Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP
TẠI BỆNH VIỆN NGUYỄN TRI PHƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Vi Hằng*, Huỳnh Ngọc Vân Anh*, Nguyễn Đại Thức*, Trịnh Tuyết Huệ*, Hà Thị Như Xuân*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Tỉ lệ người mắc bệnh tăng huyết áp (THA) tại Việt Nam ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, chất
lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh vẫn chưa được quan tâm. Chúng tôi khảo sát CLCS và các yếu tố liên
quan ở bệnh nhân THA nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc, nâng cao sức khỏe của người bệnh.
Mục tiêu: Xác định điểm trung bình chất lượng cuộc sống (TB CLCS) và các yếu tố liên quan ở người THA.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện trên 214 bệnh nhân THA tại bệnh viện
Nguyễn Tri Phương bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp sử dụng bộ câu hỏi CLCS của Tổ chức y tế thế giới.
Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để đo lường mối liên quan giữa điểm CLCS các lĩnh vực và
các biến độc lập.
Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng tham gia nghiên cứu là 59,6 tuổi (ĐLC=9,6); 55,1% là nữ giới.
Điểm TB CLCS về quan hệ xã hội, môi trường sống, sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần của bệnh nhân THA
lần lượt là: (54,5 ± 12,5), (55,6± 9,7), (54 ± 14, 4), (57,5 ± 12,2). Các yếu tố liên quan đến CLCS của bệnh nhân
THA gồm giới tính, học vấn, hút thuốc lá, vận động thể lực, tuân thủ điều trị, tình trạng dinh dưỡng và một số
bệnh kèm theo như: đái tháo đường, bệnh thận, bệnh tim, bệnh về khớp, tai biến mạch máu não.
Kết luận: CLCS bệnh nhân THA thấp ở lĩnh vực sức khỏe thể chất. Vận động thể lực đều đặn ở mức độ vừa
phải, tuân thủ điều trị theo hướng dẫn và chỉ định của bác sĩ là các yếu tố cần được khuyến khích thực hiện giúp
cải thiện CLCS người bệnh THA. Bệnh nhân THA là phụ nữ, người lớn tuổi, người suy dinh dưỡng, người có
trình độ học vấn thấp, người bệnh THA mắc kèm thêm bệnh mãn tính là những đối tượng cần được quan tâm và
hướng tới trong các chương trình, hoạt động với mục tiêu cải thiện CLCS người bệnh.
Từ khoá: tăng huyết áp, chất lượng cuộc sống
ABSTRACT
(55,6± 9,7), (54 ± 14, 4) và (57,5 ± 12,2) respectively. Factors associated with QoL among hypertensive patients
were gender, education level, smoking, physical activity level, adherence to treatment, nutritional status, and
presence of co-morbidity (diabetes, kidney diseases, coronary heart disease, arthritis, and stroke).
Conclusion: The mean score in the domain of psychological health among the hypertensive patients was low.
Encouraging physical activities and strengthening treatment adherence should be considered to improve QoL for
hypertensive patients. Actions to improve QoL should be targeted at hypertensive patients female, elderly,
undernourished, low educated and/or with co-morbidity.
Keywords: hypertension, quality of life
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) là một trong những
bệnh mãn tính phổ biến nhất trên thế giới với
tần suất mắc bệnh cao. Được mệnh danh là “kẻ
giết người thầm lặng”, THA đang là một trong
những vấn đề của sức khỏe cộng đồng được
quan tâm nhất hiện nay và là một trong những
gánh nặng bệnh tật toàn cầu(2). Để cải thiện và
nâng cao sức khỏe cho bệnh nhân (BN) tăng
huyết áp không chỉ đơn thuần tuân thủ điều trị
nhằm hạ trị số huyết áp để đạt huyết áp mục
tiêu, làm giảm các yếu tố nguy cơ tim mạch,
phòng ngừa và điều trị các tổn thương cơ quan
đích, mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống
(CLCS) của bệnh nhân THA(5).
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định điểm số trung bình CLCS theo
từng lĩnh vực của thang đo WHOQoL-BREF
trên bệnh nhân THA đang điều trị tại BV
Nguyễn Tri Phương
Xác định mối liên quan giữa điểm số CLCS
Cỡ mẫu
Được tính dựa vào công thức ước lượng một
trung bình với khoảng tin cậy 95%, sử dụng độ
lệch chuẩn
= 14,94. Theo nghiên cứu “Chất
lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan ở người
tăng huyết áp từ 50 tuổi trở lên tại xã Phước Lợi,
huyện Bến Lức, tỉnh Long An, năm 2013”(10).
Phương pháp thực hiện
Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi WHOQoLBREF gồm 26 câu hỏi thu thập thông tin đánh
giá điểm trung bình chất lượng cuộc sống của
bệnh nhân tăng huyết áp trên bốn lĩnh vực sức
khỏe thể chất (SKTC), sức khỏe tinh thần
(SKTT), quan hệ xã hội (QHXH), môi trường
sống (MTS) và điểm trung bình chất lượng
cuộc sống chung. Trong nghiên cứu này, trước
khi tiến hành thu thập số liệu chính thức, bộ
câu hỏi được sử dụng điều tra thử trên 30 BN
THA đang điều trị ngoại trú tại BV Nguyễn Tri
213
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019
Nghiên cứu Y học
Phương TP. Hồ Chí Minh nhằm đảm bảo tính
phù hợp với dân số nghiên cứu.
Xử lý số liệu
gian phát hiện bệnh THA từ 10 năm trở lên
chiếm tỷ lệ cao nhất là 35,4%, tiếp đến là từ 1 đến
dưới 5 năm chiếm 34,6%. Có 60,8% đối tượng
tham gia tuân thủ điều trị thuốc và 53,7% tuân
thủ chế độ ăn. Trong các đối tượng tham gia
nghiên cứu có 2,8% bị suy dinh dưỡng, 21% thừa
cân và 37,4% béo phì. Có đến 51,4% đối tượng
nghiên cứu vừa bị THA vừa bị mắc các bệnh
mạn tính nhiều nhất.
Giá trị
Giá trị
nhỏ nhất lớn nhất
Sức khỏe thể chất 57,1 (42,9-64,3)*
25,0
92,9
Sức khỏe tinh thần
57,50 ± 12,2
25,0
83,3
Quan hệ xã hội
58,3 (41,7-66,7)*
16,7
83,3
Môi trường sống
55,6 ± 9,6
28,1
90,6
Điểm CLCS chung
55,4 ± 9,7
Hút thuốc lá (có)
Uống rượu bia (có)
Bệnh kèm theo (có)
Tiền sử gia đình (có)
Thời gian phát hiện (≥ 10 năm)
Tuân thủ thuốc (có)
Tuân thủ chế độ ăn (có)
214
Hệ số PTthô
3,4
6,2
-4,6
-4,5
-3,6
4,8
-6,7
8,6
3,6
KTCthô 95%
0,09 – 6,64
1,59 – 10,79
(-8,73) – (-0,46)
(-8,57) – (-0,44)
(-6,87) – (-0,36)
1,56 – 8,04
(-9,98) – (-3,42)
5,38 – 11,72
0,20 – 6,06
(-8,31) – (-2,37)
3,26 – 9,21
0,20 – 6,16
phc
0,002
0,017
0,003
0,017
Hệ số PThc
1,5
5,3
1,8
9,0
4,2
1,4
-3,8
2,4
KTChc 95%
(-1,12) – (4,04)
1,94 – 8,75
(-0,89) – 4,55
1,92 – 16,17
1,76 – 6,54
(-1,08) – 3,9
(-6,26) – (-1,26)
(-0,10) – 4,82
phc
0,266
0,002
0,187
0,013
5,4
Tình trạng DD (thừa cân/béo phì)
-3,2
Bệnh kèm theo (có)
-3,2
KTCthô 95%
0,62 – 5,80
(-6,08) – (-0,93)
1,32 – 8,62
0,38 – 5,73
2,25 – 7,67
1,82 – 8,51
(-8,30) – (-1,80)
(-6,60) – (-0,15)
0,49 – 5,67
(-3,49) – (-0,97)
2,81 – 7,96
(-5,86) – (-0,63)
(-5,85) – (-0,70)
Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính đa
biến cho thấy, các biến giới tính, có hút thuốc,
có uống rượu và tuân thủ điều trị thuốc, tình
trạng thừa cân/ béo phì có mối liên quan thật
sự tới điểm CLCS chung (Bảng 4).
BÀN LUẬN
Chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu cho thấy điểm chất lượng cuộc
5,3
-1,9
2,1
2,7
1,7
2,9
-6,4
-3,7
1,7
-2,2
4,0
-2,9
-1,7
KTChc 95%
2,37 – 8,29
(-4,69) – 0,83
(-1,12) – 5,35
(-0,19) – 5,64
(-1,56) – 5,06
(-0,97) – 6,81
(-9,85) – (-2,85)
(-7,34) – (-0,10)
(-0,65) – 3,97
(-4,55) – 0,26
1,70 – 6,32
(-5,19) – (-0,57)
(-4,01) – 0,71
phc
SKTT có điểm CLCS cao nhất, kết quả này tương
đồng với nghiên cứu của Nguyễn Tấn Thuận
(2017), Ana Carolina Melchiors (2007), Duy Thị
Hoa (2013)(8,9,10).
215
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019
Mối liên quan giữa điểm chất lượng cuộc sống
với đặc điểm dân số xã hội
Học vấn cao hơn là một trong những yếu tố
dự báo tích cực đến chất lượng cuộc sống của
BN THA lĩnh vực môi trường sống. Kết quả này
phù hợp với nghiên cứu của Richard H Grimm
(1997), Klocek (2003), Aram V Chobanian (2008),
Duy Thị Hoa (2013) đều cho thấy học vấn càng
cao thì điểm chất lượng cuộc sống tốt hơn. Điều
này có thể giải thích do những người có học vấn
cao thì điều kiện sống và làm việc tốt hơn, cũng
như hiểu biết, nhân thức về môi trường sống, và
kiến thức về bệnh tốt hơn do đó điểm CLCS
cũng cao hơn(4,6,7,10).
Mối liên quan giữa điểm chất lượng cuộc sống
với thói quen sinh hoạt
Kết quả nghiên cứu sau khi phân tích đa
biến cho thấy hút thuốc lá là yếu tố dự báo tiêu
chúng tôi góp phần củng cố giả thuyết tập thể
dục có tác động tích cực trong việc nâng cao chất
lượng cuộc sống của BN THA.
Mối liên quan giữa điểm chất lượng cuộc sống
với quá trình bệnh và tuân thủ điều trị
Kết quả phân tích đa biến cho thấy có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê về điểm chất
lượng cuộc sống lĩnh vực SKTT, MTS với thời
gian phát hiện bệnh tăng huyết áp. Những
người có thời gian phát hiện bệnh tăng huyết
áp từ 10 năm trở lên có điểm chất lượng cuộc
sống thấp hơn những người có thời gian phát
hiện bệnh tăng huyết áp dưới 10 năm. Điều
này cho thấy thời gian phát hiện bệnh tăng
huyết áp là một yếu tố dự báo liên quan đến
điểm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân,
bệnh tăng huyết áp càng lâu thì điểm chất
lượng cuộc sống càng thấp hơn. Kết quả của
chúng tôi cũng tương đồng với nghiên cứu của
Nguyễn Tấn Thuận (2017)(9).
Nghiên cứu của chúng tôi góp phần cho thấy
bệnh mạn tính đi kèm với THA là một trong
những yếu tố dự báo tác động tiêu cực đến chất
lượng cuộc sống của bệnh nhân. Kết quả này là
hợp lí, vì việc một bệnh nhân THA mắc kèm
theo các bệnh mạn tính có thể tác động xấu tới
tinh thần cũng như thể chất của bệnh nhân, gây
khó khăn trong việc điều trị, ảnh hưởng đến khả
năng kiểm soát huyết áp, qua đó làm suy giảm
chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.
3.
4.
5.
Banegas J, Guallar-Castillón P, Rodríguez-Artalejo F, et al (2006).
"Association between awareness, treatment, and control of
hypertension, and quality of life among older adults in Spain".
American Journal of Hypertension, 19(7):686-693.
Bromfield S, Muntner P (2013). "High blood pressure: the
leading global burden of disease risk factor and the need for
worldwide prevention programs". Current Hypertension Reports,
15(3):134-136.
Carvalho MAN, Silva IB, Ramos SBP, et al (2012). "Quality of life
of hypertensive patients and comparison of two instruments of
HRQOL measure". Arquivos Brasileiros de Cardiologia, 98(5):442451.
Chobanian Aram V, Bakris George L, Black Henry R, et al
(2003). "Seventh report of the joint national committee on
prevention, detection, evaluation, and treatment of high blood
pressure". Hypertension, 42(6):1206-1252.
Fletcher A (1999). "Quality of life in the management of
hypertension". Clinical and Experimental Hypertension,
21(5-6):961-972.
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học
6.
7.
Ngày nhận bài báo:
30/07/2019
Ngày phản biện nhận xét bài báo:
30/08/2019
Ngày bài báo được đăng:
10/10/2019
217