Quản lý nhà nước về chất thải rắn đô thị ở việt nam - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ

TRẦN THỊ HIỀN HÀ

Quản lý nhà nước về chất thải rắn đô thị ở Việt Nam

luËn v¨n th¹c sÜ KINH TẾ

Hµ néi – 2006


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ

TRẦN THỊ HIỀN HÀ

Quản lý nhà nước về chất thải rắn đô thị ở Việt Nam

Mã số

luËn v¨n th¹c sÜ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Bích

Hµ néi - 2006


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCN

Tổng sản phẩm quốc nội

GTCC

GIAO THÔNG CÔNG CHÍNH

KCN

Khu công nghiệp

KCX

KHU CHẾ XUẤT

MT

Môi trƣờng

MTĐT

MÔI TRƢỜNG ĐÔ THỊ

NĐCP

Nghị định của Chính phủ

OECD

TỔ CHỨC HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN
CANADA


BÁO CÁO DIỄN BIẾN MÔI TRƢỜNG
VIỆT NAM


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1

Khái niệm chất thải

1.1.2

Phân loại chất thải rắn đô thị

1.1.3

Khái quát về đô thị hóa ở Việt Nam

1.2 Các vấn
8
1.2.1

Định
8

1.2.2


2.1.3

Thực trạng về chất thải rắn dô thị trong 10 năm gần đây

2.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn đô thị ở Việt Nam
2.2.1
2.2.2

Hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị
Chiến

69
2.3 Một số nhận xét về quản lý chất thải rắn đô thị ở nƣớc ta hiện nay


2.3.1

Những nhân tố tích cực trong quản lý

2.3.2

Những nhân tổ cản trở và phát sinh trong quản lý

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TRONG QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ
3.1 Định hƣớng chung
3.1.1

Quy hoạch đầu tƣ xử lý chất thải rắn để phát triển

trỗi dậy của các quốc gia đang phát triển đã góp phần thúc đẩy và gia tăng mạnh mẽ
nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, kéo theo sự phát triển đó là môi trường quốc gia và
quốc tế ngày càng bị hủy hoại nghiêm trọng. Đặc trưng của việc môi trường bị hủy
hoại là các loại chất thải công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt ngày càng nhiều, các
nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất công nghiệp, nông nghiệp ngày càng bị
thiếu và nhiễm bẩn do các chất thải gây nên. Hậu quả làm ô nhiễm môi trường trầm
trọng gây ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng.


nước ta, quá trình công nghiệp hoá, đô thị hóa đang diễn ra hết sức khẩn

trương, bộ mặt xã hội đã có những bước biến đổi tích cực. Tuy nhiên với sự phát triển
đó, tình trạng xuống cấp về môi trường đang ngày càng một rõ nét đặc biệt ở các đô thị
lớn. Môi trường hầu như ngày càng xấu đi rất nhanh, trở thành nguy cơ đe doạ cuộc
sống của người dân, bộ mặt văn minh của các đô thị. Vì vậy trong chiến lược phát triển
kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, vấn đề bảo vệ môi trường và quản lý các chất thải,
đặc biệt là chất thải rắn đô thị theo hướng phát triển bền vững là vấn đề hết sức cần
thiết.
Cùng với nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao, quá trình đô thị hoá đã làm cho mức
độ tăng dân số cũng như chất thải sản xuất và sinh hoạt ở các đô thị tăng nhanh. Chiến
lược quản lý chất thải rắn đô thị Việt Nam đến năm 2020 đã được Chính phủ thông qua
năm 1999 với mục tiêu từng bước hình thành một hệ thống đồng bộ về công tác quản
lý nhà nước về chất thải rắn nhằm kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi trường đảm bảo phát
triển bền vững. Quản lý nhà nước về chất thải rắn đô thị được coi là một nhân tố quan
trọng trong quản lý nền kinh tế. Với ý nghĩa như vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu cho
luận văn tốt nghiệp khoá học: "Quản lý nhà nước về chất thải rắn đô thị ở Việt Nam”.


2


phát thải cho các khu vực khác nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.


3

-

Nghiên cứu kinh nghiệm đầu tư công nghệ kiểm soát chất thải rắn đô thị ở các

nước trên thế giới và trong khu vực. Rút ra các quy luật khách quan ảnh hưởng đến vấn
đề đầu tư này.
-

Đề xuất những biện pháp: chính sách xã hội hóa, chính sách tài chính, chính

sách khuyến khích công nghệ trong hệ thống các biện pháp quản lý nhà nước đối với
chất thải rắn đô thị ở Việt Nam.
4.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
khu

Các hoạt động của Nhà nước về quản lý chất thải rắn đô thị cho một số

gần

Phạm vi nghiên cứu: Chất thải rắn đô thị trong khoảng thời gian 10 năm

vực.



Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về chất thải rắn đô thị.
Chương 3: Định hướng và giải pháp trong quản lý nhà nước về chất thải rắn đô thị.


4

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ
CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ
1.1. Những vấn đề cơ bản của chất thải rắn.
1.1.1. Khái niệm chất thải.
Chất thải là mọi thứ mà con người, thiên nhiên và quá trình con người tác động
vào thiên nhiên cũng như quá trình tiêu hoá con người thải ra. Thiên nhiên cả cây cỏ và
động vật cũng thải ra môi trường từ lá rụng đến xác động vật. Con người tác động vào
môi trường thực hiện quá trình sản xuất đã thải vào môi trường đủ các loại chất thải.
Chất thải có loại là hữu cơ, có loại là vô cơ.
1.1.1.1 Khái niệm chất thải rắn
Chất thải rắn là các loại vật chất ở thể rắn như các vật liệu, đồ vật phát sinh chủ
yếu từ các nguồn sau đây: Hộ gia đình (nhà ở riêng biệt, khu tập thể…); các trung tâm
thương mại (nhà kho, quán ăn, chợ, văn phòng, khách sạn…); cơ quan (trường học,
bệnh viện, các cơ quan hành chính…); các công trường xây dựng; dịch vụ công cộng
(rửa đường, tu sửa cảnh quan, …) và ở các khu công nghiệp.
Nói một cách khác chất thải rắn là “đồ vật không còn tác dụng, người sử dụng
không mong muốn giữ lại chất thải bỏ ra từ các hoạt động của xã hội”.
Hiện nay ở nước ta hàng năm có hơn 12 triệu tấn chất thải rắn phát sinh từ nhiều
nguồn khác nhau. Nguồn chất thải rắn lớn nhất hiện nay phát sinh từ các hộ gia đình,
các nhà hàng, khách sạn, chợ. Nguồn chất thải lớn thứ hai là các cơ sở công nghiệp.
Quá trình đô thị hoá càng nhanh thì lượng chất thải rắn phát sinh càng lớn.……
1.1.1.2



các nước phát triển, chất thải rắn sinh hoạt thường được phân loại ngay tại nơi

phát sinh là hộ gia đình, cơ quan, trường học, …bằng các thùng rác chuyên dùng. Sự
phân loại từ nguồn gốc phát sinh của chất thải rắn sinh hoạt rất thuận tiện cho việc thu
gom, vận chuyển, xử lý chất thải có hiệu quả kinh tế.
1.1.2.2 Chất thải rắn công nghiệp trong đô thị:
Công nghiệp là một ngành sản xuất tạo ra khối lượng vật chất vô cùng lớn cho
xã hội. Đây là một ngành cung cấp hầu hết các tư liệu sản xuất, cơ sở hạ tầng và phần


6

lớn sản phẩm tiêu dùng cho xã hội. Vì vậy lĩnh vực này thải ra nhiều chất thải rắn
thường có độ đậm đặc lớn ở các khu công nghiệp.
Các đô thị lớn nhất là ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh tập trung nhiều khu công
nghiệp, Đồng Nai, Vũng Tàu, Cần Thơ ở phía Nam; Hải Phòng, Hải Dương, Vĩnh Phúc
phía Bắc và Đà Nẵng, Quãng Ngãi ở miền Trung.
Theo nguồn gốc phát sinh, chất thải rắn công nghiệp là các phế phẩm phát sinh
trong quá trình sản xuất, các sản phẩm phế thải của hoạt động công nghiệp trong các
nhà máy, xí nghiệp…
Trong quản lý chất thải rắn công nghiệp, cần phân biệt chất thải và phế thải.
Chất thải là những sản phẩm thừa đối với một chủ sở hữu mà không được chủ sở hữu
đó sử dụng trực tiếp nữa. Phế thải bao gồm những chất mà người ta không thể sử dụng
tiếp tục được nữa cần tái chế để sử dụng vào mục đích khác. Muốn xử lý chất thải rắn
hiệu quả để tái chế hay tiêu huỷ cần phải phân loại cụ thể. Có thể phân theo thành
phần: thuỷ tinh, giấy, thép, chất dẻo… phân theo mức độ rủi ro: độc hại, nguy hại hay
không nguy hại; phân theo thứ bậc quản lý: giảm thải, tái sử dụng, tái chế, thu hồi hay
phục hồi.

519 đô thị loại V (phần lớn là thị trấn), có dân số từ 4 nghìn
đến d-ới 30 nghìn dân.
Rỏc thụng thng

Bảng 1.1 Sơ đồ Phân loại chất thải

Trỏch nhim x lý ca thnh ph

Cht thi

Rỏc gia ỡnh

(rỏc t c, rỏc

khụng t c)

Cht thi c ln


Chất thải công

nghiệp

Luật điều chỉnh 20 lo ại chất thải phát sinh
từ các hoạt động kinh doanh
Chất thải công nghiệp có kiểm soát đặc biệt

Trách nhiệm xử lý của các nhà sản xuất



Quản lý nhà nước là sự tác động có điều chỉnh, điều chỉnh là sự quy định của

Nhà nước thể hiện bằng pháp luật và các quyết định về nguyên tắc, tiêu chuẩn, biện
pháp… nhằm tạo ra sự cân bằng, cân đối các mặt hoạt động của các quá trình xã hội và
hành vi hoạt động của con người.


9

-

Quản lý nhà nước là sự tác động mang tính quyền lực nhà nước, tức là bằng

pháp luật và theo nguyên tắc pháp chế. Quyền lực nhà nước mang tính mệnh lệnh đơn
phương và tính tổ chức rất cao. Pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi
người đều bình đẳng trước pháp luật.
Các chức năng của quản lý nhà nước đối với xã hội là những hoạt động quản lý
đặc biệt, biểu hiện các phương hướng, giai đoạn và lĩnh vực tác động của nhà nước đối
với xã hội.
-

Chức năng tổ chức – nhân sự: Tổ chức là sự liên kết của những con người

cùng thực hiện một chương trình, mục tiêu nhất định, theo những nguyên tắc nhất định.
Trong một chừng mực nhất định, chức năng tổ chức có nghĩa là chức năng nhân sự và
ngược lại. Tổ chức nảy sinh từ yêu cầu khách quan của việc quản lý xã hội và căn cứ
vào nhiệm vụ, yêu cầu cụ thể của tổ chức mà lựa chọn một cơ cấu nhân sự phù hợp.
Con người luôn là yếu tố quan trọng và quyết định. Thông qua tổ chức và hoạt động
của tổ chức, vai trò quản lý xã hội của nhà nước được thực hiện. Đây là chức năng
quan trọng nhất, quy định việc triển khai thực hiện các chức năng khác như dự báo, kế

chính cần thiết đưa ra các biện pháp về đẩy mạnh xã hội hoá và phát triển khoa học
công nghệ trong quản lý chất thải rắn.
Nhà nước cần thực hiện biện pháp thanh tra, kiểm tra các biện pháp xử phạt, chế
tài… trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn đô thị.
1.2.3. Nội dung hoạt động của công tác quản lý nhà nƣớc về chất thải rắn đô thị.
1.2.3.1 Định hƣớng và chiến lƣợc
Nhu cầu về quản lý chất thải rắn ở Việt Nam là rất lớn nếu xét tương quan với
năng lực hiện có và tốc độ tăng trưởng các đô thị và phát triển công nghiệp.
Chính phủ Việt Nam đã nhận thức được những tổn thất về kinh tế và xã hội do
quản lý chất thải yếu kém và đang khắcphục vấn đề bằng cách kết hợp các biện pháp
chính sách, tài chính, nâng cao nhận thức và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng.
Trong tiến trình phát triển chung của đất nước, việc giải quyết được những thách thức
này sẽ là chìa khoá để có đạt được các mục tiêu quản lý chất thải an toàn và có tính chi
phí – hiệu quả. Chiến lược quốc gia quản lý chất rắn được thông qua năm 1999 dự báo
nhu cầu đầu tư cho lĩnh vực này sẽ lên đến 30 nghìn tỷ đồng vào năm 2020. Tuy nhiên,
với hiện trạng và chi phí cho hoạt động quản lý chất thải rắn như hiện nay, để có thể
đạt được những mục tiêu của chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia thì trong giai đoạn
2004-2020 sẽ cần một khoản đầu tư tổng cộng nhiều hơn so với dự kiến khoảng 10
nghìn tỷ đồng.
Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng ô nhiễm môi trường tại các
đô thị là các vấn đề môi trường chưa được quan tâm đúng mức trong quy hoạch xây
dựng đô thị. Ngoài việc quy hoạch sử dụng đất và phân khu chức năng, các vấn đề cơ
sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, như hệ thống thoát nước, thu gom và xử lý rác, xử lý nước


11

thải, giảm ô nhiễm không khí và tiếng ồn,… cần chú ý đúng mức. Mặc dù việc lập báo
cáo đánh giá tác động môi trường cho các đề án quy hoạch đô thị đã được quy định
trong luật bảo vệ môi trường, nhưng công tác triển khai thực hiện cho đến nay vẫn còn

12

thu gom, cơ sở tái chế, tiêu huỷ, khu chôn lấp chất thải; lựa chọn công nghệ thích hợp
và nguồn lực thực hiện.
-

Ngoài ra trong yêu cầu quản lý chất thải rắn còn có yêu cầu phân loại chất thải

rắn và thu gom, vận chuyển chất thải rắn cũng như yêu cầu xây dựng các cơ sở tái chế,
tiêu huỷ, chôn lấp. Đối với các khu đô thị yêu cầu có các thiết bị, phương tiện thu gom,
tập trung chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với khối lượng, chủng loại chất thải và đủ khả
năng tiếp nhận chất thải đã được phân loại từ các hộ gia đình. Các khu dân cư phải có
nơi tập trung và xử lý rác thải sinh hoạt. Các chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh có trách
nhiệm thu hồi những sản phẩm đã sử dụng hoặc thải bỏ như phương tiện giao thông,
săm, lốp, pin, ắc quy, thiết bị điện dân dụng và công nghiệp, dầu nhớt, mỡ bôi trơn…
Như vậy, quy hoạch quản lý chất thải đô thị phải gắn liền với quy hoạch phát
triển kinh tế, xã hội một cách đồng bộ, tuỳ thuộc vào từng đô thị đảm bảo sự phát triển
bền vững trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của từng vùng, từng địa
phương.
1.2.3.2 Hoạt động tài chính
Vấn đề tìm kiếm các nguồn tài chính cho các dịch vụ quản lý chất thải đã và
đang là thách thức đối với cộng đồng và các nhà lập kế hoạch địa phương.
Mối quan hệ giữa Chính phủ, tổ chức dịch vụ môi trường với người sản xuất và
người tiêu dùng trong quản lý chất thải là mối quan hệ hai mặt giữa chi phí và lợi ích,
giữa chi phí và thụ hưởng. Khác với các hàng hoá và dịch vụ thông thường giá cả về
dịch vụ môi trường không hoàn toàn là sự thoả thuận giữa người bán và người mua mà
phần lớn là do sự qui định của Chính phủ qua hệ thống pháp luật.
Do giá cả về dịch vụ môi trường, chất thải không thực hiện theo quan hệ cung,
cầu của thị trường nên Chính phủ đóng vai trò rất quan trọng để cung cấp loại dịch vụ
này. Chính phủ thay mặt nhà nước sử dụng các công cụ kinh tế để thực hiện dịch vụ

Các công cụ kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát ô nhiễm và
bảo vệ môi trường. Cụ thể, các công cụ kinh tế giúp đưa ra các khoản chi phí cho
những tổn hại môi trường vào giá cả thị trường do người tiêu dùng và người sản xuất
phải gánh chịu; các công cụ kinh tế giúp khuyến khích các nhà sản xuất không sử dụng


14

các đầu vào gây tổn hại môi trường; các công cụ kinh tế khuyến khích các doanh
nghiệp đầu tư vào công nghệ kiểm soát ô nhiễm mới và các phương pháp sản xuất bền
vững. Tạo lập nguồn vốn để chi hoàn việc sản xuất hàng hoá hay dịch vụ công cộng do
ô nhiễm gây ra.
Bên cạnh đó, các công cụ kinh tế giúp tạo nguồn tài chính mới để sử dụng vào
các mục đích môi trường khác nhau: đầu tư cho các hoạt động bảo vệ môi trường,
khuyến khích tuân thủ pháp luật môi trường, hỗ trợ thực hiện các hoạt động khác trong
phạm vi kế hoạch phát triển của nhà nước.
1.2.3.3
-

Hoạt động đào tạo nguồn nhân lực

Tổ chức hệ thống tuyên truyền phổ biến trên các phương tiện thông tin đại

chúng để mọi người thực hiện nghiêm chỉnh luật bảo vệ môi trường.
Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về nghiệp vụ và kỹ thuật phòng
chống
ô
-

nhiễm môi trường và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

xử lý và tái sử dụng.
*

Xây dựng một số dự án phòng ngừa và giảm thiểu chất thải:
-

Dự án thử nghiệm phòng ngừa ô nhiễm công nghiệp

-

Giảm thiểu ô nhiễm công nghiệp tại thành phố Việt Trì

-

Giảm thiểu ô nhiễm công nghiệp tại Đồng Nai.

-

Sản xuất sạch trong công nghiệp giấy.

-

Phòng ngừa ô nhiễm trong công nghiệp dệt.

-

Sản xuất sạch và giảm thiểu thải trong các xí nghiệp vừa và nhỏ.

-



-

Chủng loại xe thô sơ và xe ô tô vận chuyển chất thải rắn

-

Kích thước của xe vận chuyển chất thải rắn

Số lượng công nhân trong một tổ công tác, chính sách lao động tiền lương, an

toàn cho công nhân…
Hiện nay ở nước ta hầu hết các đô thị đều chưa có hệ thống thu gom hoàn thiện,
vì vậy hiệu quả thu gom thấp. Ở các đô thị lớn, chất thải ở đường phố được công ty môi
trường đô thị, dịch vụ công cộng hay công ty vệ sinh thu gom vận chuyển tới các bãi đổ
chất thải rắn hoặc các xí nghiệp chế biến chất thải rắn.
Biện pháp xử lý chất thải rắn đô thị ở Việt Nam hiện nay chủ yếu chôn lấp. Hiện
tại một số bãi chôn lấp rác được xây dựng theo tiêu chuẩn bãi chôn lấp hợp vệ sinh.
Phần lớn những bãi rác cũ trước đây là những bãi rác lộ thiên, không có những biện
pháp xử lý môi trường. Mặt khác do quá trình đô thị hoá, một số bãi rác hiện nay nằm
gần khu dân cư do vậy không đảm bảo yêu cầu về bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.
Bảng 1.3 Sơ đồ hoạt động môi trƣờng chất thải rắn

Hoạt động kinh tế dạng sản xuất &
tiêu thụ với khối lượng lớn trong thế
kỷ 20

Tiêu hủy nhiều chất thải

Xây dựng & duy trì luật pháp về 3R

Quyết định của bộ trưởng bộ xây dựng số 29/1999/QĐ-BXD ngày 22 tháng 10

năm 1999 ban hành quy chế bảo vệ môi trường ngành xây dựng.
-

Thông tư của bộ khoa học và công nghệ và môi trường số 1817/1999/TT

BKHCNMT ngày 21 tháng 10 năm 1999 hướng dẫn xác nhận các dự án đặc biệt
khuyến khích đầu tư quy định tại khoản 7 mục I phụ lục I nghị định 10/1998/NĐ-CP
của Chính Phủ về một số biện pháp khuyến khích đảm bảo đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam liên quan đến bảo vệ môi trường, phục hồi môi trường, tái sử dụng và tái
chế chất thải.
Văn bản quy phạm pháp luật về chất thải rắn và chất thải nguy hại



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status