BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ THỊ NHƯ NGUYỆN
HÌNH THÀNH PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG CHẤT KHÍ
VẬT LÍ 10 THPT VỚI SỰ HỖ TRỢ
CỦA MÁY VI TÍNH
Chuyên ngành: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. LÊ CÔNG TRIÊM
Huế, năm 2013
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực,
được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố
trong bất kì một công trình nào khác.
Tác giả
Lê Thị Như Nguyện
ii
Lời Cảm Ơn
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Đào
tạo Sau đại học, quý thầy cô giáo Khoa Vật lí trường Đại học Sư
phạm Huế và quý thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong
suốt quá trình học tập.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, quý thầy, cô
giáo Tổ Vật lí trường THCS & THPT HÀ TRUNG đã nhiệt tình
giúp đỡ, trao đổi và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá
9. Cấu trúc luận văn 9
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH 9
PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC CHO HỌC SINH VỚI SỰ HỖ TRỢ 9
CỦA MÁY VI TÍNH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 10
1.1. Khái niệm tự học 10
1.2. Phương pháp tự học 12
1.3. Năng lực tự học 13
1.4. Kĩ năng tự học 15
1.5. Các biện pháp hình thành phương pháp tự học cho học sinh 18
1.5.1. Xây dựng động cơ hứng thú học tập cho người học 18
1.5.2. Xây dựng kế hoạch tự học 19
1.5.3. Tăng cường làm việc với sách giáo khoa và tài liệu hướng dẫn tự học 19
1.5.4. Phối hợp các hình thức tổ chức dạy học một cách linh hoạt 20
1.5.5. Nghe giảng và ghi chép theo tinh thần tự học 20
1.5.6. Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực 21
1.5.7. Sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại 21
1.5.8. Kết hợp nhiều loại hình kiểm tra, đánh giá trong dạy học 22
1.6. Sự hỗ trợ của máy vi tính trong việc hình thành phương pháp tự học cho học sinh.22
1.6.1. Máy vi tính hỗ trợ việc tổ chức các hoạt động dạy học, hỗ trợ quá trình tự học giáp
mặt 22
1.6.2. Máy vi tính hỗ trợ việc hình thành kĩ năng thu thập dữ liệu 23
1.6.3. Máy vi tính hỗ trợ việc tổ chức tình huống có vấn đề, kích thích hứng thú tự học
cho học sinh 24
1.6.4. Máy vi tính hỗ trợ việc xây dựng sơ đồ tư duy, rèn luyện kĩ năng tóm tắt, ôn tập 25
1.7. Xây dựng tiến trình dạy học với sự hỗ trợ của máy vi tính 27
1.7.1. Lập sơ đồ tiến trình dạy học với sự hỗ trợ của máy vi tính 28
1.7.2. Xác định các phương tiện tổ chức dạy học cho học sinh với sự hỗ trợ của máy vi
tính 29
1.8. Kết luận chương 1 30
3.3.3. Kiểm định giả thuyết thống kê 69
3.4. Kết luận chương 3 70
KẾT LUẬN 70
1. Những kết quả đã đạt được 70
2. Một số kiến nghị 72
Để việc vận dụng kết quả nghiên cứu của đề tài vào thực tế giảng dạy ở trường THPT có
hiệu quả, chúng tôi có một số ý kiến đề xuất sau: 72
3. Hướng phát triển của luận văn 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐC : Đối chứng
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
MVT : Máy vi tính
PPDH : Phương pháp dạy học
PTDH : Phương tiện dạy học
TN : Thí nghiệm
TNg : Thực nghiệm
TNSP : Thực nghiệm sư phạm
THPT : Trung học phổ thông3
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ
Trang
Bảng 3.1. Bảng thống kê điểm số (Xi) của bài kiểm tra 66
Bảng 3.2. Bảng phân phối tần suất 66
Bảng 3.3. Bảng phân phối tần suất tích lũy 67
Bảng 3.4. Bảng phân loại theo học lực 68
và đào tạo đóng vai trò quan trọng bậc nhất thúc đẩy sự phát triển công nghệ thông
tin thông qua nguồn nhân lực cho công nghệ thông tin” [1].
Tự học là hoạt động tất yếu gắn liền với quá trình học tập, nhưng thái độ, kĩ
năng, phương pháp tự học của mỗi người là khác nhau. Vì vậy việc hình thành
phương pháp tự học cho HS là rất quan trọng và cần thiết. Tự học không những
giúp HS không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi còn ngồi trên
5
ghế nhà trường, mà còn trang bị cho HS năng lực, hứng thú, thói quen, có phương
pháp tự học thường xuyên và suốt đời. Qua đó giúp HS rèn luyện đức tính tự lập, ít
phụ thuộc vào người khác. Từ đó chất lượng học tập của học sinh sẽ được đánh giá
thực chất hơn.
Chính vì lẽ đó mà giáo dục không ngừng đổi mới, hiện đại hóa về mục tiêu,
nội dung và PPDH. Một xu hướng được nhiều nước quan tâm đó là MVT với tư
cách là một PTDH hiện đại sẽ được sử dụng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
của tất cả các môn. MVT ngày càng tỏ ra ưu việt ở những chỗ mà không một
phương tiện truyền thống nào trước đây có thể giải quyết được. Nhờ khả năng tương
tác cao, sự tích hợp của nhiều khả năng khác mà MVT có được những đặc trưng mới
về chất so với các PTDH trước đó. Xu thế dạy học với sự hỗ trợ của MVT là một
trong những biện pháp cơ bản để đổi mới PPDH, góp phần bồi dưỡng và hình thành
phương pháp tự học cho HS, nâng cao chất lượng dạy học.
Thực tế hiện nay đa số HS còn thụ động trong việc tiếp thu kiến thức, chưa
biết cách chủ động tự học, coi việc học là sự bắt buộc và giải quyết nó một cách đối phó.
Giải quyết các mâu thuẫn trên là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình đổi mới
giáo dục phổ thông hiện nay, trong đó cần chú trọng bồi dưỡng phương pháp học
tập cho HS mà cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu người học được bồi dưỡng, rèn
luyện phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học,
khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người, kết quả học tập sẽ được nâng lên và về lâu
dài sẽ trang bị cho họ phương pháp, năng lực học tập suốt đời [3].
Trong thời gian qua việc sử dụng MVT vào dạy học đã được áp dụng ngày
càng nhiều. Tuy nhiên vấn đề hình thành phương pháp tự học cho HS với sự hỗ trợ
phiếu học tập vào dạy học để bồi dưỡng năng lực tự học cho HS có các đề tài
“Nghiên cứu sử dụng thí nghiệm theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho học
sinh trong dạy học chương Điện tích – Điện trường và Dòng điện không đổi vật lí
11 nâng cao THPT” của Nguyễn Tương Thảo Uyên và “Bồi dưỡng năng lực tự học
cho học sinh qua phiếu học tập trong dạy học phần Quang hình học vật lí 11 nâng
cao THPT” của Hà Thế Nhân.
Bên cạnh đó có nhiều đề tài nghiên cứu về khả năng ứng dụng của MVT
trong dạy học vật lí như: “Nghiên cứu xây dựng và sử dụng phần mềm dạy học cho
7
chương trình động học và động lực học lớp 10 phổ thông trung học” của Phan Gia
Anh Vũ, đề tài đã nghiên cứu khai thác phần mềm Pakma trong các TN cũng như
trong các quá trình xây dựng mô hình về động học và động lực học; Vương Đình
Thắng với đề tài “Nghiên cứu sử dụng MVT với multimedia thông qua việc xây
dựng và khai thác website dạy học môn vật lí 6 ở trường trung học cơ sở”.
Những công trình trên cho thấy việc sử dụng các PTDH trong việc bồi dưỡng
năng lực tự học đã góp phần tăng tính tích cực, chủ động của HS trong quá trình
dạy học.
Tuy nhiên các đề tài chỉ tập trung nghiên cứu riêng rẽ, chưa có sự kết hợp
giữa việc hình thành phương pháp tự học và việc ứng dụng các PTDH nói chung và
MVT nói riêng. Vì vậy nghiên cứu việc hỗ trợ của MVT trong việc hình thành
phương pháp tự học cho HS là rất cần thiết.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất được một số biện pháp và xây dựng được tiến trình dạy học theo
hướng hình thành phương pháp tự học cho HS trong dạy học chương Chất khí Vật lí
10 THPT với sự hỗ trợ của MVT.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được một số biện pháp, tiến trình dạy học theo hướng hình
thành phương pháp tự học với sự hỗ trợ của MVT và vận dụng chúng vào dạy học
chương Chất khí thì sẽ phát huy tính tích cực, chủ động, say mê tìm tòi, học hỏi của
HS, từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học vật lí ở trường phổ thông.
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Chương 1. Cơ sở lí luận của việc hình thành phương pháp tự học cho
học sinh với sự hỗ trợ của máy vi tính trong dạy học vật lí
Chương 2. Hình thành phương pháp tự học cho học sinh trong dạy
học chương Chất khí vật lí 10 THPT với sự hỗ trợ của máy vi tính
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
KẾT LUẬN
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH
PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC CHO HỌC SINH VỚI SỰ HỖ TRỢ
9
CỦA MÁY VI TÍNH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ
1.1. Khái niệm tự học
Khái niệm về tự học (Selt Directed learning – SDL) bắt nguồn từ việc giáo
dục cho người trưởng thành, là một giải pháp thực hiện bởi học viên người lớn ở
tiểu học và trung học. Hiện nay, việc định nghĩa về tự học đã có nhiều thay đổi
nhưng tựu trung lại có một số quan điểm sau:
Theo Bolhuis và Garrison, tự học là sự tích hợp của việc tự quản lí với tự
kiểm soát của người học, đó là quá trình mà người học tự theo dõi, đánh giá và điều
chỉnh chiến lược nhận thức của mình. Người học là chủ thể trong sự hợp tác chặt
chẽ của GV và các bạn học cùng lớp [9].
Theo GS. Nguyễn Cảnh Toàn thì tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử
dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp cùng với các phẩm chất của mình, rồi
cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực
hiểu biết mới nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình [22].
Nguyễn Kỳ cho rằng tự học nghĩa là người học tích cực chủ động tự mình
tìm ra bằng hành động của mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, học bạn,
học thầy và học mọi người. Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí của
người tự nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra để nhận biết
hệ trọng nào và ai sợ tốn công sức thì không sao tìm ra sự thật được”.
- Tự học là nội lực của người học, đóng vai trò cốt lõi của hoạt động học
Như đã nói, kết quả của tự học bao giờ cũng là sự chiếm lĩnh kiến thức, biến
kiến thức chung của nhân loại thành kiến thức riêng của mình. Người biết tự học là
người có khả năng thu thập và xử lí thông tin, biết vận dụng thông tin và biết tự
kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của mình. Vì thế, người biết tự học là người có
khả năng tự giải quyết vấn đề tốt, có khả năng tự làm giàu kiến thức cho mình.
11
- Tự học góp phần rèn luyện kĩ năng, cách học
Khi tự học, các thao tác tư duy và thao tác chân tay được lặp đi lặp lại nhiều
lần góp phần hình thành kĩ năng, phương pháp học cho người học. Tự học là cốt lõi
của cách học. Bác Hồ đã từng nói: “Về cách học phải lấy tự học làm cốt”.
- Tự học có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tư duy
Khi tự học, người học phải sử dụng các thao tác tư duy để giải quyết vấn đề,
vì thế tư duy được rèn luyện một cách thường xuyên. Các nhiệm vụ đặt ra ngày
càng cao cùng với lượng kiến thức, kĩ năng, năng lực thu được ngày càng nhiều sẽ
góp phần nâng cao dần khả năng tư duy của HS.
- Tự học có vai trò to lớn trong sự sinh tồn của mỗi người
Ngày nay nguồn cung cấp thông tin rất đa dạng và phong phú, từ sách, mạng
internet, băng, đĩa CD nên nếu có kĩ năng tự học tốt thì sẽ tận dụng được nguồn
thông tin phong phú, đa dạng đó trong việc thu nhận kiến thức cho mỗi cá nhân.
Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, tự học có vai trò quan trọng hơn bao
giờ hết, tự học là điều kiện quyết định sự thành công của mỗi người. Một triết gia đã
từng nói: “Anh đang tư duy nghĩa là anh đang tồn tại”. Vì thế con người muốn tồn
tại đúng nghĩa thì phải tự học, tự học là tự cứu lấy mình.
1.2. Phương pháp tự học
Để hoạt động tự học đạt hiệu quả cao, người học phải có phương pháp tự học.
Tự học không có nghĩa là chỉ là việc học ở nhà, việc tự học có phương pháp
phải bắt đầu từ trên lớp học. Không thể tách rời việc học ở lớp với việc học ở nhà.
Trên lớp học, phải biết chú ý lắng nghe lời thầy giảng, tập trung tư tưởng theo dõi
thức, hướng dẫn phương pháp học tập, hướng dẫn tra cứu, hướng dẫn thí nghiệm.
Dưới sự hướng dẫn từ xa ấy, người học tự mình tiến hành các hành động học tập để
hoàn thành các nhiệm vụ học tập. Hiện nay hình thức tự học này rất được khuyến
khích nhưng chất lượng của nó là vấn đề cần quan tâm.
+ Tự học có sự hướng dẫn trên lớp của thầy: HS nhận nhiệm vụ và tự học ở
nhà để tự mình hoàn thành các nhiệm vụ học tập. Có thể gọi hình thức này là tự học
có hướng dẫn hay tự học sau giờ lên lớp.
1.3. Năng lực tự học
Năng lực là khả năng đảm nhận công việc và thực hiện tốt, nhờ có phẩm chất
đạo đức và trình độ chuyên môn [31]. Năng lực của người hoàn toàn không phải do
tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do luyện tập mà có [9].
13
Theo PGS.TS Lê Công Triêm thì năng lực tự học là khả năng tự mình tìm
tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất
lượng cao. Năng lực tự học của người học bao gồm các nhóm sau [9], [23]:
- Nhóm năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề
Năng lực này đòi hỏi người học phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so
sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ
sở những lí luận và hiểu biết đã có của mình; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn
xung đột, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung, các bế tắc, nghịch lí
cần phải khơi thông, khám phá, làm sáng rõ
- Nhóm năng lực giải quyết vấn đề
Bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập
kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, tiếp nhận và xử lí thông tin; đề
xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận. Kĩ thuật giải quyết vấn đề vừa là công cụ
nhận thức đồng thời là mục tiêu của việc dạy cho người học phương pháp tự học.
- Nhóm năng lực xác định những kết luận đúng (kiến thức, cách thức, con
đường, giải pháp, biện pháp ) từ quá trình giải quyết vấn đề
Đây là một năng lực quan trọng cần cho người học đạt đến những kết luận
đúng của quá trình giải quyết vấn đề, hay nói cách khác, các tri thức cần lĩnh hội
- Kĩ năng xây dựng kế hoạch tự học
Việc xây dựng kế hoạch tự học bao gồm việc lên danh mục các nội dung cần
tự học, khối lượng và yêu cầu cần đạt, các hoạt động cần phải tiến hành, sản phẩm
cụ thể cần phải được tạo ra, thời gian dành cho mỗi nội dung và hoạt động. Kế
hoạch tự học phải đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và tính khả thi. Xây dựng
được bản kế hoạch tự học hợp lí là kĩ năng quan trọng đầu tiên đối với mỗi người
học. Trong bản kế hoạch cũng cần phải dự kiến các phương án phụ, hướng khắc
phục các trở ngại đột xuất
- Kĩ năng lựa chọn tài liệu
Hiện nay lượng thông tin rất đa dạng và phong phú cả về thể loại và chủng
loại và được thể hiện dưới nhiều dạng như viết, nghe – nhìn, internet , tài liệu
15
trong nước, tài liệu nước ngoài. Để tự học có hiệu quả, người học cần phải rèn
luyện cho mình kĩ năng lựa chọn các tài liệu thích hợp sao cho đúng, đủ, hợp lí để
nâng cao chất lượng tự học, tự nghiên cứu của bản thân mình.
Kĩ năng lựa chọn tài liệu còn được thể hiện trong việc trực tiếp dự giờ, hội
thảo khoa học, xê-mi-na, đi thực tế, lấy ý kiến chuyên gia, tiến hành thí nghiệm
Để lựa chọn các loại tài liệu dạng này thì người học phải có kĩ năng phân tích,
tổng hợp, khái quát hóa để rút ra các thông tin cần thiết cho bản thân. Đồng thời
những suy nghĩ của bản thân người học lại chịu tác động trực tiếp của các ý kiến
khách quan, đòi hỏi người học không những có kĩ năng chọn lọc, nắm bắt nhanh
nhạy thông tin mà còn phải biết so sánh, đối chiếu, tự đánh giá thông tin mình lựa
chọn được.
- Kĩ năng lựa chọn hình thức tự học
Không phải lúc nào việc tự học cũng được thực hiện một cách dễ dàng, thuận
lợi. Những khó khăn, vấp phải trong tự học đòi hỏi người học cần phải có sự hỗ trợ
của bạn bè, thầy cô hoặc các chương trình trên ti-vi, máy tính Vì thế kĩ năng lựa
chọn hình thức tự học cũng rất cần thiết, nó giúp người học “gỡ rối” những vấn đề mà
tự mình có thể không vượt qua được. Do đó cần phải đề cao và sử dụng linh hoạt kĩ
năng này một cách có hiệu quả trong quá trình tự học của bản thân người học.
đối tượng có nhu cầu sẽ có tác dụng tích cực đối với việc nắm tri thức của bản thân.
Có thể nói mỗi lần trao đổi, phổ biến những kiến thức mà mình có được là mỗi lần
người học rèn luyện thêm kĩ năng truyền đạt (nói) và kĩ năng viết văn bản khoa học,
bởi vì việc trao đổi, phổ biến thông tin có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức
khác nhau như trò chuyện, tuyên truyền, báo cáo, truyền hình, phát thanh, mạng
internet Do vậy, việc rèn luyện kĩ năng trao đổi và phổ biến thông tin liên quan
đến việc rèn luyện các kĩ năng trình bày thông tin khoa học.
- Kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá
Tự kiểm tra, đánh giá là một kĩ năng quan trọng trong tự học bởi vì chỉ khi
qua tự kiểm tra, đánh giá thì người học mới biết được trình độ tự học của mình đạt
đến mức độ nào và có biện pháp điều chỉnh phương pháp tự học thích hợp để đạt
hiệu quả cao hơn. Việc kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên trong quá trình
tự học bằng nhiều hình thức khác nhau qua hệ thống các câu hỏi và bài tập nhận
17
thức cụ thể. Kĩ năng này đòi hỏi người học phải tự giác cao độ và phải biết xây
dựng các tiêu chí và chọn công cụ kiểm tra, đánh giá phù hợp. Đối với HS thì trong
quá trình dạy học, GV cần lưu ý tổ chức cho HS các việc làm cụ thể này theo những
kế hoạch thích hợp nhằm rèn luyện cho các em cách xây dựng tiêu chí, lựa chọn
phương pháp, công cụ và hình thức kiểm tra để tự mình đánh giá được mình một
cách khách quan, khoa học từ đó kịp thời điểu chỉnh, uốn nắn để việc tự học của
bản thân ngày càng hiệu quả.
1.5. Các biện pháp hình thành phương pháp tự học cho học sinh
Để đạt kết quả cao trong học tập, người học cần phải có phương pháp học,
phương pháp học chính là phương pháp tự học. Trong quá trình dạy học, GV cần
lưu ý đến việc hình thành phương pháp tự học, rèn luyện các kĩ năng tự học cho HS.
Để hình thành phương pháp tự học cho HS, nâng cao chất lượng của hoạt động tự
học, GV cần sử dụng các biện pháp sau [19], [30]:
1.5.1. Xây dựng động cơ hứng thú học tập cho người học
Xây dựng động cơ học tập cho HS là một trong những vấn đề quan trọng
nhất của việc bồi dưỡng tinh thần tự học, vì sự tự giác học tập phải bắt nguồn từ bên
thường ít chú ý nên có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả tự học.
Sau khi đã xác định được trọng tâm, phải sắp xếp công việc cho hợp lý về
lôgic nội dung cũng như về thời gian. Thông qua việc lập kế hoạch sẽ phân chia sử
dụng thời gian cho từng công việc sao cho khoa học hợp lý, giúp HS làm chủ được
quỹ thời gian và không quên các việc sẽ phải làm, không bị động trước rất nhiều các
tư liệu cần phải đọc và các công việc phải hoàn thành đúng hạn. Điều đó sẽ giúp
cho công việc được trôi chảy và tiết kiệm thời gian. Do đó, ngay từ hôm nay, GV
cần hướng dẫn HS hình thành và phát triển một kĩ năng học tập có hiệu quả.
1.5.3. Tăng cường làm việc với sách giáo khoa và tài liệu hướng dẫn tự học
Đọc sách có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của hoạt động tự
học. Đọc sách được coi như là một bộ phận của quá trình học tập, nó luôn gắn liền
với hoạt động dạy của GV. Kĩ năng đọc sách giúp cho HS nắm vững, hệ thống tri
thức, mở rộng, đào sâu kiến thức, làm tăng thêm sự hiểu biết của bản thân. Đọc sách
còn giúp cho HS có thể phát triển nhận thức, phát triển trí tuệ, phát triển và trau dồi
vốn ngôn ngữ…
Khi đọc sách cần chú ý rút ra những tư tưởng chính trong mỗi đoạn, so sánh,
phân loại, hệ thống hoá, khái quát hoá chung đề xuất cái mới và nêu câu hỏi. Điều này
rất quan trọng vì sự sáng tạo thường nảy sinh ra ngay lúc đọc sách. Cần giáo dục các em
tinh thần đọc sách sáng tạo mà không chỉ dừng lại ở đọc sách tái hiện và cảm thụ.
19
Tóm tắt khi đọc sách là hết sức cần thiết, có thể tóm tắt dưới nhiều dạng: làm
dàn bài, làm sơ đồ, bảng tổng kết, viết tóm tắt… tóm tắt ngắn gọn một công trình
lớn là một công việc khó khăn. Nó khác dàn bài ở chỗ, đó là một bài văn tuy ngắn
gọn nhưng bao gồm những tư tưởng chính gắn kết với nhau một cách mạch lạc,
chính xác, rõ ràng, liên tục và có hệ thống.
Để đọc sách đạt hiệu quả, GV cần hình thành cho HS một số kĩ năng đọc sau:
- Sử dụng một cây bút chì để dẫn đường khi đọc
- Tìm hiểu những ý chính và đánh dấu các từ khoá
- Mở rộng tầm mắt để đọc được khoảng 5 - 6 từ một lúc
- Đọc phần tóm tắt chương ở cuối mỗi chương trong sách giáo khoa trước để
- Khi gặp chỗ khó, không hiểu hãy tạm thời gác lại và sẽ cố gắng tìm hiểu
những điều đó trong các phần sau, để quá trình nghe giảng không bị gián đoạn.
- Khi bài giảng dừng lại, có thể nêu câu hỏi để đào sâu kiến thức và làm rõ
những chỗ chưa hiểu.
1.5.6. Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp tích cực để chỉ những PPDH phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của người học. Phương pháp tích cực hướng tới việc hoạt động hoá, tích cực
hoá hoạt động nhận thức của người học nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực
của người học chứ không tập trung vào người dạy. PPDH tích cực có những đặc
trưng sau:
- Dạy học tăng cường phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo thông qua tổ
chức thực hiện các hoạt động học tập của HS. Dạy học lấy HS làm trung tâm, trong
phương pháp tổ chức, người học được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ
chức và chỉ đạo, qua đó HS tự khám phá những điều mình chưa rõ.
- Dạy học phát huy năng lực tự học của HS. Nếu rèn luyện cho HS có được
phương pháp kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho HS lòng ham học, khơi dậy
tiềm năng vốn có trong mỗi con người làm kết quả học tập được nhân lên gấp bội.
Để có thể phát huy tính tích cực của HS, khi lên lớp GV cần hạn chế sử dụng
một phương pháp mà cần phải tăng cường sử dụng phối hợp nhiều nhóm phương
pháp như phương pháp thuyết trình, phương pháp trực quan, phương pháp thực tiễn.
1.5.7. Sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại
GV cần tăng cường sử dụng các PTDH hiện đại nhằm hỗ trợ cho việc nâng
cao chất lượng học tập của HS. Mặt khác việc sử dụng MVT, các phần mềm dạy
học, phương tiện trình chiếu sẽ tăng kênh hình và kênh tiếng trong các hoạt động học
tập của HS. Nhờ có các phương tiện hỗ trợ này, GV có thể trực quan hoá các hiện
tượng, quá trình giúp HS dễ dàng nhận ra bản chất của vấn đề. Đặc biệt, những vấn
21
đề trừu tượng như chuyển động tên lửa, hiện tượng va chạm, súng giật lùi, sự lan
truyền của sóng cơ học, sự truyền nhiệt… nếu có sự hỗ trợ của các PTDH hiện đại
(MVT, phần mềm mô phỏng…) để cho HS quan sát thì hiệu quả của giờ học rất cao.