Lý luận chung về tổ chức kế toán trong doanh nghiệp - Pdf 69

Lý luận chung về tổ chức kế toán trong doanh
nghiệp
Hệ thống kế toán đợc xem nh là một hệ thống thông tin dùng để đo lờng, xử lý và
truyền đạt thông tin về tài chính của một đơn vị kinh tế.
Sơ đồ 1: Quan hệ kế toán với hoạt động kinh doanh và hoạt động quản lý.
Hệ thống kế toán doanh
nghiệp
- Quan sát
- Phản ánh
- Xử lý
- Phân loại
- Tổng hợp
- Trình bày
Kế toán đợc coi nh là một hoạt động dịch vụ, nối giữa các hoạt động kinh doanh
và những ngời làm quyết định. Thứ nhất, kế toán đo lờng các hoạt động kinh doanh
bằng cách phản ánh, ghi chép các dữ liệu. Thứ hai, qua xử lý phân loại và sắp xếp các
dữ liệu này trở thành thông tin hữu ích. Thứ ba, thông tin này đợc tổng hợp, truyền
đạt, qua hệ thống chứng từ sổ sách, đến những ngời ra quyết định. Ngời ta có thể nói
rằng, các dữ kiện về hoạt động kinh doanh là đầu vào của hệ thống kế toán và những
thông tin hữu ích cho ngời làm quyết định là đầu ra đã đợc hệ thống kế toán xử lý và
cung cấp.
Trong vài năm trở lại đây, xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá đang diễn ra rất mạnh
mẽ và càng mạnh mẽ sâu rộng hơn trong Thế kỷ 21 này. Hội nhập với quốc tế trên nền
tảng các quan hệ song phơng và đa phơng đang là yêu cầu và xu hớng tất yếu của mỗi
quốc gia. Trớc xu thế đó, hệ thống kế toán Việt Nam cũng đang từng bớc đợc cải cách
và hoàn thiện cho phù hợp yêu cầu của cơ chế kinh tế mới trong nền kinh tế mở, phù
hợp thông lệ và Chuẩn mực quốc tế.
Trải qua 6 năm thực hiện Chơng trình cải cách Kế toán Việt Nam 10 năm 1995-
2005, hệ thống kế toán Việt Nam đã có sự phát triển đáng khích lệ trong việc tiếp cận
và hình thành những nguyên tắc kế toán hiện đại của kinh tế thị trờng, từng bớc tạo
dựng khuôn khổ pháp lý cho kế toán, kiểm toán trong môi trờng chung của thông lệ

hỏi có nhận thức đầy đủ, hớng dẫn cụ thể về kế toán quản trị ở Việt Nam đang là một
nhu cầu hết sức bức thiết góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống kế toán Việt Nam.
Kế toán còn đợc hiểu là một nghề của quản lý hay một môn Hạch toán tác
nghiệp với các bớc kỹ thuật chuyên sâu trong quá trình từ ghi chép, xử lý phân tích các
nghiệp vụ kinh tế trên chứng từ, sổ tài khoản đến lập báo cáo kế toán và khoá sổ. Sự
thống nhất giữa các bớc này cũng nh quan hệ giữa chúng đợc thể hiện thông qua
nguyên lý chung về tổ chức hạch toán kế toán.
Tổ chức hạch toán kế toán là xây dựng mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành bản
chất của hạch toán kế toán: chứng từ, tính giá, đối ứng kế toán và tổng hợp-cân đối
thông qua tổ chức hệ thống ghi chép của kế toán trên chứng từ, sổ tài khoản và báo cáo
kế toán cho các mục đích quản lý.
Trên cơ sở đối tợng và nhiệm vụ của tổ chức hạch toán kế toán, nội dung tổ chức
hạch toán kế toán bao gồm:
Tổ chức bộ sổ kế toán
Tổ chức công tác kế toán
Tổ chức bộ máy kế toán
Mỗi một tổ chức trên đều chứa đựng 4 yếu tố cơ bản của hệ thống hạch toán kế
toán: chứng từ, tính giá, đối ứng kế toán, tổng hợp-cân đối và đều là những công việc
không thể tách rời trong tổ chức hạch toán kế toán. Bởi vậy, tổ chức sổ kế toán là một
trong những điều kiện để tổ chức tốt công tác kế toán, tổ chức khối lợng công tác kế
toán là cơ sở để xây dựng bộ máy kế toán thích hợp nhằm tổ chức công tác kế toán
hiệu quả, phục vụ yêu cầu quản lý tại đơn vị.
Tổ chức hệ thống sổ kế toán thực chất là thiết kế khối lợng công tác hạch toán
trên hệ thống sổ tài khoản theo một quy tắc nhất định trên cơ sở chứng từ kế toán
nhằm mục đích lập báo cáo kế toán. Sổ tài khoản chính là phơng tiện vật chất để thực
hiện công tác kế toán.
Nội dung tổ chức sổ kế toán:
Xây dựng hệ thống các loại sổ với nhiệm vụ xác định loại sổ và số lợng sổ
mỗi loại.
Thiết kế nội dung, hình thức kết cấu của các sổ tài khoản mỗi loại.

ợng công tác kế toán còn bao gồm khối lợng hạch toán tổng hợp cho đối tợng và hạch
toán chi tiết cho một số đối tợng. Ngoài ra, khối lợng công tác kế toán còn đợc tổ chức
trên hai hệ thống kế toán tài chính và kế toán quản trị đáp ứng nhu cầu cung cấp thông
tin phục vụ chủ thể không những bên ngoài mà cả bên trong nội bộ đơn vị.
Công tác kế toán phổ biến đợc tổ chức theo những phần việc riêng gọi là phần
hành kế toán. Phần hành kế toán là khối lợng công tác kế toán gắn với một đối tợng cụ
thể của hạch toán kế toán nh: vốn bằng tiền, tài sản cố định, vật liệu đầu vào, chi phí
sản xuất và tính giá thành, tiêu thụ và kết quả tiêu thụ... Từ đó, mỗi phần hành lại đợc
phân chia logic từ tiền tại quỹ đến tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển; từ xây
dựng cơ bản đến mua sắm và thanh lý hay nhợng bán tài sản cố định; từ thu mua đến
dự trữ nguyên vật liệu; từ hạch toán chi phí trực tiếp cho từng loại hoạt động đến chi
phí chung phân bổ cho từng loại hoạt động đó; từ dự trữ đến tiêu thụ hàng hoá, xác
định và phân phối lợi nhuận;...
Trong mỗi phần hành này, đơn vị hạch toán tiến hành tổ chức khép kín một quy
trình kế toán từ giai đoạn hạch toán ban đầu đến đến giai đoạn ghi sổ tài khoản và kết
thúc ở giai đoạn lập báo cáo kế toán. Và trong đó, có thể tiến hành hạch toán chi tiết,
tổng hợp cho đối tợng trong phần hành. Do vậy, tổ chức công tác kế toán là xây dựng
hệ thống chỉ tiêu thông tin theo các phần hành thông qua việc thiết kế khối lợng công
tác kế toán theo 3 giai đoạn, theo mức độ chi tiết hay tổng hợp, theo nhu cầu quản lý
bên trong hay bên ngoài. Theo đó, các phơng pháp hạch toán kế toán: chứng từ, tính
giá, đối ứng tài khoản, tổng hợp-cân đối gắn liền với 3 giai đoạn hạch toán của một
chu trình khép kín và mối quan hệ giữa các phơng pháp đó đợc cụ thể hoá thích hợp
với mỗi phần hành cụ thể:
Phơng pháp chứng từ biểu hiện trên thực tế thông qua hệ thống bản chứng từ và quy
trình luân chuyển chứng từ tại mỗi phần hành.
Phơng pháp tính giá biểu hiện qua cách thức xác định giá thành thực tế và các khoản
mục chi phí tại mỗi phần hành.
Phơng pháp đối ứng tài khoản đợc biểu hiện qua các quan hệ đối ứng kế toán và cách
ghi chép vào sổ tài khoản chi tiết, tổng hợp của mỗi phần hành.
Phơng pháp tổng hợp-cân đối biểu hiện thông qua hệ hệ thống báo biểu kế toán của kế

hiệu quả kinh tế cao nhất.
Công tác quản lý vật liệu yêu cầu cung cấp các thông tin về số lợng, chủng loại,
chất lợng, giá trị vật liệu nhập, xuất, tồn cũng nh định mức tiêu hao và định mức dự trữ
ở tất cả các khâu, từ khâu thu mua, bảo quản, dự trữ đến khâu sử dụng.
Vì vậy, tổ chức kế toán vật liệu có nhiệm vụ tổ chức phân loại và đánh giá thống
nhất các loại vật liệu; tổ chức hệ thống chứng từ, sổ chi tiết, sổ tổng hợp theo phơng
pháp hạch toán hàng tồn kho thích hợp; tổ chức hệ thống báo cáo kế toán vật liệu trên
báo cáo bộ phận và báo cáo tổng thể theo yêu cầu quản lý.
Nếu nh tổ chức công tác kế toán là thiết kế khối lợng công tác kế toán trên hệ
thống các loại chứng từ, sổ chi tiết, tổng hợp và báo cáo kế toán thì tổ chức công tác kế
toán vật liệu là thiết kế khối lợng công tác kế toán của phần hành vật liệu trên hệ hệ
thống chứng từ, sổ sách và báo cáo sử dụng cho phần hành kế toán vật liệu.
Trên cơ sở đối tợng và nhiệm vụ, nội dung tổ chức công tác kế toán bao gồm các
bớc sau:
B ớc 1 : Tổ chức giai đoạn hạch toán ban đầu bao gồm việc kết hợp tổ chức chứng
từ và tính giá.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status