THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH GIAI ĐOẠN 2005 - Pdf 69

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH GIAI
ĐOẠN 2005-2010
I. Giới thiệu chung về Công ty BDC
1. Lịch sử hình thành
Công ty ứng dụng phát triển Phát thanh Truyền hình (BDC), tên giao dịch
quốc tế Broadcasting Development Company (BDC), có trụ sở chính tại 59 - 61
Thợ Nhuộm, Hoàn Kiếm, Hà Nội, là một trong những công ty chuyên ngành, đi
đầu trong công tác nghiên cứu, phát triển và ứng dụng kỹ thuật phát thanh
truyền hình của Việt Nam.
Tiền thân của Công ty là Viện Nghiên cứu phát triển phát thanh truyền
hình thuộc Uỷ Ban phát thanh truyền hình được thành lập năm 1979. Sau
nhiều năm hoạt động đạt được nhiều thành tích tốt và có những kết quả đáng
khích lệ, Viện nghiên cứu đã đổi tên thành Liên hiệp Truyền thanh Truyền hình
Hà Nội thuộc Bộ Văn hoá Thông tin (năm 1988) và là Công ty ứng dụng phát
triển Phát thanh Truyền hình thuộc Đài Tiếng nói Việt Nam (năm 1994), và nay
là Công ty cổ phần phát triển phát thanh truyền hình (theo quyết định số
1133/QĐ-TNVN ngày 30/11/2007) của Đài Tiếng Nói Việt Nam. Công ty BDC đã
có một bề dày về lịch sử và phát triển cùng với những bước tiến không ngừng
của lĩnh vực phát thanh truyền hình trên cả nước. Kể từ ngày thành lập, sự
phát triển mạnh mẽ của BDC đạt được là nhờ vào chất lượng sản phẩm và
dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Công ty luôn suy nghĩ và hành động nhằm
giải quyết các vấn đề của khách hàng đặt ra một cách hiệu quả nhất. Điều đó
thể hiện bởi niềm tin từ các trạm thu phát thanh, phát hình tại các tỉnh thành,
các huyện…, các nhà khai thác, cung cấp dịch vụ trong và ngoài Ngành.
Các thành tựu đạt được:
- Công ty BDC đã được tổ chức Business Initiative Directions (Tây Ban
Nha) trao giải Sao vàng quốc tế về chất lượng năm 2007, được Chủ tịch nước
trao tặng Huân chương lao động hạng Nhì và liên tiếp trong nhiều năm liền
được Đài Tiếng nói Việt Nam trao tặng bằng khen về những đóng góp trong sự
nghiệp phát triển chung của ngành.

- Xuất nhập khẩu máy móc thiết bị, vật tư hàng hoá phục vụ nhiệm vụ kinh
doanh của Công ty BDC.
- Xuất nhập khẩu máy móc thiết bị phụ tùng, phương tiện vận tải, vật tư
phục vụ sản xuất, vật liệu xây lắp, hàng tiêu dùng thiết yếu.
- Sản xuất, lắp ráp máy phát sóng, tăng âm, anten và các phụ kiện chuyên
dùng phục vụ truyền thanh truyền hình. (Các sản phẩm của Công ty BDC được
bảo hộ về nhãn hiệu thương mại theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu
hàng hoá số 31585 ngày 24/07/1999 của Cục Sở hữu Công nghiệp)
- Sản xuất kinh doanh thiết bị thông tin viễn thông, thiết bị bảo vệ an toàn,
các sản phẩm cơ khí, vật liệu điện, điện lạnh, điện tử phục vụ chuyên ngành và
dân dụng.
- Sản xuất, lắp dựng cột anten, các cột tự đứng, hệ thống anten trong lĩnh
vực phát thanh truyền hình và thông tin đại chúng.
- Hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước để đầu tư trực tiếp và gián
tiếp trong các dự án phát triển ngành phát thanh - truyền hình - viễn thông và
các ngành kinh tế khác
- Đào tạo và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực phát thanh - truyền
hình - viễn thông.
Cho đến nay, Công ty BDC đã cung cấp và lắp đặt hơn 800 máy phát
hình, máy phát thanh FM Stereo và các máy phát thanh sóng trung cho nước
bạn Lào và các địa phương trên mọi miền đất nước.
4. Các sản phẩm chính của Công ty BDC:
Công ty cổ phần ứng dụng phát triển phát thanh truyền hình với hoạt động
chủ yếu là sản xuất, chế tạo và kinh doanh các loại thiết bị, máy móc kỹ thuật
dùng trong phát thanh và truyền hình. Các sản phẩm chính của công ty bao
gồm:
- Máy phát FM Stereo công suất lên tới 50KW (hiện nay Công ty BDC
đang là đại diện bán hàng độc quyền của các hãng sản xuất thiết bị phát thanh
truyền hình nổi tiếng như Harris (Mỹ), CTE (Italy),... trên lãnh thổ Việt Nam).
- Máy phát hình băng VHF/UHF công suất đến 50KW.

đồng quản trị.
Ban Kiểm soát : Là Cơ quan giám sát của của Đại hội cổ đông, do Đại hội
cổ đông bầu ra. Ban kiểm soát có quyền thanh tra và giám sát tất cả các hoạt
động của công ty.
Về nhân sự: 3 người
Ban giám đốc: Có trách nhiệm tổ chức, điều hành toàn bộ hoạt động kinh
doanh trong Công ty, chịu trách nhiệm về toàn bộ kết quả hoạt động kinh
doanh, đại diện cho toàn thể cán bộ công nhân viên và thay mặt Công ty quan
hệ pháp lý với các đơn vị, tổ chức bên ngoài.
Về nhân sự: 3 người, bao gồm 1 giám đốc, 1 phó giám đốc tài chính và 1
phó giám đốc kinh doanh
Giám đốc: Là người nắm quyền hành cao nhất trong Công ty, trực tiếp
chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh, về việc bảo đảm thực thi
đầy đủ các chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước .
Phó giám đốc kinh doanh: có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:
+ Xem xét tồn kho và yêu cầu sản xuất.
+ Ký hợp đồng cung cấp sản phẩm cho khách hàng, duyệt nhu cầu mua
vật liệu, duyệt danh sách nhà thầu phụ được chấp nhận, ký đơn hàng, mua
nguyên vật liệu (khi được uỷ quyền).
+Tìm hiểu thị trường, tiến hành tổ chức tham gia các hội chợ, xem xét tổ
chức quảng bá sản phẩm, xem xét và quyết định mở các đại lý. Kiểm tra nội
dung phê duyệt tài liệu có liên quan đến công tác kinh doanh (khi được uỷ
quyền).
Phó giám đốc tài chính: có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:
+Thực hiện các nghiệp vụ kế toán theo pháp chế thống kê kế toán của
nhà nước .
+ Theo dõi và báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch tài chính tháng, quí,
năm.
+ Xây dựng các kế hoạch tài chính, kế hoạch vay vốn, thay mặt giám đốc
giám định với ngân hàng về mặt tài chính.

khoa học công nghệ vào phát thanh truyền hình
Hiện nay, công ty có 1 đơn vị sản xuất kinh doanh trực thuộc, đó là
xí nghiệp cơ khí điện tử. xí nghỉệp có nhiệm vụ Thực hiện các công
đoạn sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp các hoạt động phù trợ cho sản
xuất
Bảng 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức công ty BDC
BỘ PHẬN ÂM THI TẦN
PHÒNG THANH TOÁN CÔNG NỢ
BỘ PHẬN GIỚI THIỆU SẢN PHẨM
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC KINH DOANH
PHÓ GIÁM ĐỐC TÀI CHÍNH
GIÁM ĐỐC
TRUNG TÂM KỸ THUẬT
PHÒNG KẾ TOÁN-VẬT TƯ
PHÒNG TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH
BỘ PHẬN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
BỘ PHẬN ĐIỆN-ĐIỆN TỬ
XÍ NGHIỆP CƠ KHÍ ĐIỆN TỬ
TƯ VẤN KỸ THUẬT VÀ CHĂM SÓC KHÁCH HÀNG
CÁC TỔ KỸ THUẬT THI CÔNG CÔNG TRÌNH
CÁC PHÒNG NGHIỆP VỤ
XÍ NGHIỆP TRỰC THUỘC
ĐẠI HỘI ĐỒNG
CỔ ĐÔNG
BAN KIỂM SOÁT
PHÒNG KINH DOANH
6. Tình hình phân bổ nhân lực
Là một doanh nghiệp lớn với đội ngũ cán bộ công nhân viên đông,

đội ngũ công nhân kỹ thuật được đào tạo cơ bản tại các trường dạy
nghề trong nước, có sức khỏe tốt,cần cù và chịu khó làm việc. Phần lớn
công nhân này đều có ý thức kỷ luật tốt, có tác phong làm việc công
nghiệp, đáp ứng được yêu cầu sản xuất với cường độ cao, tay nghệ tôt,
tiếp thu công nghệ nhanh.
Ngoài ra, Công ty BDC còn có một đội ngũ hơn 60 cộng tác viên là
các giáo sư, tiến sĩ, kỹ sư đầu ngành hiện đang công tác tại các trường
đại học, viện nghiên cứu, Đài Phát thanh Truyền hình Trung ương và địa
phương, các cơ sở sản xuất... luôn kết hợp cùng cán bộ kỹ thuật của
Công ty nghiên cứu, ứng dụng công nghệ tiên tiến, cải tiến kỹ thuật
nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm do BDC sản xuất cũng như chất
lượng các công trình do BDC đảm nhiệm.
7. Cơ sở vật chất – kỹ thuật của công ty
Cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty BDC có giá trị lớn, bao gồm
những Tài sản cố định có từ những năm 80 khi mới thành lập công ty và
những Tài sản cố định được bổ sung sau này do yêu cầu sản xuất kinh
doanh
- Trụ sở chính đặt tại: 61 Thợ Nhuộm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Tổng diện tích: 275m
2
.
- Xí nghiệp Cơ khí Điện tử: Đường Bê Tông, Thanh Xuân, Hà Nội.
Tổng diện tích: 11.132m
2
.
Các thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải của công ty bao gồm:
- Các thiết bị đo lường, kiểm tra chuyên dụng cho ngành phát thanh
truyền hình đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu nghiên cứu khoa học,
sản xuất, lắp ráp, chuyển giao công nghệ cho công trình.
- Dây chuyền lắp ráp IKD, CKD, SKD các loại máy phát thanh FM

1 Tổng doanh thu
22153591 29638121 34381340
2 Các khoản giảm trừ
117241 156322 150839
3 Doanh thu thuần
22036349 29381799 34030499
4 Giá vốn hàng bán
20675226 27566968 31768472
5 Lợi nhuận gộp
5370440 7160587 7751099
6 Chi phí bán hàng
257478 343305 120802
7 Chi phí QLDN
506990 675987 1031417
8 Lợi nhuận thuần từ
HĐKD
171933 229245 426604
9 Thu nhập từ HĐTC
198441 264589 226591
10 Chi phí HĐTC
75410 100547 93524
11 Lợi nhuận từ HĐTC
123030 164041 133067
12 Các khoản thu nhập bất
thường
77983 103978 90150
13 Chi phí bất thường
31854 42472 34296
14 Lợi nhuận bất thường
46128 61505 55853

năm 2007 (tương ứng 7.060,738 triệu VNĐ), đến năm 2009 đã tăng so với năm 2008 là
16,02% (tương ứng 4.356,935 triệu VNĐ). Mặc dù tăng như vậy nhưng không có nghĩa là hoạt
động kinh doanh của Công ty BDC kém hiệu quả đặc biệt là trong việc quản lý chi phí kinh
doanh mà mặt khác nó thể hiện hoạt động của Công ty BDC đang đi vào thế ổn định, công tác
quản lý chi phí kinh doanh đang tốt dần lên, địa vị và uy tín của Công ty BDC ngày càng được
nâng cao đồng thời thị trường của Công ty BDC ngày càng được mở rộng. Điều đó được minh
chứng ở tốc độ tăng doanh thu bình quân (24,89%) vẫn cao hơn tốc độ tăng chi phí (24,23%).
Năm 2009 lợi nhuận sau thuế của Công ty BDC đạt 1.036,087 triệu đồng tăng 64,714
triệu đồng so với năm 2008 (Năm 2008 đạt 971,373 triệu đồng) và tăng 42,21% so với năm
2007 (năm 2007 đạt 728,529 triệu đông). Hiện công ty chia cổ tức cho các cổ đông theo tỷ lệ
23% lợi nhuận.
Qua việc phân tích khái quát trên ta có thể thấy mặc dù chuyển sang loại hình công ty cổ
phần, công ty gặp phải không ít những khó khăn song công ty đã từng bước đưa hoạt động sản
xuất kinh doanh đi vào ổn định và phát triển. Áp lực cạnh tranh trong giai đoạn tới được nhận
định là vô cùng gay gắt. Ban lãnh đạo công ty cần chủ động xây dựng phương hướng sản xuất
kinh doanh cho riêng mình-đặc biệt là kế hoạch đầu tư phát triển nhằm nâng cao chất lượng
sản phẩm, tăng năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trương.
II. Hoạt động đầu tư phát triển của công ty cổ phấn phát triên phát thanh
truyền hình giai đoạn 2005-2010
1. Tầm quan trọng của hoạt động đầu tư phát triển đối với công ty BDC
1.1. Đầu tư phát triển-điều kiện kiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp
Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp là hoạt động sử dụng các
nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất.nguồn lực lao động và trí tuệ để
xây dựng, sửa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết bị
và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực
hiện chi phí thường xuyên gắn liền với hoạt động của các tài sản này
nhằm duy trì tiềm lực mới cho nền kinh tế -xã hội, tạo ra việc làm và
nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
Như vậy ta có thể thấy đầu tư phát triển là điều kiện kiên quyết cho

xuất chương trình, truyền dẫn phát sóng phát thanh”
“Phát triển sự nghiệp phát thanh phải gắn liền với nâng cao phẩm
chất chính trị, trình độ chuyên môn và từng bước cải thiện đời sống của
các cán bộ, viên chức; phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành liên quan
và các địa phương thực hiện quy hoạch phát triển chung của hệ thống
phát thanh toàn quốc.”
“Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng các chương trình trên sóng phát thanh, chú trọng
các chương trình phát thanh tiếng dân tộc ít người; tăng cường chất lượng phủ sóng phát thanh,
tiếp tục phủ sóng ở các vùng lõm, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo”
Trong bản “Quy hoạch phát triển phát thanh” cũng chỉ rõ nhiệm vụ
của Đài Tiếng Nói Việt Nam và các đơn vị trực thuộc như sau:
“Phối hợp chặt chẽ với các đài phát thanh địa phương trong việc
phát triển phương tiện thu nghe, hệ thống truyền thanh cơ sở, đài công
cộng và trong việc sản xuất chương trình, truyền dẫn, phủ sóng, góp
phần quan trọng phát triển toàn diện hệ thống phát thanh hiện đại gắn
liền với tổ chức đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao
trong hệ thống phát thanh”
“Đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ kỹ thuật số và
công nghệ mạng máy tính âm thanh trong việc sản xuất chương trình;
xây dựng mô hình sản xuất chương trình phù hợp với tổ chức hệ
chương trình mới; thống nhất về công nghệ, quy mô và thực hiện số hóa
hệ thống lưu trữ âm thanh”.
“Tăng cường khả năng trao đổi thông tin, chương trình với các đài
địa phương và các đài nước ngoài; tăng thời lượng phát thanh trực tiếp
tại phòng thu và từ các địa điểm có sự kiện thông qua xe thu lưu động
và cơ sở hạ tầng viễn thông lên 50% vào năm 2010 và 70% vào năm
2015.”
Từ đó ta có thể thấy thông qua hoạt động đầu tư phát triển -đặc biệt
là đầu tư vào nhân lực, khoa học công nghệ- công ty BDC đã đóng góp
vào sự nghiệp phát triển phát thanh truyền hình chung của đất nước.

nhằm nâng cao năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh.
Ta có thể xem xét tình hình về vốn kinh doanh của công ty trong
một vài năm gần đây qua bảng số liệu tổng hợp sau:
Bảng 4: Tình hình nguồn vốn đầu tư phát triển tại công ty BDC
giai đoạn 2005-2010
Nguồn vốn Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Vốn chủ sở hữu 5.635 5.811 6.088 12.210 13.274
-Lợi nhuận để lại 244 254 283 243 260
-Quỹ khấu hao 3.501 3.452 3.225 3.326 3.354
-Phát hành cổ phiếu 0 0 0 1.500 3.000
-Khác 1.890 2.105 2.326 2.214 1.423
Vốn ngân sách và TDĐT 6.500 6.400 6.200 930 1.100
Vốn vay 12.843 12.303 13.130 17.353 18.972
-Tín dụng ngân hàng 10.837 10.825 12.256 14.143 11.313
-Vay nhân viên 0 0 254 6.400 7.200
-Khác 1.006 1.478 1.874 1.710 1.659
Tổng 21.978 23.014 26.418 27.256 28.319
(Nguồn: Báo cáo tài chính công ty BDC các năm 2005-2010)
Có thể nhận thấy rằng nguồn vốn huy động của công ty tăng dần
qua các năm nhưng tỷ lệ gia tăng không cao. Mức tăng trưởng bình
quân của toàn hệ thống là 5,21%, đặc biệt giai đoạn 2008-2009 chỉ là
1,2%. Trong những năm 2008-2009 tình hình kinh tế thế giới, khu vực bị
suy thoái và bất ổn định đã ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế của
nước ta. Công ty BDC chịu sự quản lý của Nhà nước do đó cũng ít
nhiêu bị ảnh hưởng. Trước tình trạng đó, công ty BDC đã từng bước
tháo gỡ những khó khăn và tìm phương hướng nhằm khơi thông nguồn
vốn.
2.2. Nguồn vốn chủ sở hữu của công ty:
2.2.1. Nguồn lợi nhuận để tái đầu tư
Lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong

quả cao nhất. Với TSCĐ chủ yếu là thiết bị vật tư kỹ thuật dùng
cho ngành phát thanh truyền hình, thông tin có giá trị cao, nhanh
lạc hậu và hao mòn vô hình lớn; hiện tại, công ty thực hiện việc tính
và trích khấu hao TSCĐ phương pháp khấu hao nhanh. Áp dụng
phương pháp này không chỉ nhằm thu hồi vốn nhanh, hạn chế được tổn
thất do hao mòn vô hình mà còn giúp cho công ty có thể tập trung được
vốn để đổi mới máy móc thiết bị kịp thời. Ngoài ra, do công ty vẫn làm
ăn kinh doanh có lãi nên việc áp dụng phương pháp khấu hao nhanh là
hoàn toàn hợp lý
Theo đó, khung thời gian trích khấu hao bình quân TSCĐ của công
ty như sau:
Các loại máy phân tích phổ, máy hiện sóng: 7 năm
Các loại máy đo công suất: 5 năm
Dụng cụ quản lý và đo lường : 3 năm
Phương tiện vận tải : 4 năm
Công cụ, dụng cụ: 5 năm
Nhà xưởng: 15 năm
Với cách tính khấu hao như trên ta có thể thấy số trích khấu hao qua các năm trên bảng số
liệu 4. Phần lớn số tiền trong quỹ khấu hao công ty dùng để đầu tư mua sắm, sửa chữa Tài sản
cố định (chiếm trên 70%); còn lại dùng để trả lãi vay.
2.2.3. Vốn huy động qua phát hành cổ phiếu:
Thị trường chứng khoán ở Việt Nam đã đi vào hoạt động từ tháng
7/2000, nhưng quy mô hoạt động còn nhỏ bé, dung lượng giao dịch
không đáng kể, hơn nữa mới mang tính chất thu lợi ngắn hạn; vì vậy
trong tương lai gần khó có thể coi đây là hình thức huy động vốn có
nhiều triển vọng. Tuy vậy phát hành cổ phiếu ra công chúng vẫn là một
kênh huy động vốn quan trọng đối với công ty BDC sau cổ phần hóa.
Công ty BDC phat hành cổ phiếu căn cứ vào nhiệm vụ, mục tiêu được
ghi trong điều lệ của Công ty. Hiện tại, công ty mới chỉ phát hành cổ phiếu
cho các nhà đầu tư chiến lược và cán bộ công nhân viên trong công ty

nhiều ưu thế do lãi vay phải trả được trừ ra trước khi tính thu nhập chịu
thuế song doanh nghiệp để tiếp cận được nguồn vốn này thì cần phải có
tài sản cầm cố, thế chấp hoặc phải có lòng tin đối với các ngân hàng.
Ngoài ra, khi vay vôn sẽ làm cho hệ số nợ của doanh nghiệp tăng cao
khiến doanh nghiệp luôn có nguy cơ gặp rủi ro về mặt tài chính.
Vốn tín dụng ngân hàng là nguồn vốn quan trọng của công ty,
thường chiếm trên 30% tổng lượng vốn huy động. Công ty chủ yếu vay
vốn ngân hàng theo các dự án. Lượng vốn huy động hàng năm phụ
thuộc vào số lượng và quy mô của các dự án. Thông thường các ngân
hàng cho công ty vay từ 50-60% giá trị của dự án. Mặt khác, trong
những năm gần đây do nhu cầu đầu tư tăng, đặc biệt là nhu cầu đổi mới
máy móc công nghệ, công ty đã phải vay ngân hàng, một lượng vốn khá
lớn. Điều này sẽ khiến công ty đứng trước nguy cơ gặp rủi ro về mặt tài
chính rất lớn kể cả khi công ty đang kinh doanh có lãi.
2.4.2. Vốn vay cán bộ công nhân viên
Vay cán bộ công nhân viên trong công ty là hình thức khá phổ biến
hiện nay tại các doanh nghiệp. Song không phải tất cả các doanh
nghiệp đều có thể áp dụng hình thức này. Chỉ doanh nghiệp nào làm ăn
kinh doanh có hiệu quả, mức thu nhập của cán bộ công nhân viên cao
mới có thể huy động vốn vay từ cán bộ công nhân viên.
Trước tình hình nguồn vốn bên trong còn hạn hẹp và nguồn vốn
huy đông bên ngoài còn gặp nhiều khó khăn hạn chế, công ty BDC đã
chủ động vay vốn từ nguồn tiết kiệm nhàn rỗi của các cán bộ công nhân
viên trong công ty. So với vay ngân hàng thì vay vốn từ cán bộ công
nhân viên có hạn chế là số vốn vay không lớn nhưng lại có thể vay trong
một thời gian dài, không cần phải thế chấp tài sản đồng thời sẽ tạo ra sự
gắn bó mật thiết giữa cán bộ công nhân viên và doanh nghiệp, thúc đẩy
họ tích cực hơn trong lao động và có ý thức hơn trong việc bảo quản,
giữ gìn tài sản. Hiện công ty vẫn duy trì mức lãi suất vay nhân viên cao
hơn lãi suất huy động của ngân hàng một chút, đảm bảo cho họ vẫn có

VĐT (%)
35,12 35,24 37,03 34,12 34,89
(Nguồn: phòng kế toán thống kê-công ty BDC) Đơn vị: triệu đồng
Bảng 5 đã cho thấy vốn đầu tư vào xây dựng cơ bản của công ty
tăng liên tục qua các năm trong giai đoạn 2005-2010. Đây là giai đoạn
công ty mở rộng sản xuất và đổi mới nhiều máy móc thiết bị, do đó tỷ
trọng vốn đầu tư XDCB trong tổng VĐT của công ty cũng tăng. Từ năm
2005 đến năm 2007 tỷ trọng VĐT XDCB đã tăng từ 35,12% đến 37,03%,
nhưng đến năm 2008 do cơn bão khủng hoảng của kinh tế thế giới đã
ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế trong nước, công ty buộc phải thu
hẹp sản xuất, dẫn đến tỷ trọng Vốn đầu tư XDCB lại giảm xuống, và còn
34,89% vào năm 2009. Vốn đầu tư XDCB này được tập trung vào mua
sắm đổi mới máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng, và sửa chữa tài
sản cố định. Cơ cấu các khoản chi được thể hiện trong bảng số liệu
dưới đây:
Bảng 6: Cơ cấu các khoản mục đầu tư XDCB của công ty BDC
giai đoạn 2005-2010

Trích đoạn Về đầu tư bổ sung hàng tồn trữ Đầu tư cho công tác tuyển dụng Đào tạo cán bộ xây dựng và ứng dụng phần mềm chế tạo máy Về đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động KHCN
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status