chuyên đề hsg rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí - Pdf 68

PHÒNG GIÁO DUC VÀ ĐÀO TẠO TAM DƯƠNG
Trêng thCS VÂN HỘI
-----***-----


CHUYÊN ĐỀ HSG THCS
MÔN: NGỮ VĂN
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ
MỘT VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG ĐẠO LÍ

Giáo viên: Phạm Thị Thơm
Tổ:
Ngữ Văn

Năm học 2014- 2015


A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Định hướng chung, cái đích của đổi mới phương pháp dạy học
hiện nay là phát huy được tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh
trong quá trình lĩnh hội kiến thức, rèn luyện toàn diện về tư duy, tình
cảm, tâm hồn. Điều này đồng nghĩa với việc học sinh phải được coi là
ngọn lửa cần thắp sáng chứ không phải là cái bình chứa kiến thức.
Những năm gần đây, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phát
triển toàn diện cho học sinh về kiến thức cũng như kĩ năng, đề thi môn
văn có rât nhiều đổi mới. Đề bài thường có 2 phần: Nghị luận văn học
và nghị luận xã hội. Đây là khó khăn cho học sinh vì nghị luận xã hội
đòi hỏi lối viết sắc sảo, tư duy xã hội sâu rộng, thiên về lý trí còn nghị
luận văn học đòi hỏi vốn văn học chắc chắn, lối viết thiên về cảm xúc.
Học sinh sẽ phải tự dung hòa hai cách viết, hai lối tư duy khác nhau
trong cùng một bài viết.

I. NHẬN DIỆN ĐẶC ĐIỂM KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI –
NGHỊ LUÂN VỀ TƯ TƯỞNG ĐẠO LÍ.
1. Khái niệm.


Nghị luận : nghị (xem xét, trao đổi; luận: bàn bạc, đánh giá)
dùng lý lẽ, dẫn chứng và cách thức lập luận để phân tích, bàn luận,
đánh giá về một (các) vấn đề nào đó.
Xã hội : các vấn đề của đời sống con người (triết học, lịch sử,
kinh tế, đạo đức, văn học nghệ thuật, lối sống, cách ứng xử…).
Nghị luận xã hội là những bài văn nghị luận bàn về các vấn đề
xã hội (thực trạng xã hội, các hiện tượng đời sống, vấn đề về lối sống
của con người, các mối quan hệ của con người trong xã hội…) nhằm
thể hiện suy nghĩ, thái độ, tiếng nói chủ quan của người viết về vấn đề
đặt ra, góp phần tạo những tác động tích cực tới con người, bồi đắp
những giá trị nhân văn và thúc đẩy sự tiến bộ chung của xã hội.
Nghị luận xã hội gồm ba dạng đề cơ bản: Nghị luận về một tư tưởng
đạo lí; nghị luận về một hiện tượng đời sống; nghị luận về một vấn đề
xã hội đặt ra trong một tác phẩm văn học.
2.Tìm hiểu chung về nghị luận về tư tưởng đạo lí
a. Khái niệm:
Nhị luận về tư tưởng đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư
tưởng ,đạo đức , lối sống… của con người .
- Yêu cầu về nội dung của bài nghị luận phải làm sáng tỏ các vấn

đề ,tư tưởng, đạo lí bằng cách: Giải thích , chứng minh, so sánh,
đối chiếu ,phân tich…để chỉ ra chỗ đúng ( hay chỗ sai ) của một
tư tưởng nào đó, nhằm khẳng định tư tưởng của người viết .
Dạng đề nghị luận về một tư tưởng, đạo lí thường nhân
một câu danh ngôn, một nhận định, đánh giá nào đó để yêu cầu người

và đạo lí.
* Đảm bảo kĩ năng nghị luận:
- Tập trung hướng tới luận đề để bài viết không tản mạn.
- Có ý thức triển khai thành các luận điểm chặt chẽ.
- Dẫn chứng xác đáng, tiêu biểu.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục.
- Ngôn ngữ : trong sáng, có màu sắc luận lí vừa có sắc thái
mĩ cảm.
* Đảm bảo mục đích, tư tưởng đúng đắn: Phải xuất phát từ một lập
trường tư tưởng đúng đắn, tiến bộ, cao đẹp, vì con người, vì sự tiến bộ
chung của toàn xã hội hoặc từ các nguyên tắc đạo lý làm người… để
bàn bạc, phân tích, khen chê, đề xuất ý kiến.
II. KĨ NĂNG LÀM KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI – NGHỊ
LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG ĐẠO LÍ ĐÚNG, HAY VÀ GIÀU
CHẤT VĂN.
1. Những kinh nghiệm cần có để viết được bài văn nghị luận xã
hội đúng, hay và giàu chất văn.
- Người viết cần xác định được yêu cầu của đề, nắm bắt tinh
thần của đề bài. Phải xác định trúng, nắm bắt chính xác yêu cầu của
đề bài thì người viết mới có thể có được định hướng suy nghĩ đúng
đắn, khoanh vùng kiến thức, phạm vi dẫn chứng để biện giải vấn đề.
- Để bài viết có những tác động tích cực tới nhận thức và tình
cảm con người, người viết cần xác định cho mình lập trường và thái
độ đúng đắn trên cơ sở những hiểu biết về chuẩn mực đạo đức cũng


như các chuẩn đánh giá chung của xã hội. Có vậy sự biện luận mới
đúng, sắc và thuyết phục người đọc.
- Tuy nhiên, người viết phải thể hiện được cái nhìn, đánh giá của
riêng mình về cuộc đời, con người, về mục đích, lối sống… Những

chuyển, mượt mà… và viết văn có hình ảnh để nâng cao chất văn cho bài
viết.
+ Sau bước giải thích từ ngữ quan trọng, nên lấy từ 2 – 3 ví dụ
cụ thể hoá khái niệm (nghĩa của từ ngữ quan trọng). Trên thực tế,
bước này đã khơi dậy được không chỉ tâm hồn, cảm xúc mà còn cả lối
hành văn rất hình ảnh. Có thể lấy ví dụ cụ thể hoá nghĩa của từ hưởng
thụ: Buổi sáng thức giấc, bạn bật tung cửa sổ để đón nhận khí trời và
nắng mai. Đó là hưởng thụ, bạn đang hưởng thụ từ Mẹ Trái Đất. Hay
lấy hình ảnh gà mái và con suối nhỏ trong cuốn Đaghextan của tôi –
Raxun Gamzatốp làm ví dụ cụ thể hoá cho việc con người ta không tự
biết mình là ai: gà mái mơ thấy mình là chim ưng, nó bay khỏi vách
đá và ngã gãy cánh. Con suối nhỏ mơ thấy mình là dòng sông lớn, nó
tràn vào bãi cát và lập tức bị hút khô...; hoặc so sánh người lạc quan
với kẻ bi quan: nếu người lạc quan nói sẽ có ánh sáng ở cuối đường
hầm thì kẻ bi quan bảo sẽ có con tàu đâm vào chúng ta mất....
+ Trong việc sử dụng phối hợp, linh hoạt giữa các kiểu câu,
khuyến khích học sinh viết một số câu ghép, câu dài với nhiều vế tạo
sự trùng điệp, câu mở rộng thành phần, câu chứa các cặp từ quan hệ


để tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa các vế. (Không những … mà còn;
Càng… càng; Bởi thế…cho nên, Tuy … nhưng). Đây là những kiểu
câu giàu màu sắc nghị luận, rất phù hợp với phong cách ngôn ngữ
của văn bản nghị luận. Kiểu câu này không chỉ đem lại cảm giác cân
đối, mạch lạc, mà nó cũng nói nên rằng người viết thực sự có trường
độ tư duy (biết nhìn vấn đề ở nhiều mức, nhiều cấp, nhiều mặt ngay
trong một đơn vị rất ngắn là câu….)
+ Nên viết các kiểu câu có nội dung hai hoặc ba vế vừa phát
triển vừa như đối nghịch nhau để gây ấn tượng (Tạm gọi đó là
những câu chứa nghịch lí). Ví dụ “Cuộc sống hiện đại của chúng ta


đang yêu chờ đợi để được gặp nhau
- Muốn biết giá trị thật sự của một phút, hãy hỏi người vừa

nhỡ chuyến tàu
- Muốn biết giá trị thật sự của một giây, hãy hỏi người vừa

thoát khỏi tai nạn hiểm nghèo
- Muốn biết giá trị thật sự của một phần trăm giây, hãy hỏi

người vừa đoạt huy chương bạc Olympics
- …..
- Một giây là thời gian, mà thời gian là vòng xoáy bất tận,

một giây của hôm nay không như một giây của hôm qua và
càng không giống một giây của ngày mai. Hãy sống để
không bao giờ hối tiếc dù chỉ một giây ngắn ngủi. Có thể
chỉ một giây sẽ thay đổi cuộc đời con người …


Cách diễn đạt này vừa xoáy sâu được ý muốn làm nổi bật, vừa
thể hiện được kiến thức phong phú của người viết, tạo ra được nét
đặc biệt trong một đoạn văn bản. Vừa nghị luận một cách tập trung
vừa tạo ra điểm mới trong diễn đạt, khiến người đọc không thể bỏ
qua.
+ Cách diễn đạt trong văn nghị luận không cần phải “vang
nhạc, sáng hình” như trong thơ. Nhưng nếu học sinh biết đặt những
câu văn có hình ảnh, có nhịp điệu một cách hợp lí đôi khi lại có hiệu
quả lớn. Một điều thường thấy trong văn nghị luận, nhất là nghị luận
xã hội chính là: để tạo cách diễn đạt hình ảnh, người ta thường hay


* Một số “mẹo” kết bài hay :
- Kết bài theo hình thức nêu câu hỏi đặt ra cho mọi người cùng

suy nghĩ. Hoặc viết lời nhắn gửi mong muốn mọi người cùng
nghĩ và làm theo.
- Kết bài bằng danh ngôn, hoặc câu nói có tính triết lí.

3. Cách làm bài văn nghị luận về một tư tưởng đạo lí
Về hình thức bài viết có bố cục ba phần
a. Mở bài :

-Giới thiệu về tư tưởng ,đạo lí cần bàn luận.
b. Thân bài :
- Giải thích , chứng minh vấn đề tư tưởng , đạo lí .
- Nhận định ,đánh giá vấn đề tư tưởng , đạo lí đó trong bối cảnh

của cuộc sống riêng , chung.


- Kết bài:

Kết luận ,tổng kết,nêu nhận thức mới ,tỏ ý khuyên bảo ,hoặc tỏ
ý hành động.
Ghi nhớ: Muốn làm tốt bài văn nghị luận về một tư tưởng đạo
lí , ngoài các yêu cầu chung đối với một bài văn , cần chú ý vận
dụng các phép lập luận giải thích ,chứng minh, phân tích , tổng
hợp .
- 3. Cách triển khai phần thân bài đối với kiểu bài nghị luận


Đề: Đại văn hào người Nga M.Goorki từng tâm niệm: Nơi lạnh
nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi không có tình thương.
Suy nghĩ của anh (chị) về nhận định trên. (Đề HSG lớp 9 – năm
2012-2013)
1. Giải thích
- Bắc Cực nằm ở cực Bắc của trái đất, quanh năm băng tuyết
bao phủ. Sự sống ở nơi đây thật khó khăn, khắc nghiệt. Cái lạnh nơi
Bắc Cực là sự giá lạnh của thời tiết, của thiên nhiên do vị trí địa lí gây
ra. Cái lạnh ở Bắc Cực không ngăn cản được sự sống của sự vật và
niềm say mê khám phá những vùng đất lạ của con người.
- Tình thương là tình cảm yêu thương, sự chia ngọt, sẻ bùi tự
nguyện giữa con người với con người trong cuộc sống. Nơi thiếu tình
thương là nơi giữa con người và con người không tồn tại tình người,


không có sự cảm thông, thấu hiểu và chia sẻ. Cái lạnh ở nơi không có
tình thương là cái lạnh trong lòng người, là sự băng giá của trái tim.
- Nhà văn Nga so sánh cái lạnh của đất trời với cái lạnh của lòng
người. Bắc Cực là nơi lạnh giá của đất trời, nhưng con người sống
thiếu tình thương thì còn lạnh hơn ở Bắc Cực. Cách so sánh giàu ý
nghĩa biểu cảm cho chúng ta thấy được tầm quan trọng và ý nghĩa của
tình thương trong cuộc sống.
2. Luận bàn về câu nói
- Đây là một nhận định hoàn toàn đúng đắn.
- Tình thương chính là sự đồng cảm, sẻ chia với mọi nỗi khổ
đau, bất hạnh của con người. Nhờ có tình thương, con người biết quan
tâm, giúp đỡ người khác, nhờ có tình thương con người sống gần gũi
với nhau hơn. Tình thương sẽ cứu chuộc thế giới. ( First new )…
( Dẫn chứng minh họa).
- Nếu không có tình thương, con người sẽ trở nên lạnh lùng, thờ

- Chủ đề 6 : Lí tưởng và lối sống
- Chủ đề 7 : Tiền bạc và hạnh phúc
- Chủ đề 8 : Nghề nghiệp và con người
- Chủ đề 9 : Ước mơ và thực tế
- Chủ để 10 : Cá nhân và tập thể
2. Phương pháp ôn luyện.
- Thường xuyên tập viết các bài nghị luận xã hội.


- Học tập cách viết văn nghị luận xã hội của các cây bút lớn như
Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Tố Hữu, Nguyễn
Đình Thi, Hữu Thọ.
- Tham khảo bài viết của các bạn học sinh giỏi, nhất là những bạn
đạt giải quốc gia.
- Tìm đọc và sưu tầm các bài nghị luận xã hội trên sách báo.
- Thường xuyên cập nhật và ghi chép vào sổ tay các thông tin về
những vấn đề nghị luận.
- Ghi lại những câu danh ngôn hay và học thuộc.
3. Góp ý về cách chọn đề luyện tập
- Đề mẫu hoặc đề luyện phải có tính vấn đề, gây được không khí tranh
luận. VD :
+ Học ở trường và học trong cuộc sống, cách học nào
quan trọng hơn ?
+ Sành điệu có phải là hư hỏng ?
+ Game online tốn thời gian và vô bổ, bạn nghĩ sao ?
+ Phải chăng người Việt trẻ hiện nay không có lòng yêu
nước ?
+ Chỉ có tiền tài và địa vị mới có hạnh phúc ?
- Đề mẫu hoặc đề luyện phải có tính thời sự, thậm chí cập nhật trong
những khoảng thời gian gần nhất. VD :

toàn như vậy. – Vậy đấy, - Sô-cơ-rat quay sang người khách và nói :
“………”.
Theo anh/chị, Sô-cơ-rat sẽ nói tiếp với người khách như thế
nào ? Hãy bình luận về bài học từ câu chuyện trên.
- Cần đưa các vấn đề NLXH vào những tình huống của đời sống
để các em thấy nếu thiếu hiểu biết và kĩ năng nghị luận trong những
trường hợp như thế thì sẽ thiệt thòi, kém cỏi, mất thể diện hay bị chê
cười thế nào. Vd :
+ Sau khi học tập căng thẳng, em xin bố mẹ đi chơi game
trong giây lát nhưng bố mẹ không cho vì nghĩ rằng Game online tốn
thời gian và vô bổ, lúc đó nếu không có khả năng “nghị luận” về vấn
đề này thì mãi mãi không bao giờ có cơ hội được chơi game.
+ Hay khi ăn mặc sành điệu, em bị người nhà và người
khác cho là hư hỏng trong khi bạn không hư hỏng. Lúc đó nếu không
“nghị luận” cho họ hiểu thì bạn sẽ luôn mang tiếng là không ngoan.
- Nên ứng dụng CNTT trong một số trường hợp để thu hút sự chú ý,
kích thích hứng thú của HS. Chẳng hạn : Cung cấp thêm tư liệu ảnh,
các video clip để HS hình dung rõ hơn về vấn đề nghị luận (VD : tai
nạn giao thông, ô nhiễm môi trường, lòng nhân ái…). Hoặc sử dụng
chính những hình ảnh, băng hình, clip trên Web, Facebook, Youtube
để minh họa hay làm đề bài.
4. Hệ thống đề và đáp án gợi ý ôn luyện các dạng bài nghị luận xã
về một tư tưởng đạo lí thường gặp.


Đề 1: R.Ta-go, nhà thơ Ấn Độ cho rằng: Thà làm một bông hoa
sen nở khi thấy mặt trời rồi mất hết tinh nhụy, còn hơn giữ nguyên
hình nụ búp trong sương lạnh vĩnh cửu của mùa đông.
Suy nghĩ của anh (chị) về nhận định trên.
1. Giải thích ý nghĩa của lời nhận định

sáng, được khẳng định, lưu lại dấu chân trên con đường đã đi và tận
hưởng những điều tuyệt diệu mà cuộc sống mang lại. Đó cũng chính
là cách khiến cuộc sống của ta thêm ý nghĩa và trở nên có ích. Đó mới
là cuộc sống đích thực của con người.
b. Tại sao không nên chọn cách sống như “nụ búp”?
- Nếu ta không dám đối mặt trước những khó khăn, thử thách
của cuộc sống vì ta sợ sai lầm, sợ sẽ thất bại, sợ bị cười chê… để rồi
mãi mãi ta sống trong vỏ bọc hèn nhát của mình. Đó là lối sống mòn,
sống thừa, sống vô ích mà không được ai biết đến. Một “cuộc sống
đang mòn ra, đang rỉ đi, đang nổi váng.”
- Cuộc sống không mục tiêu, ước mơ, hoài bão thật vô vị. Sống
như thế thực chất chỉ là tồn sự tại mà thôi, là chết ngay cả khi đang
sống.
c. Nâng cao
- Liệu có phải lúc nào ta cũng sống hết mình? Nếu cứ hết mình
như thế sẽ có lúc ta kiệt sức. Vậy ta cần phải biết lượng sức mình,


không phải lúc nào cũng nên lao về phía trước. Để đối mặt với mọi
thử thách trên đường đời trước tiên ta phải trân trọng chính bản thân
ta. Đừng nôn nóng theo đuổi mục đích mà quên mất bản thân mình.
- Có những phút giây ta nên thu mình lại khi đã cảm thấy mỏi
mệt. Khi ấy không phải ta đang hèn nhát, chỉ là ta đang tìm kiếm chút
bình yên cho tâm hồn, tìm được lại ý chí, lòng quyết tâm để tiếp tục
tiến lên phía trước.
3. Bài học nhận thức và hành động
- Phê phán lối sống yếu mền, thụ động, chỉ biết ngồi chờ vận
may và sự thuận lợi.
- Cuộc sống của mỗi người được quyết định bởi sự tự nhận thức,
bản lĩnh và nghị lực vươn lên không ngừng. Cuộc sống quá ngắn

là bài học quý cho thành công tiếp theo (dẫn chứng chứng minh). (1,5
điểm).
=> Hai ý kiến không hề đối lập mà chỉ là những cách thức khác
nhau để giúp chúng ta đạt được thành công trong cuộc sống (0,5
điểm).
3. Liên hệ bản thân và rút ra bài học: (2,0 điểm)
- Liên hệ bản thân: những trải nghiệm của chính bản thân (1,0
điểm).


- Rút ra bài học: Trong cuộc sống ta phải linh hoạt, mềm dẻo: có
lúc ta nên học tập, kế thừa người đi trước, nhưng có lúc cần sáng tạo,
dũng cảm mạo hiểm. Nếu thế sẽ biến ước mơ thành hiện thực. Tuy
nhiên, cẩn trọng nhưng không ỉ lại, lười suy nghĩ; sáng tạo, mạo hiểm,
dũng cảm không có nghĩa là liều lĩnh (1,0 điểm).
Đề 3: Suy nghĩ của anh (chị) về ý nghĩa của bài thơ sau:
Ví không có cảnh đông tàn
Thì không có cảnh huy hoàng ngày xuân
Nghĩ mình trong bước gian truân
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.
(Tự khuyên mình – Nhật kí trong tù – Hồ Chí
Minh)
1. Giải thích ý nghĩa của bài thơ.
- Bài thơ đề cập đến hiện tượng tự nhiên: Nếu không có cảnh mùa
đông tàn thì cũng không có được cảnh huy hoàng của mùa xuân.
Đông qua rồi mới đến xuân, đó là qui luật tất yếu của tự nhiên.
- Từ qui luật tự nhiên, bài thơ liên tưởng đến con người: Trong khó
khăn gian khổ, nếu con người chịu đựng được, vượt qua được những
khó khăn thử thách thì sẽ đến được với cảnh huy hoàng của cuộc
sống.

hái học tập và rèn luyện.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status