Thực trạng quản lý rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty CTTC Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Pdf 69

Thực trạng quản lý rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính tại
Công ty CTTC Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
2.1. Khái quát chung về công ty cho thuê tài chính –BIDV
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Hoạt động cho thuê tài chính là một loại hình dịch vụ tài chính mới có nhiều ưu
điểm trong việc cung cấp nguồn vốn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các
doanh nghiệp Việt Nam đang trong giai đoạn cần thu hút nguồn vốn lớn phục vụ sản
xuất và đổi mới trang thiết bị hoạt động. Nhận thấy sự phát triển mạnh mẽ của hoạt
động cho thuê tài chính và những ưu việt của hình thức này, Ngân hàng Nhà nước đã ra
Quyết định số 149/QĐ –NH5 về việc ban hành Thể lệ tín dụng thuê mua. Theo đó,
Công ty Tín dụng thuê mua trực thuộc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được
thành lập theo Quyết định số 128/QĐ –NH5 ngày 26/4/1995 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước về việc thành lập công ty chuyên doanh trực thuộc Ngân hàng đầu tư và phát
triển Việt Nam( BIDV).
Tuy nhiên, cũng như các Phòng tín dụng thuê mua tại các ngân hàng quốc doanh
khác, hoạt động của Công ty gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Trước thực trạng đó,
để tạo hành lang thông thoáng hơn cho hoạt động cho thuê, ngày 9/10/1995 Chính Phủ
đã ban hành Nghị định 64/CP - quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của Công ty
cho thuê tài chính tại Việt Nam. Công ty cho thuê tài chính ( trên cơ sở tiền thân Công
ty tín dụng thuê mua) được thành lập theo Quyết định số 305/19998/QĐ-NHNN5 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày 14/12/1998
với tên gọi chính thức là Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Đầu tư và phát triển
Việt Nam .
Công ty CTTC là đơn vị thành viên thứ 65 của BIDV, là đơn vị hạch toán kinh tế
độc lập đầu tiên của hệ thống và cũng là một trong những công ty cho thuê tài chính
được thành lập sớm nhất hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này. Theo Điều 2 của
Quyết định số 305 trên, “Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam là một pháp nhân; là doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập của Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam; được Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
cấp vốn điều lệ; có quyền tự chủ kinh doanh và tự chủ tài chính, chịu ràng buộc về
quyền lợi và nghĩa vụ đối với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo quy định

ghi trong Giấy phép hoạt động ngoại hối do Ngân hàng Nhà nước cấp.
Ngoài ra, Công ty cũng được thực hiện các hoạt động khác theo quy định pháp
luật như:
-Tư vấn cho khách hàng về những dịch vụ có liên quan đến nghiệp vụ cho thuê
tài chính.
-Thực hiện các dịch vụ uỷ thác, quản lý tài sản và bảo lãnh liên quan đến hoạt
động cho thuê tài chính.
-Đầu tư, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản thế chấp, cầm cố đã chuyển thành tài
sản do công ty quản lý để sử dụng hoặc kinh doanh theo các quy định của pháp luật.
-Thực hiện các nghiệp vụ khác theo uỷ quyền của Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam
và được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép.
2.2.2.2. Cơ cấu tổ chức
Công ty cho thuê tài chính – BIDV hoạt động dựa trên các nguyên tắc phù hợp
với quy định Pháp luật, của Ngân hàng nhà nước và BIDV sau:
- Công ty cho thuê tài chính-Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chịu sự
quản lý của của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam về vốn, về kế hoạch
phát triển kinh doanh, về tổ chức nhân sự và chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà
nước về nội dung và phạm vi hoạt động nghiệp vụ.
- Công ty thực hiện các nghiệp vụ theo quy định của pháp luật về tài chính, tín
dụng và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động kinh
doanh của mình.
- Công ty chịu sự quản lý, thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước, Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Từ mô hình tổ chức đơn giản khi mới thành lập năm 1998 với 01 Ban lãnh đạo,
03 phòng chức năng Kinh doanh, Tổng hợp, Kế toán, đến năm 2009, mô hình tổ chức
và hoạt động của Công ty CTTC BIDV đã có nhiều biến chuyển tích cực.
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ BAN KIỂM SOÁT
BAN ĐIỀU HÀNH
Các phòng chức năng
Phòng Quan hệ khách hàng I

có chức năng kiểm soát hoạt động của Công ty. Ban điều hành bao gồm Giám đốc và
các Phó Giám đốc, có nhiệm vụ điều hành hoạt động của công ty, đảm bảo thực hiện
các kế hoạch và mục tiêu của Công ty cũng như của BIDV.
 Phòng quan hệ khách hàng
Hiện tại, Công ty có 3 phòng Quan hệ khách hàng, thực hiện hai nhiệm vụ chính
là: công tác tiếp thị và phát triển quan hệ khách hàng và tham gia công tác cho thuê tài
chính.
 Phòng Quản lý rủi ro
Thực hiện 4 nhiệm vụ chủ yếu sau
a. Quản lý tín dụng,
b. Quản lý rủi ro tín dụng,
c. Quản lý các rủi ro tác nghiệp
d. Chống rửa tiền.
Đây là bộ phận đánh giá rủi ro của các dự án cho thuê tài chính, đề xuất và thực
hiện các biện pháp phòng ngừa và xử lý rủi ro có khả năng xảy ra.
 Phòng Quản trị tín dụng
Trực tiếp thực hiện tác nghiệp và quản trị cho thuê tài chính với khách hàng theo
quy định, quy trình của công ty.
 Phòng cho thuê nội ngành
a. Cho thuê tài chính với các tài sản mua bán từ chi nhánh BIDV
b. Cho thuê tài chính đối với các tài sản mua bán tập trung toàn
ngành.
 Phòng Kế hoạch tổng hợp
a. Thực hiện các công tác kế hoạch tổng hợp, quản lý hệ thống
chất lượng ISO và thực hiện công tác pháp chế- chế độ
b. Công tác nghiệp vụ: đề xuất và tổ chức thực hiện điều hành các
nghiệp vụ, giải pháp phát triển nghiệp vụ
 Phòng Tài chính - Kế toán
Phòng Tài chính- Kế toán thực hiện ba công tác chính là : công tác tài chính,
công tác điện toán, áp dụng công nghệ thông tin hiện đại vào nhiệp vụ kế toán và công

Tốc độ tăng trưởng
(%)
-
31.37 48.29 -4.76
Trong đó
-Nhận tiền gửi 19,526 35,200 64,508 22,399
Tỷ trọng (%) 2.06 2.95 3.78 1.36
Tốc độ tăng trưởng
(%)
-
80.27 83.26 -65.28
-Vay từ TCTDkhác 700,154 910,254 1,337,536 1,306,969
Tỷ trọng (%) 73.71 76.34 78.43 79.31
Tốc độ tăng trưởng
(%)
-
3.57 2.74 1.12
- Vốn khác 8,819 9,294 28,830 8,373
Tỷ trọng(%) 0.93 0.78 1.69 0.51
Tốc độ tăng trưởng
(%)
-
5.39 210.20 -70.96
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán Công ty CTTC-BIDV năm 2006-
2009)
Từ bảng 2.1, có thể thấy quy mô nguồn vốn của Công ty tăng liên tục qua các
năm từ 2006-2008, tuy nhiên đến năm 2009 đã bắt đầu bị suy giảm. Nếu như năm 2006,
tổng nguồn vốn là 949,821 triệu đồng thì đến năm 2007 đã tăng lên 1,192,369 triệu, tốc
độ tăng trưởng đạt 25.54% thì đến năm 2008 đã tăng mạnh lên 1,705,377 triệu đồng,
tăng 43.02% so với năm 2007, do sự tăng mạnh của nguồn vốn huy động ( tăng

cho công ty.
Bảng 2.2: Dư nợ cho thuê 2006-2009
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
2006 2007 2008 2009

nợ
Tỷ
trọng

nợ
Tỷ
trọng
Dư nợ Tỷ trọng

nợ
Tỷ
trọng
Dư nợ ngoại
ngành
548 58.5% 821 68.7% 1352 78% 1391 84.05%
Dư nợ nội
ngành
388 41.5% 406 31.3% 381 22% 264 15.95%
Tổng dư nợ 936 100% 1227 100% 1733 100% 1655 100%
Tăng trưởng
tổng dư nợ qua
các năm (%)
27,7% 45% -4,5%
Tốc độ tăng

ngành- khu vực có khả năng sinh lời lớn hơn.
- Cho thuê tài chính ngoại ngành
Cho thuê tài chính ngoại ngành là hoạt động cung cấp dịch vụ cho thuê tài chính
cho các khách hàng hoạt động ngoài hệ thống BIDV như các pháp nhân ( công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp Nhà nước, hộ kinh doanh cá thể, hợp tác
xã). Tài sản cho thuê cũng rất đa dạng, gồm các dây chuyền sản xuất, các sản phẩm
công nghiệp, tiêu dùng, phương tiện thi công, xây dựng,…
Năm 2007, số lượng dự án đã ký kết cho thuê tài chính ngoại ngành là 174 dự
án, tổng giá trị cho thuê lên đến 1056 tỷ đồng, dư nợ cho thuê ngoại ngành cuối kỳ là
821 tỷ đồng, tăng 49,8% so với năm 2006. Dư nợ cho thuê đến 31/12/2008 của cho thuê
ngoại ngành là 1352 tỷ đồng, tăng trưởng 65% so với cuối năm 2007( dư nợ 821 tỷ
đồng) . Năm 2009, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn nhưng Công ty vẫn cố gắng
phê duyệt 70 dự án cho thuê với tổng trị giá là 300 tỷ đồng, giải ngân 270 tỷ, tổng dư
nợ ngoại ngành đạt 1391 tỷ, tăng 9% so với năm 2008.
c, Về thị phần hoạt động của Công ty
Hiện nay, tại Việt Nam đang có 13 Công ty cho thuê tài chính đang hoạt động,
gồm 06 Công ty trực thuộc các NHTM nhà nước, 04 Công ty có vốn đầu tư nước ngoài
và 03 Công ty thuộc NHTM cổ phần. Theo số liệu Hiệp hội cho thuê tài chính Việt
Nam cung cấp tính đến hết năm 2008, Công ty chiếm thị phần khoảng 12.41% trong số
9 công ty tham gia Hiệp hội cho thuê tài chính, chủ yếu cho thuê ngoại ngành và tập
trung cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đến hết tháng 9/2009, Công
ty vẫn giữ vị trí thứ ba về dư nợ và chiếm khoảng 8% thị phần hoạt động.
Bảng 2.3. Thị phần của các Công ty cho thuê tài chính hội
viên Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam năm 2008
Đơn vị: tỷ đồng
STT Tên công ty Dư nợ cho thuê Thị phần(%)
1 Cty CTTC II NHNN & PTNT VN 6206.27 44.43
2 Cty CTTC I NHNN & PTNT VN 2146.48 15.36
3 Cty CTTC I NH Đầu tư & PTVN 1733.34 12.41
4 Cty CTTC II NH Đầu tư & PTVN 1309.45 9.37

-Chênh lệch thu chi
30,667 103,493 94,563 47,648
-Tỷ lệ LN ròng/VCSH (ROE)
10.0% 31.4% 24.8% 11%
-Tỷ lệ LN ròng/tổng TS (ROA)
2.3% 6.2% 4.0% 1.8%
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh Công ty CTTC-BIDV năm 2006-2009)
Về doanh thu, Công ty luôn duy trì mức tăng trưởng qua các năm. Năm 2008,
mặc dù nền kinh tế gặp nhiều biến động, phải đối mặt với rất nhiều khó khăn nhưng
doanh thu vẫn đạt 231,923 triệu đồng, tăng 47,33% so với năm 2007. Đến cuối năm
2009, doanh thu chỉ đạt 174,097 triệu đồng, giảm 19.07% so với năm 2008. Do sản
phẩm dịch vụ cung cấp chủ yếu là cho thuê tài chính nên thu từ cho thuê tài chính luôn
chiếm tỷ trọng cao nhất, thường chiếm trên 90%.
Về chi phí, từ tháng 4/2009, theo sự chỉ đạo của BIDV, Công ty đã chuyển sang
trụ sở mới và việc chuyển trụ sở này đã làm phát sinh thêm khoảng 1.5 tỷ đồng cho việc
trang bị hệ thống mạng, điện, cáp quang,… Đồng thời, Công ty cũng phải thực hiện trả
trước tiền thuê nhà 8.5 tỷ đồng cho 2 năm. Tổng chi phí phát sinh từ việc chuyển trụ sở
đã làm giảm lợi nhuận năm 2009 của Công ty khoảng 3.2 tỷ.
Về chênh lệch thu chi, nếu như năm 2006 chỉ đạt 30,667 triệu đồng thì năm 2007
đạt 103,493 tỷ đồng, gấp hơn 3 lần năm 2006. Đến năm 2008 và năm 2009, chênh lệch
thu chi trước dự phòng rủi ro đều giảm ( đạt 94,563 triệu năm 2008 và 47,647 triệu năm
2009), do ảnh hưởng từ suy thoái kinh tế nhưng vẫn vượt chỉ tiêu kế hoạch mà Công ty
đề ra, năm 2009 Công ty đạt 106% kế hoạch được giao.
Về tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu( ROE) và trên tổng tài sản( ROA), nếu
như năm 2007, công ty hoạt động rất hiệu quả, các chỉ tiêu này đều rất cao (ROE là
31.4% và ROA là 6.2%) thì trong năm 2008 và 2009, tỷ lệ lợi nhuận giảm sút mạnh, chỉ
còn tương ứng là 11% và 1.8% năm 2009.
Nhìn chung, trong giai đoạn từ 2006-2009, với những chính sách đổi mới về cơ
cấu tổ chức, bố trí nhân sự cùng với việc hoàn thiện hệ thống văn bản chế độ, trong
năm 2007 và 2008 Công ty đã đạt được những bước tăng trưởng đáng kể, tổng vốn tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status