ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN TIẾN DŨNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ CÁY CỦM
NUÔI TẠI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
THÁI NGUYÊN - 2016
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN TIẾN DŨNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ CÁY CỦM
NUÔI TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Thị Thơm
TS. Nguyễn Văn Đại
THÁI NGUYÊN - 2016
Tác giả
Nguyễn Tiến Dũng
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .........................................................................v
DANH MỤC CÁC BẢNG........................................................................................ vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ........................................................................................ vii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Đặt vấn đề ...............................................................................................................1
2. Mục tiêu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .................................................2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................................3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ....................................................................................3
1.1.1. Phân loại nguồn gốc gia cầm ........................................................................3
1.1.2. Cơ sở nghiên cứu sự di truyền của gia cầm ..................................................4
1.1.3. Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh học ở gia cầm ................................5
1.1.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của gia cầm .........13
1.2. Một số đặc điểm tiêu hóa của gà ........................................................................15
1.3. Một số thông tin khảo sát về gà Cáy Củm .........................................................17
1.3.1. Tập tính gà Cáy Củm ..................................................................................17
1.3.2. Khả năng sản xuất .......................................................................................17
1.4. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ........................................................18
1.4.1. Kết quả nghiên cứu ngoài nước ..................................................................18
1.4.2. Tình hình nghiên cứu trong nước ................................................................19
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CP
Protein thô
CPTA
Chi phí thức ăn
CS
Cộng sự
ĐVT
Đơn vị tính
PN
Chỉ số sản xuất
GĐ
Giai đoạn
KL
Khối lượng
Vật chất khô
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1.
Tuổi đẻ quả trứng đầu của một số giống gà Việt Nam ......................... 10
Bảng 1.2:
Thành phần cấu tạo trứng của một số giống gia cầm ........................... 11
Bảng 3.1.
Một số đặc điểm ngoại hình của gà Cáy Củm ...................................... 30
Bảng 3.2.
Kích thước các chiều đo của gà Cáy Củm trưởng thành (20 TT) ......... 31
Bảng 3.3.
Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu sinh lý của gà Cáy Củm (20 TT) ...... 32
Bảng 3.4.
Kết quả kiểm tra huyết học của gà Cáy Củm 20 tuồn tuổi ................... 32
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 ........................................................................................................ 21
Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 ........................................................................................................ 22
Hình 3.1. Đồ thị sinh trưởng tích lũy của lô gà thí nghiệm ...................................... 37
Hình 3.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối gà thí nghiệm............................................. 40
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi gia cầm hiện nay đang phát triển mạnh và đáp ứng nhu cầu
người tiêu dùng. Tuy nhiên sản phẩm gia cầm có chất lượng cao ở nước ta trong
những năm gần đây đang được rất nhiều người quan tâm, đặc biệt là một số giống
gà địa phương đang coi là đặc sản như gà Hồ, Đông Tảo, tre, Ác…. Cùng với sự
phát triển của nền kinh tế thì nhu cầu tiêu dùng thực phẩm có chất lượng cao của
người dân lại càng tăng lên.
Để đáp ứng được nhu cầu này, nhà nước đã có sự quan tâm đầu tư đúng mức
về nhiều mặt, trong đó phải kể đến công tác giống gia cầm nói chung, gà nói riêng.
Mặc dù chúng ta đã nhập các giống gà lông màu thả vườn có những đặc điểm quý
của thế giới như: Lông màu, da vàng, năng suất thịt, năng suất sinh sản khá cao,
không đòi hỏi các điều kiện đầu tư cao, đó là các giống Kabir, Lương Phượng, Tam
hoàng... Bên cạnh việc nhập nội các giống tốt từ các nơi trên thế giới, việc khai
thác, quản lý các giống gà địa phương thực sự mang lại những lợi ích kinh tế, khoa
học phù hợp điều kiện thực tiễn hiện nay để từng bước nâng cao chất lượng con
giống và đa dạng sinh học nguồn gen quý của Việt Nam nhằm tăng năng suất chăn
nuôi đàn gia cầm trong nước.
Mặt khác trong thực tế thì người tiêu dùng vẫn ưa thích sử dụng thịt của các
khoảng 2000 năm trước công nguyên. Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [9] ở
Việt Nam gà được nuôi cách đây 3000 năm. Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [13], gà
rừng có thể chia thành 3 loại hình như sau:
- Loại hình Bankiva (gà nguyên thủy): Lông nhiều, dán vào mình, ức nở,
mào và dái tai phát triển, mỏ hơi cong dài và nhọn.
- Loại hình Mã Lai (gà Chọi): Ít lông, cấu trúc lông cứng, mào và dái tai nhỏ,
đầu nhỏ, mắt lõm vào hốc mắt, mỏ ngắn, khỏe.
- Loại hình Cochin: Nhiều lông, bồng, nhiều lông tơ, mào và dái tai vừa, tai
nhỏ màu đỏ, mỏ tương đối ngắn.
Có nhiều giả thiết cho rằng gà nhà được thuần hóa đầu tiên từ Ấn Độ cách
đây hơn 5000 năm, ở Trung Quốc hơn 3000 năm. Sau đó xuất hiện ở Mesopotamin.
Ở Tây Âu, gà nhà xuất hiện cách đây gần 2500 năm.
Có thể nói nước ta là một trong những trung tâm thuần hóa gà đầu tiên của
vùng Đông Nam Á. Gà nhà ở nước ta bắt nguồn từ gà rừng Gallus banquiva.
Như vậy, thông qua các di chỉ khảo cổ với các niên đại khác nhau cho phép
khẳng định Gallus banquiva là tổ tiên các giống gà nhà hiện nay. Có nhiều tài liệu
chứng minh rằng gà được thuần hóa đầu tiên ở Đông Nam Á và từ đây phân bố đi khắp
thế giới. Trải qua thời gian thuần hóa và không ngừng chọn lọc đã hình thành các giống
gà địa phương thích nghi tốt với điều kiện riêng biệt ở các nước khác nhau, đồng thời
hình thành nên các giống gà theo hướng sản xuất khác nhau.
4
1.1.2. Cơ sở nghiên cứu sự di truyền của gia cầm
Tất cả các đặc điểm của một giống gà như: Các đặc tính sinh học, ngoại hình,
tính năng sản xuất... đều là tính trạng di truyền, các tính trạng chất lượng được quy định
bằng một hoặc nhiều cặp gen có hiệu ứng lớn, chúng được di truyền tuân theo các định
luật của Menden và ít chịu ảnh hưởng của các điều kiện môi trường; Các tính trạng sản
xuất được quy định bằng nhiều cặp gen có hiệu ứng nhỏ, chúng được di truyền cho đời
sau theo các mức độ khác nhau, sự thể hiện của chúng ở đời sau chịu ảnh hưởng rất lớn
- Môi trường chung (Eg) tác động thường xuyên lâu dài đến tất cả các cá thể
của quần thể.
- Môi trường riêng (Es) tác động đến một vài bộ phận riêng biệt của một số
cá thể riêng biệt nào đó của quần thể trong thời gian ngắn.
Như vậy, năng suất của các giống vật nuôi là kết quả của mối tương tác giữa
yếu tố môi trường và ngoại cảnh.
Nói cách khác: Trong những điều kiện môi trường nhất định thì các kiểu gen khác
nhau sẽ cho những khả năng sản xuất khác nhau. Trái lại, cùng một kiểu gen nhưng trong
những điều kiện môi trường khác nhau sẽ cho năng lực sản xuất khác nhau.
Tốc độ sinh trưởng quyết định sức xản xuất thịt của một giống gà, mang tính
di truyền tương đối cao thể hiện đặc điểm về trao đổi chất, kiểu hình của dòng, giống.
Tốc độ sinh trưởng được thể hiện ở khối lượng cơ thể kích thước các chiều đo (dài
lườn rộng ngực, dài đùi...).
Năng lực tăng đàn của một giống gà được quyết định bởi khả năng sinh sản:
Khả năng đẻ trứng, tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ ấp nở, tỷ lệ nuôi sống gà...
Sức sống và khả năng kháng bệnh: Trong cơ thể gia cầm có hệ thống miễn
dịch hoàn hảo gồm tuỷ xương, tuyến ức, hạch lâm ba, lách... khi kháng nguyên vào
cơ thể, cơ thể sẽ thông qua hệ thống đáp ứng miễn dịch sinh ra những cơ chế tiêu
diệt kháng nguyên, khi cơ thể gia cầm khoẻ mạnh thì khả năng đáp ứng miễn dịch
cao, khả năng kháng bệnh tốt
1.1.3. Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh học ở gia cầm
1.1.3.1. Ngoại hình của gia cầm
Gà có dạng điển hình của lớp chim (aves), một động vật có xương sống bậc
cao đã thích ứng với điều kiện nuôi sống như hiện nay. Toàn thân được bao phủ bởi
lớp lông, gà trống thường có mầu lông sặc sỡ hơn gà mái.
Ở gia cầm màu sắc lông rất đa dạng. Màu lông phụ thuộc vào sự biểu hiện
dưới dạng hạt hay phân bố đều của sắc tố melanin và dạng dịch của sắc tố lipocrom.
Gia cầm màu sắc lông có thể chia làm 2 nhóm lớn là lông màu và lông trắng.
Chân của gia cầm được bao phủ bằng lớp vảy sừng và có sự khác nhau về
màu sắc. Chân vàng là do sự có mặt của lipocrom đồng thời thiếu melanin. Chân
màu có khả năng thích ứng tốt với môi trường sống.
Theo Trần Long và cs (1996) [28] tỷ lệ nuôi sống của gà Ri giai đoạn gà con
(0 - 6 tuần tuổi) đạt 93,3 %. Nguyễn Đăng Vang và cs (1999) [57] cho biết tỷ lệ
nuôi sống gà Ri giai đoạn gà con (0 - 9 tuần); gà hậu bị (10 - 18 tuần) và sinh sản
(19 - 23 tuần) đạt tương ứng 92,11%; 96 - 97,22% và 97,25 %.
Theo Nguyễn Thị Khanh và cs (2000) [11] nghiên cứu trên gà Tam Hoàng
cho biết, dòng 882 có tỷ lệ nuôi sống đến 6 tuần tuổi đạt 96,15 %, 20 tuần tuổi đạt
95,55 % và dòng Jiangcun các tỷ lệ nuôi sống đến 6 tuần tuổi đạt 96,85 %, 7 - 20
tuần tuổi đạt 95,91 %.
7
1.1.3.3. Đặc điểm về khả năng sinh trưởng ở gà
* Khái niệm sinh trưởng:
Trần Đình Miên và cs (1994) [27], sinh trưởng là quá trình tích lũy hữu cơ
do đồng hóa là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận
và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền của đời trước. Sinh trưởng
chính là sự tích lũy dần dần các chất, chủ yếu là protein, nên tốc độ và khối lượng
tích lũy các chất, tốc độ và sự tổng hợp protein chính cũng là tốc độ hoạt động của
các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể.
* Phương pháp đánh giá sinh trưởng:
Đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng thông qua khối lượng cơ thể được theo dõi
từng tuần tuổi:
- Tỷ lệ nuôi sống của gà qua các giai đoạn tuổi, theo dõi gà từ 1 ngày tuổi
đến 20 tuần tuổi.
- Sinh trưởng tích lũy:
Khối lượng cơ thể là một tính trạng số lượng và nó cũng được quy định bởi
các yếu tố di truyền nhất định. Khối lượng gà con mới nở ra có mối tương quan chặt
chẽ với khối lượng trứng, khối lượng của gà mẹ vào đúng thời kỳ đẻ trứng.
- Tốc độ sinh trưởng:
ngoại cảnh và điều kiện chăm sóc.
- Kích thước các chiều đo của cơ thể gà:
+ Dài cổ; dài lườn; dài thân; vòng ngực; vòng chân; dài đùi; dài bàn chân
1.1.3.4. Cơ sở về năng suất và chất lượng thịt của gà
* Năng suất thịt
Năng suất thịt là khả năng cho thịt của gia cầm đây là chỉ tiêu rất quan trọng
để đánh giá giá trị sống. Chỉ tiêu này thường biểu thịt bằng khối lượng cơ thể, tỷ lệ
các phần thân thịt, thịt ngực, thịt đùi và tỷ lệ mỡ bụng. Năng suất thịt gia cầm phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như: Loài, giống, tuổi, tính biệt và các yếu tố ngoại cảnh
như: Thức ăn, nước uống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh thú y.
Theo Soukuva Z và cs (1995) [70] cho biết năng suất thịt có liên quan đến chế
độ dinh dưỡng, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y. Bản thân gia cầm không
thể đạt được năng suất tối đa nếu điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc không đạt yêu cầu.
* Chất lượng thịt:
+ Giá trị pH
Đo pH chính là một chỉ thị của chu kỳ glycogen hóa sau khi con vật chết,
trong đó glycogen, nguồn cung cấp năng lượng chính của cơ bị phá vỡ do hoạt động
của các vi khuẩn yếm khí tạo ra acid lactic trong cơ và không thể trở thành CO2 và
nước như ở thể sống.
Trong cơ thể sống độ pH thông thường là 7, ngay sau khi chết độ pH là 6,8. độ
pH tiếp tục giảm với một tốc độ và mức độ nào đó, phụ thuộc vào các yếu tố sau:
9
Hàm lượng glycogen ban đầu trong cơ
Hình thái của cơ (type of muscle)
Tốc độ làm mát của thân thịt
Sự mẫn cảm với các tác nhân stress của từng cá thể và phụ thuộc vào từng
loài. Hiện nay, giá trị pH thường được đo ở 2 thời điểm 15 phút và 24 giờ sau
10
1.1.3.5. Đặc điểm về khả năng sinh sản ở gà
* Khả năng sinh sản của gia cầm
Sinh sản của gia cầm là hoạt động bản năng mang đặc điểm đặc trưng cho
loài đó là xảy ra quá trình thụ tinh trong, con mái sinh sản bằng cách đẻ trứng và gia
cầm non được sinh ra bằng cách ấp nở ở môi trường bên ngoài cơ thể mẹ.
Khả năng sinh sản của gia cầm ở các giống, loài, từng cá thể khác nhau thì
khác nhau. Kết quả nghiên cứu của Bùi Đức Lũng và cs (1994) [19] trên gà Mía và
gà Đông Tảo đã chỉ rõ điều này.
* Tuổi đẻ quả trứng đầu
Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là thời điểm tại đó gia cầm bắt đầu thành thục về tính.
Bảng 1.1. Tuổi đẻ quả trứng đầu của một số giống gà Việt Nam
Giống gia cầm
Tuổi đẻ quả trứng đầu (ngày)
Gà Ác
121
Gà Ri
127
Gà Mía
165 - 170
Gà Đông Tảo
dạng trứng theo hai cách:
- Tỷ số giữa chiều dài và rộng trứng (được gọi là chỉ số hình dạng)
- Tỷ lệ % giữa chiều rộng và chiều dài trứng
Ở gà chỉ số hình dạng dao động trong khoảng (1,32 - 1,67). Trị số này ở mỗi
loài gia cầm khác nhau là khác nhau (Tạ An Bình và cs, 1985) [1].
Tính trạng hình dạng ở trứng gia cầm gồm nhiều gen qui định và số gen cũng
không giống nhau ở các loài gia cầm. Tác giả cũng cho biết ở gà số gen này là 78 84 gen, ở vịt là 61 - 63 gen (Nguyễn Minh Quang, 1994) [31].
Nguyễn Văn Thiện và Nguyễn Khánh Quắc (1998) [35]: đã cho biết hình dạng
trứng có hệ số di truyền khá cao (h2 = 0,6). Sự biến dạng của hình dạng trứng là không
rõ rệt và không bị ảnh hưởng hay biến động bởi yếu tố môi trường hay mùa vụ.
* Thành phần cấu tạo trứng
Bảng 1.2: Thành phần cấu tạo trứng của một số giống gia cầm (%)
Thành phần
Vỏ
Lòng trắng
Lòng đỏ
Gà Ri
11,88
54,94
33,14
Tên giống gia cầm
Gà Ác
13,76
52,01
34,23
Gà Tây
11,18
Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [8] còn cho rằng chỉ số này dao động trong
khoảng 0,08 - 0,09 là tốt nhất và đã khảo sát trên trứng gà Ri chỉ số này là 0,085.
Trên thực tế chỉ số này càng nhỏ thì càng tốt.
Để đánh giá chất lượng lòng trắng người ta còn dùng đơn vị Haugh (HU)
như là một trị số để so sánh. Theo Singh R.A, (1992) [69] thì trong cùng một điều
kiện những trứng có khối lượng tương đương trứng nào có độ cao lòng trắng đặc
cao hơn thì sẽ có HU cao hơn, chứng tỏ chất lượng trứng tốt hơn.
Nguyễn Duy Hoan (1999) [7] cho biết: Đơn vị HU của trứng đạt chất lượng
loại 1 là từ 72 - 80.
* Lòng đỏ:
Lòng đỏ là tế bào trứng đặc biệt được bao bọc bởi một lớp màng mỏng có
tính đàn hồi và có tính thẩm thấu chọn lọc để thực hiện trao đổi chất giữa lòng trắng
và lòng đỏ. Để xác định chất lượng lòng đỏ người ta dùng trị số gọi là chỉ số lòng
đỏ được tính bằng tỷ số giữa chiều cao lòng đỏ với đường kính của nó. Chỉ số này
dao động trong khoảng 0,4 - 0,5 là tốt (Nguyễn Duy Hoan và cs, 1998) [8].
* Khả năng thụ tinh và tỷ lệ nở
- Sự thụ tinh:
Nguyễn Văn Thiện và Nguyễn Khánh Quắc (1998) [36] đã cho biết: Sự thụ tinh
là một quá trình trong đó các giao tử (gamete) tức là trứng và tinh trùng đã hợp nhất lại
thành một hợp tử (zygote). Sự thích ứng của cá thể trong giao phối có ý nghĩa lớn
với sự thụ tinh. Có những cá thể trống sự thụ tinh cao với mái này nhưng lại đạt tỷ
lệ rất thấp với con mái khác. Giao phối cận huyết cũng là nguyên nhân gây ra tỷ lệ
thụ tinh giảm (Lê Thị Thúy, 1996) [40].
Tỷ lệ trống mái hợp lý cũng làm nâng cao tỷ lệ thụ tinh. Theo Nguyễn Duy
Hoan và cs (1998) [8] tỷ lệ trống mái hợp lý là từ 8 - 10 mái/trống.
13
- Tỷ lệ ấp nở:
Tỷ lệ ấp nở của gia cầm được xác định bằng tỷ lệ phần trăm số gia cầm nở ra
Ở gà hướng thịt giai đoạn 60 - 70 ngày tuổi, con trống nặng hơn con mái 180
- 250 g (Trần Thanh Vân, 2002 [54]).
14
+ Dinh dưỡng:
Chế độ dinh dưỡng là một trong những yếu tố có tác động mạnh đến tốc độ
sinh trưởng cũng như lượng thịt, trứng gia cầm.
Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1995) [17] cho biết nhu cầu protein thích
hợp cho gà broiler cho năng suất cao đã được xác định. Để phát huy được khả
năng sinh trưởng tối đa cần phải cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng với sự cân
bằng nghiêm ngặt giữa protein, axit amin với năng lượng.
Dinh dưỡng cho gà thịt bao gồm: Protein, gluxit, lipit, muối khoáng, vitamin và
chất xơ. Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1995) [17] để phát huy tối đa khả năng
sinh trưởng của gia cầm thì việc cung cấp thức ăn đầy đủ và tối ưu các chất dinh
dưỡng, cân bằng protein, các axit amin và năng lượng là điều tối cần thiết.
+ Ảnh hưởng của protein: Protein là chất cần thiết trong khẩu phần thức ăn cho
gà. Ta cần phải cung cấp đủ protein và cân bằng các axit amin thiết yếu trong khẩu phần.
Nếu thiếu và không cân bằng dẫn đến hậu quả gà chậm lớn, còi cọc, dễ sinh bệnh.
Theo Trần Công Xuân (1995) [60] cho biết cùng tổ hợp lai broiler: Ross
208, Ross 208 - V35 nuôi ở 9 lô với 3 mức năng lượng và 3 mức protein, cho
khối lượng ở 8 tuần tuổi khác nhau rõ rệt.
+ Ảnh hưởng của chất khoáng và vitamin: Khoáng đa lượng (Ca, P, Na, Cl)
có nhiều trong bột xương, bột cá… các nguyên tố khoáng là các nguyên liệu xây
dựng nên bộ xương tham gia cấu trúc tế bào và tham gia vào quá trình trao đổi chất
trong cơ thể. Việc cung cấp đầy đủ chất khoáng giúp cho gà sinh trưởng và phát
triển bình thường. Vitamin tham gia vào mọi hoạt động sinh lý, sinh hóa trong cơ
thể và đóng vai trò là chất xúc tác, kích thích. Nhu cầu về các loại vitamin ở gà
không giống nhau, đối với gà con cần các loại như: A, D3, E, K, B1, B3, B6, B12,
PP và cholin đối với gà đẻ cần các loại vitamin: A, D, E và cholin.
thích hợp cho gà, tác giả Lê Thanh Hải và cs (1995) [6] đã có kết quả nghiên cứu về
vấn đề này và đã khuyến cáo tới các hộ gia đình như sau: để sưởi ấm và thắp sáng
cho đàn gà 100 con trong một lồng úm diện tích 2m2 cần sử dụng 2 bóng điện công
suất 75 W/ 1 bóng. Mùa nóng sử dụng 2 bóng công suất 40 - 60 W/ 1 bóng, những
nơi không có điện thì thay bằng đèn dầu hoặc lò sưởi….
Theo tác giả Lê Hồng Mận và Hoàng Hoa Cương (1993) [26] thì cho rằng:
Không được dùng bóng điện có công suất trên 100 W/ 1 bóng để chiếu sáng cho gà.
Tuy nhiên, mỗi một loại gà lại có một chế độ chiếu sáng khác nhau.
- Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng: Tùy theo từng giai đoạn phát triển của gà
mà ta áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho phù hợp.
* Các yếu tố khác
- Ngoài những yếu tố trên thì sinh trưởng của gà còn chịu ảnh hưởng của môi
trường, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng… đặc biệt là giai đoạn gà con. Lê Hồng Mận
(2007) [25], cho biết nhiệt độ tối ưu chuồng nuôi với gà con sau 3 tuần tuổi là 18 - 200C.
Trong điều kiện nhiệt độ khác nhau thì mức tiêu thụ thức ăn của gà cũng khác nhau.
1.2. Một số đặc điểm tiêu hóa của gà
+ Tiêu hóa ở miệng
Mỏ gà cấu tạo bằng chất sừng, hình thoi có mép trơn và nhọn nên rất thích
hợp cho việc lấy thức ăn nhỏ và xé rách khối thức ăn lớn.
16
Khi thức ăn đi trong khoang miệng, nó được thấm ướt nước bọt để dễ nuốt.
Các tuyến nước bọt của gia cầm phát triển kém. Động tác nuốt ở gia cầm được thực
hiện nhờ chuyển động rất nhanh của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào
vùng trên của hầu vào thực quản. Thanh quản được nâng lên phía trước và lên trên,
lối vào thanh quản bị ép tới đáy của xương dưới lưỡi và gốc lưỡi, ngăn không cho
thức ăn rơi vào đường hô hấp. Viên thức ăn thu nhận được ở cuống lưỡi được đẩy
vào lỗ thực quản và sau đó, do những co bóp nhu động của thành thực quản, nó
được đẩy vào diều. Ở gia cầm đói, thức ăn được đẩy thẳng vào dạ dày, không qua