyết vấn đề: GV đưa ra các câu hỏi gợi ý để giúp HS đưa ra được giả
thuyết phù hợp nhất và đề xuất phương án tiến hành kiểm chứng giả thuyết đó. Các
nhóm HS sẽ lần lượt trình bày ý kiến của nhóm. GV nhận xét để đưa ra phương án
4
đúng nhất sau đó cho từng nhóm HS làm thí nghiệm kiểm chứng. Từng nhóm HS làm
thí nghiệm, thu thập và xử lý số liệu thu được và báo cáo kết quả lại cho GV. GV nhận
xét kết quả làm việc của các nhóm.
Giai đoạn kết luận và vận dụng: GV rút ra kết luận chung và khẳng định lại kiến
thức mới mà HS cần ghi nhớ. GV đưa ra các câu hỏi thực tế để HS vận dụng kiến thức
vừa ghi nhận để giải thích.
III.Thiết kế tiến trình dạy học chương “Chất khí” - Vật lý 10 THPT theo
phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề
Tiến trình dạy học bài “Quá trình đẳng nhiệt. Định luật Bôi-lơ - Ma-ri-ốt”
theo phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề.
Hoạt động của GV
+ Thế nào là một khối
khí (lượng khí) xác
- Khối khí xác định là
định?
khối khí có khối lượng,
+ Làm sao để xác định
hay số phân tử khí là
được trạng thái của một
xác định, không đổi.
khối khí.
- Kết luận lại các thông
- Khối khí xác định có
số trạng thái của chất
thể tích, áp suất, nhiệt
khí bao gồm áp suất p,
độ xác định.
+ Khối khí đang khảo
- Nhiệt độ của khối khí
sát là khối khí nào?
trong bơm tiêm không
+ Trong khi làm thí
thay đổi. Khi nén khí
nghiệm thì thông số
trong bơm tiêm thì thấy
trạng thái nào của khối
thể tích khí giảm, cảm
khí không thay đổi,
giác nén bơm tiêm khó
thông số nào thay đổi
khăn, có thể là do áp suất
và thay đổi thế nào?
HS đề xuất giả thuyết.
p tỷ lệ nghịch với V:
+ p và V tỷ lệ nghịch
- HS thảo luận theo
p.V = const
với nhau, vậy có biểu
nhóm, trình bày giả
Phương án: Giữ nhiệt độ
thức toán học nào biểu
thuyết của
của một khối khí không
thị mối quan hệ này
nhóm.
đổi, thay đổi thể tích của
không?
phương án kiểm
- Dùng một xilanh chứa
giả thuyết
chứng giả thuyết,
một khối khí xác định,
+ Làm thế nào để có
và trình bày ý kiến
trong xi lanh có một pit-
một khối khí xác định?
của nhóm.
tông có thể di chuyển để
+ Làm thế nào để có
thay đổi thể tích và áp
thể thay đổi thể tích và
suất của khối khí. Có thể
khối khí khi biết tiết diện
được thể tích của khối
S của xilanh có thể đo
khí?
được V = hS . (xilanh
đồng tiết diện)
- Tiến hành thí nghiệm
+ Kéo pit-tông lên, dùng
+ Tiến hành thế nào?
nút cao su bịt lại để nhốt
Lưu ý: Kéo pit-tông từ
1 lượng khí xác định vào
từ để không làm thay
trong xilanh.
đổi nhiệt độ của khối - Các nhóm tiến hành
Đo p1 , h1
khí.
2
nhận xét sự tăng giảm
3
của V và p, tính pV
Giai đoạn kết luận và vận dụng: HS rút ra kết luận và GV khẳng định lại nội
dung kiến thức mới.
- GV khẳng định lại
sự đúng đắn của giả
- Ghi nhớ
thuyết và rút ra kết
luận cho HS: “Trong
quá trình biến đổi
trạng thái của một khối
8
khí xác định, khi
T = const thì p và V tỉ
lệ nghịch
với nhau
đựng nước nổ thì áp suất
tượng trong tự nhiên
nước nhanh chóng giảm
hay trong cuộc sống.
xuống.
+ Câu hỏi: Tại sao một
Khi bình đựng khí nổ,
chiếc bình đựng khí
thể tích khí tăng nhanh
nén khi nổ sẽ nguy
chóng, áp suất giảm nên
hiểm, còn một chiếc
các mảnh vỡ sẽ thu được
ống đựng nước dưới
vận tốc lớn và gây ra sức
xem): bỏ một quả bóng
trong quả bóng là không
bay nhỏ đã được bơm
đổi. Khi nén xilanh thì
không khí và cột chặt
thể tích khí trong xilanh
lại vào trong 1 xilanh;
(bên ngoài quả bóng
gắn
bay) giảm, áp suất tăng,
pit-tông
vào
xilanh. Trong khi nén
tác dụng lực lên quả
pit- tông lại dùng tay
cầu HS nhận xét về sự
suất giảm.
thay đổi của các thông
- Tương tự khi bỏ bình
số trạng thái của khối
kín vào nước nóng thì
khí trong bình.
thể tích bình không đổi,
(Có thể HS sẽ không
nhiệt độ khí tăng, áp
nhận ra sự thay đổi của
suất tăng.
áp suất, GV gợi ý cho
10
HS sử dụng kiến thức cũ
thì p tỷ lệ thuận với T
thức
P
= const
T
không co giãn (có thể là
kế phương án thí
bình thủy tinh) để chứa
- Ghi nhận
khí.
- Nhúng bình kín vào
không đổi?
-
P
= const
T
- Dùng một bình kín
GV hướng dẫn HS thiết
nhiệt độ khối khí?
bình nước khi có sự cân
bằng nhiệt giữa nước và
không khí trong bình
kín.
- Đo nhiệt độ, áp suất
- Dùng áp kế gắn vào
khối khí bằng cách nào?
bình.
- Tiến hành thí nghiệm
T
- Lắp đặt dụng cụ thế
+ Dùng tay kéo pit-tông
nào, tiến hành ra sao?
lên, sau đó dùng nút cao
su bịt lại để nhốt 1
lượng khí xác định vào
hảo luận theo nhóm
trong xilanh. Lúc này đo
được áp suất p1 , và
biểu thức
P
T
p/T
P
= const
T
12
Giai đoạn kết luận và vận dụng: GV kết luận lại nội dung kiến thức mới cho
HS và đưa ra các câu hỏi thực tế để HS vận dụng kiến thức vừa học để giải
thích.
- GV kết luận lại kiến
thức mới:
- Ghi nhận
“Trong quá
trình biến đổi trạng thái
của một lượng khí xác
định, khi thể tích không
đổi thì áp suất và nhiệt
độ ỷ lệ thuận với nhau,
- Trả lời câu hỏi 1: Khi
đặt bình gas ở nơi có
đặt bình gas ở nơi có nhiệt
nhiệt độ cao sẽ rất nguy
độ cao thì áp suất khí trong
hiểm?
bình gas tăng dễ gây nổ.
13
Tiến trình dạy học bài “Phương trình trạng thái của khí lý tưởng.
Quá trình đẳng áp” theo phương pháp dạy học nêu và giải
Hoạt động của GV
Hoạt động của GV
Câu trả lời mong đợi
GV phân biệt cho HS sự khác biệt giữa khí thực và khí lý tưởng
GV thông báo
Khí lý tưởng tuân theo - Ghi nhận
đúng các định luật về
chất khí.
mối quan hệ giữa các thông
hai trạng thái khác nhau?
số trạng thái của hai trạng
+ Trạng thái của một
thái bất kỳ.
14
lượng khí được biểu diễn
- Biểu diễn bằng 1 điểm.
như thế nào trên một hệ
- Có nhiều cách biến đổi
trục tọa độ.
trạng thái khác nhau.
+ Trạng thái 1 (p1,V1,T1)
- Cho khối khí biến đổi trạng
T2
những quá trình đã biết
được không?
từ (a) và (b)
- GV hướng dẫn cho HS
p1.V1 p2 .V2
=
T1
T2
biểu diễn các quá trình
biến đổi đó theo 2 cách để
Cách 2:
tìm ra biểu thức tổng quát.
1 → 2' :
+ Cách 1: Trạng thái 1 biến Một số nhóm thực
đổi đẳng nhiệt qua trạng hiện theo cách 1, các
p1 p2 '
p .T '
= ' p2 ' = 1 2 ( c )
T1 T2
- Phương án: giữ áp suất của
trạng thái 2.
khối khí không đổi, thay đổi
GV kết luận lại kết quả thu
nhiệt độ của khối khí và khảo
được về mối quan hệ giữa
sát sự thay đổi của thể tích
các thông số trạng thái
theo nhiệt độ.
theo 2 cách: trong quá
15
trình biến đổi trạng thái bất
kỳ thì
+ Dùng một xilanh kín, có
pit- tông có thể di chuyển
p1.V1 p2 .V2
Đây có phải là phương
+ Nhúng xilanh vào nước
Ghi nhận
lạnh hoặc nước nóng (nhiệt
trình của quá trình đẳng áp
độ của nước nóng và nước
không?
lạnh khác với nhiệt độ
- Kiểm chứng biểu thức
phòng). Pit-tông sẽ di chuyển
V
= const bằng cách nào?
T
để giữ cho áp suất
luôn cân bằng với áp suất khí
+ Làm thế nào để giữ áp
quyển (có thể gắn áp kế vào
Nhúng xilanh vào nước
nóng, pit-tông dịch chuyển,
16
+ Đo nhiệt độ của khối khi
p2=p1, đo được V2, T2.
bằng cách nào?
+ Nhúng xilanh vào nước
+ Đo thể tích của khối khí - Thảo luận nhóm và lạnh, pit-tông dịch chuyển,
bằng cách nào?
đưa ra ý kiến
p3=p 1,đo được V3, T3
+ Tiến hành thí nghiệm thế
+ Ghi số liệu vào bảng, nhận
nào?
xét
V
= const
T
- GV cho HS vận dụng để
giải thích một số câu hỏi,thí
nghiệm
Nhúng quả bóng bàn vào
+ Câu hỏi: Làm sao để quả
bòng bàn bị bẹp phồng lên
như cũ?
+ Thí nghiệm: lấy một vỏ
nước nóng. Nhiệt độ khí
Vận dụng kiến thức
trong bóng tăng, thể tích tăng
để giải thích
làm quả bóng phồng lên.
- Khi đun nóng khí trong lon
lon bia đem đun nóng, sau
bia bị nóng lên, úp nhanh lon
đó úp nhanh miệng lon bia
Kém
5
15
16
4
0
12,5 %
37,5 %
40 %
10 %
0,00 %
4
16
14
6
20
16
4
0
0
50 %
40 %
10 %
%
0,00 %
7
20
12
1
0
CHƯƠNG III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Đề tài đã nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp dạy học nêu và giải
quyết vấn đề và áp dụng phương pháp này vào việc xây dựng tiến trình dạy học
kiến thức chương “Chất khí” - Vật lý 10 THPT. Trong phạm vi giới hạn của đề
tài, sau khi tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm tôi đã thu được được một số
kết quả sau:
- Góp phần khẳng định khả năng vận dụng phương pháp dạy học nêu và giải
quyết vấn đề trong dạy học Vật lý ở trường THPT 19- 5 Kim Bôi.
- Thiết kế được tiến trình tổ chức dạy học một số kiến thức của chương “Chất
khí” Vật lý 10 THPT theo phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề.
- Tìm hiểu thực trạng việc dạy học Vật lý theo phương pháp nêu và giải quyết
vấn đề; những thuận lợi, khó khăn của phương pháp này thông qua một số giáo
viên dạy Vật lý ở một số trường phổ thông; những ý kiến đề xuất hướng khắc
phục những hạn chế của phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề.
- Thông qua những kết quả trên, tôi nhận thấy rằng sáng kiến đã góp phần phát
huy tính tích cực học tập và phát triển tư duy sáng tạo của học sinh của học sinh
trường THPT 19- 5 Kim Bôi.
- Do điều kiện thực nghiệm có nhiều hạn chế nên kết quả đạt được chưa cao.
Vì thế tôi đưa ra kiến nghị:
- Cần đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ GV theo những phương
pháp dạy học mới nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục của đất nước.
- Việc dạy học theo phương pháp nêu và giải quyết vấn đề cần được diễn ra liên
tục và thường xuyên để hình thành thói quen tự lực giải quyết vấn đề học tập
cũng như trong cuộc sống trong bản thân HS.
- Tăng cường và cải tiến các trang thiết bị, đồ dùng dạy học ở các trường THPT
nhằm đảm bảo chất lượng dạy và học.
TÁC GIẢ SÁNG KIẾN
Nguyễn Thị Kim Loan
20