LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC
ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP.
I. Vai trò của tổ chức công tác kế toán bán hàng.
Thương mại thực chất là quá trình trao đổi hàng hoá thông qua mua
bán trên thị trường. Theo nghĩa rộng, thương mại là quá trình kinh doanh,
là khâu tất yếu của quá trình tái sản xuất và được coi là mạch máu của quá
trình sản xuất và tiêu dùng. Hoạt động thương mại thực hiện chức năng chủ
yếu là mua, bán, trao đổi, dự trữ hàng hoá.
Trong đó, bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động kinh
doanh, của doanh nghiệp thương mại. thông qua bán hàng, giá trị và giá trị
sử dụng của hàng hoá được thực hiện, vốn của doanh nghiệp thương mại
được chuyển từ hình thái hiện vật là hàng hoá sang hình thái giá trị (tiền
tệ), doanh nghiệp thu hồi được vốn bỏ ra, bù đắp được chi phí và có nguồn
tích lũy để mở rộng kinh doanh.
Mỗi doanh nghiệp là một đơn vị hạch toán kinh doanh độc lập, tự tổ chức,
quản lý hoạt động kinh doanh của mình. Đối với doanh nghiệp thương mại phải
tổ chức rất nhiều hoạt động khác nhau như tạo nguồn mua hàng, nghiên cứu thị
trường, quản lý dự trữ. Trong đó bán hàng là khâu quan trọng nhất, chỉ có bán
được hàng hoá thì doanh nghiệp mới thu hồi được vốn kinh doanh, thu được lợi
nhuận và mở rộng hoạt động kinh doanh của mình.
Tổ chức tốt công tác bán hàng là yếu tố quan trọng kích thích sự tăng
trưởng nền kinh tế và mở rộng thị trường cho sản xuất trong kỳ kinh doanh
tiếp theo. Mặt khác, điều này còn góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Bán hàng kéo theo sự phát triển của sản xuất, đây là nguồn thu hút
lao động lớn với thu nhập ổn định góp phần giải quyết tình trạng thất
nghiệp và nâng cao đời sống dân cư.
Chính vì vậy, việc tổ chức tốt công tác kế toán bán hàng có ý nghĩa
hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất sản phẩm xã hội nói chung và
trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng.
II. Yêu cầu của tổ chức công tác kế toán bán hàng trong
1.Thời điểm xác định hàng hoá được tiêu thụ.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thương mại phục
vụ cho một số lượng đông đảo người tiêu dùng, bao gồm các cá nhân,
các đơn vị sản xuất, kinh doanh khác và các cơ quan tổ chức xã hội.
Vì thế, các doanh nghiệp kinh doanh thương mại có thể bán hàng
theo nhiều phương thức khác nhau như bán buôn, bán lẻ hàng hoá, đại lý
ký gửi. Trong mỗi phương thức bán hàng lại có thể thực hiện dưới nhiều
hình thức khác nhau (trực tiếp, chuyển hàng chờ chấp nhận,…)
Thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng là thời điểm hàng hoá được
xác định là tiêu thụ. Cụ thể:
- Bán buôn qua kho, bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thứcgiao
hàng trực tiếp: Thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm đại diện bên mua
ký nhận đủ hàng, thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận nợ.
- Bán buôn qua kho, bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển
hàng: Thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm thu được tiền của bên mua
hoặc bên mua xác nhận đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán.
- Bán lẻ hàng hoá: Thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm nhận
được báo cáo bán hàng của nhân viên bán hàng.
- Bán hàng đại lý ký gửi: Thời điểm ghi nhận doanh thu là thời điểm
cơ sở đại lý, ký gửi thanh toán tiền hàng hay chấp nhận thanh toán hoặc
thông báo hàng đã bán được.
2. Hàng hoá được coi là hoàn thành việc bán trong doanh nghiệp
thương mại, được ghi nhận doanh thu bán hàng phải đảm bảo các điều kiện
nhất định. thưo quy định hiện hành, được coi là hàng bán phải thoả mãn các
điều kiện sau.
- Hàng hoá phải thông qua quá trình mua, bán và thanh toán theo
một phương thức thanh toán nhất định.
- Hàng hoá phải được chuyển quyền sở hữu từ doanh nghiệp thương
mại (bên bán) sang bên mua và doanh nghiệp thương mại đẵ thu được tiền
hay một loại hàng hoá khác hoặc được người mua chấp nhận nợ.
hoặc giá chưa có thuế (thuế VAT).
- Doanh thu bán hàng thuần: là phần còn lại của doanh thu bán hàng
sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu.
Công thức xác định:
Doanh thu thuần =
Tổng
doanh thu
-
Các khoản
giảm trừ
IV. Nhiệm vụ của kế toán
Trong quản lý kinh doanh ở các doanh nghiệp thương mại kế toán luôn
giữ vai trò hết sức quan trọng vì nó là công cụ hiệu lực để điều hành, quản
lý hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, kiểm tra việc bảo vệ sử dụng
tài sản, vật tư, tiền vốn nhằm đảm bảo quyền chủ động trong sản xuất kinh
doanh và tự chủ tài chính của các donh nghiệp. Ngoài ra, đây còn là công
cụ để thực hiện tốt hạch toán kinh doanh. Do đó, kế toán trong các đơn vị
kinh doanh hàng hoá phải thực hiện tốt, nhất là bộ phận kế toán bán hàng.
Trong doanh nghiệp thương mại, nghiệp vụ bán hàng có các
nhiệm vụ cơ bản sau:
- Ghi chép, phản ánh kịp thời, đầy đủ và chính xác tìnhd hình bán hàng
của doanh nghiệp trong kỳ cả về giá trị và số lượng hàng bán trên tổng số
và trên từng mặt hàng, từng địa điểm bán hàng, từng phương thức bán
hàng.
- Tính toán và phản ánh chính xác tổng giá thanh toán của hàng bán và bao
gồm cả doanh thu bán hàng, thuế giá trị gia tăng đầu ra của từng nhóm mặt
hàng, từng hóa đơn, từng khách hàng, từng đơn vị trực thuộc (theo các cửa
hàng, quầy hàng,…)
- Xác định chính xác giá mua thực tế của lượng hàng đã tiêu thụ, đồng thời
phân bổ chi phí thu mua cho hàng tiêu thụ nhằm xác định kết quả bán hàng.
Số lượng
hàng hoá
xuất kho
x
Giá bình quân
một đơn vị
hàng hoá
Trong đó, đơn giá bình quân một đơn vị hàng hoá được tính theo công
thức sau:
- Giá thực tế bình quân cả kỳ dự trữ:
Giá thực tế bình
quân cả kỳ dự trữ
=
Giá thực tế hàng hóa
tồn đầu kỳ
+
Giá thực tế hàng hóa
nhập trong kỳ
Lượng thực tế hàng
hóa tồn đầu kỳ
+
Lượng thực tế hàng hoá
nhập trong kỳ
Tuy nhiên, độ chính xác không cao và việc tính toán chỉ tiêu được
thực hiện vào cuối tháng nên ảnh hưởng lớn đến tiến độ của các khâu kế
toán khác trong doanh nghiệp.
- Giá bình quân cuối kỳ trước:
Giá bình quân cuối kỳ trước =
Giá thực tế hàng hóa tồn đầu kỳ (cuối kỳ trước)
Lượng thực tế hàng hóa tồn đầu kỳ (cuối kỳ
phương pháp này là giá thực tế của hàng hóa nào mua trước sẽ xuất bán
trước. Do vậy, giá trị của hàng hóa tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế hàng
hóa mua vào sau cùng trong kỳ.
Ưu điểm của phương pháp này là nó gần đúng với số lượng nhập
xuất hàng hóa trong thực tế, nó phản ánh tương đối chính xác giá trị hàng
hóa xuất kho và tồn kho. Hơn nữa, giá trị hàng tồn kho phản ánh gần sát
với giá thị trường. Bởi vì, giá trị của hàng hóa tồn kho bao gồm giá trị của
hàng hóa được mua ở những lần sau cùng.
1.1.3. Phương pháp nhập sau – xuất trước (LIFO):
Theo phương pháp này, kế toán giả định về mặt giá trị những hàng
hoá mua vào sau sẽ được xuất kho trước. Cụ thể, khi xuất hết hàng hóa
nhập sau mới đến hàng nhập trước kề nó. Phương pháp này được áp dụng
khi giá cả biến động một chiều: lúc tăng lúc giảm thì sử dụng phương pháp
này hợp lý hơn.
1.1.4. Phương pháp giá đích danh:
Phương pháp này phù hợp với những doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa
có giá trị lớn và có điều kiện bảo quản riêng theo từng lô hàng hóa nhập kho.
Chính vì vậy, khi xuất kho lô hàng nào sẽ tính giá đích danhcủa lô hàng đó.
Đây là phương pháp lí tưởng vì nó tuân thủ theo nguyên tắc chi phí
phù hợp với doanh thu thực tế. Tuy nhiên,việc áp dụng phương pháp này
đòi hỏi những điều kiện rất khắt khe. Chỉ có thể áp dụng được khi hàng tồn
kho có thể phân biệt được từng loại riêng rẽ. Đối với doanh nghiệp có
nhiều loại hàng hóa thì rất khó để áp dụng phương pháp này.
Như vậy, chế độ kế toán Việt Nam hiện nay cho phép các doanh
nghiệp sử dụng một trong số bốn phương pháp trên để xác định giá vốn
hàng bán. Các phương pháp tính giá xuất kho hàng bán đưa ra hoàn toàn
phù hợp với chuẩn mực IAS2 về hàng hóa tồn kho như:
- Đối với loại hành nhận diện được mua hoặc sản xuất bởi doanh nghiệp
thì giá phí tồn kho bao gồm tất cả các giá đích thị của nó. Các loại hàng
này được đánh giá theo giá thực tế đích danh.
bán ra
trong kỳ
Giá mua hàng hóa
tồn kho cuối kỳ
+
Giá mua hàng
hóa xuất bán
* Chứng từ sử dụng:
Căn cứ để hạch toán giá vốn hàng bán bao gồm các chứng từ sau:
- Phiếu xuất kho.
- Lệnh điều chuyển nội bộ.
- Thông báo của đại lý về số hàng gửi bán đã được tiêu thụ.
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ.
1.2. Hạch toán giá vốn hàng bán:
Hạch toán giá vốn hàng tồn kho được thực hiện theo hai phương
pháp là phương pháp kê khai thường xuyên và phương pháp kiểm kê định
kỳ. Việc sử dụng phương pháp nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh
doanh của doanh nghiệp, vào yêu cầu công tác quản lý, vào trình độ kế
toán cũng như quy định của chế độ kế toán hiện hành.
1.2.1. Hạch toán giá vốn theo phương pháp kê khai thường xuyên.
Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi, phản
ánh thường xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình nhập – xuất – tồn kho
hàng hóa trên sổ kế toán hàng tồn kho.
Trong trường hợp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên thì
các tài khoản hàng tồn kho được dùng để phản ánh số hiện có, tình hình
tăng giảm của hàng hóa. Vì vậy, hàng hoá tồn kho trên sổ ké toán có thể
được xác định ở bất cứ thời điểm nào trong kỳ kế toán.
Cuối kỳ kế toán căn cứ vào số liệu kiểm kê thực tế hàng hóa tồn kho
so sánh đối chiếu với hàng hoá trên sổ sách kế toán. Về nguyên tắc, số tồn
kho thực tế luôn phù hợp với số tồn kho trên sổ kế toán.
H ng gà ửi bán được tiêu thụ
Xuất h ng gà ửi đại lý
Kết chuyển giá vốn h ng bánà
Xuất bán trực tiếp qua kho
Hang chuyển bán thẳng không qua kho
Phân bổ chi phí thu mua h ng tiêu thà ụ trong kỳ
TK 331
TK 1562
TK1561 Tk 157 Tk 632
TK 911
1.2.2. Hạch toán kế toán giá vốn theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp theo dõi và phản ánh
một cách không thường xuyên, liên tục về tình hình biến động hàng hoá
trên các tài khoản của từng loại hàng hoá tồn kho mà chỉ phản ánh giá trị
hàng tồn đầu kỳ và cuối kỳ của chúng trên cơ sở kiểm kê và đánh giá hàng
hoá tồn kho cuối kỳ. Trên cơ sở đó tính ra giá trị hàng hoá đã xuất bán
trong kỳ theo công thức:
Trị giá
hàng hoá
xuất bán
=
Trị giá vốn
hàng tồn
đầu kỳ
+
Trị giá vốn
hàng nhập
trong kỳ
-
Trị giá vốn
TK 155, 156, 157 Tk 6112 Tk 632 Tk 911
Kết chuyển giá
vốn h ng hoáà
Kết chuyển giá
vốn h ng bánà
Giá vốn hàng hoá tiêu
thụ trong kỳ
Kết chuyển giá
vốn h ng hoáà
2. Hạch toán doanh thu bán hàng.
2.1. Xác định doanh thu bán hàng.
Doanh thu bán hàng là tổng giá bán của số sản phẩm, hàng hoá hay
dịch vụ cung cấp cho khách hàng.
Đối với cơ sở kinh doanh thuộc diện chịu thuế GTGT theo phương
pháp khấu trừ thì doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ thì đó là toàn bộ tiền
bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ chưa có thuế GTGT bao gồm cả phụ thu và phí
thu thêm ngoài giá bán (nếu có) mà cơ sở kinh doanh được hưởng.
Đối với cơ sở kinh doanh thuộc diện chịu thuế GTGT theo phương
pháp trực tiếp trên GTGT và đối với hàng hoá dịch vụ không thuộc diện
chịu thuế GTGT thì doanh thu bán hàng là toàn bộ tiền bán hàng bao gồm
cả phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có) mà cơ sở kinh doanh
được hưởng bao gồm cả thuế.
2.1.1 Chứng từ hạch toán kế toán doanh thu bán hàng
Các loại chứng từ sau thường phải lập để xác định doanh thu tiêu thụ
và làm căn cứ ghi doanh thu trên sổ kế toán:
- Hoá đơn GTGT (đối với doanh nghiệp áp dụng thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ) hoặc hoá đơn bán hàng (đối với doanh nghiệpáp
dụng thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp).
- Bảng kê hàng gửi bán đã tiêu thụ hoặc thông báo của đại lý cho
hàng đã tiêu thụ.
Trong mỗi phương thức bán hàng, doanh thu bán hàng cho khách
hàng dù là ngoài doanh nghiệp hay nội bộ doanh nghiệp thì đều được ghi
nhận theo bút toán tổng quát sau:
Doanh thu bán hàng hoá, sản phẩm thuộc diện chịu thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ thuế, kế toán ghi:
Nợ TK 111, 112, 131
Có TK 511 Doanh thu bán hàng (chưa có thuế GTGT)
Có TK 512 Doanh thu bán hàng nội bộ (chưa có thuế GTGT)
Có TK 3331 Thuế GTGT phải nộp
Doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế hoặc chịu
thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, kế toán ghi:
Nợ TK 111, 112, 131
Có TK 511 Doanh thu bán hàng (Tổng giá thanh toán)
Có TK 512 Doanh thu bán hàng nội bộ (Tổng giá thanh toán)
Tuy nhiên, trong một số phương thức bán hàng đặc biệt cách hạch
toán kế toán doanh thu bán hàng được ghi như sau:
* Bán hàng theo phương thức trả góp:
- Đối với trường hợp hàng hoá thuộc diện chịu thuế GTGT theo phương
pháp khấu trừ, kế toán xác định doanh thu bán hàng là giá bán trả một lần
chưa có thuế GTGT, kế toán ghi:
Nợ TK 111, 112 Tiền thu lần đầu
Nợ Tk 131 Phải thu khách hàng
Có TK 3331 Thuế GTGT phải nộp
Có TK 511 Doanh thu bán hàng
Có TK 512 Doanh thu bán hàng nội bộ
Có TK 3387 Doanh thu chưa thực hiện: là số chênh lệch
giữa giá bán trả góp với số tiền đã thu và phải thu
Hàng kỳ kế toán xác định và kết chuyển lãi bán hàng trả góp sang TK 515
– “Doanh thu hoạt động tài chính”.
- Đối với trường hợp hàng hoá thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt,
phương thức bán đúng giá bên chủ hàng quy định, bên đại lý chỉ được nhận
tiền hoa hồng. Chi phí hoa hồng được bên gửi bán tính vào chi phí bán
hàng. Số thuế GTGT trên phần hoa hồng được hưởng.
- Phương pháp hạch toán tại đơn vị giao đại lý:
Căn cứ vào bảng kê hoá đơn hàng hoá bán ra qua đại lý đã tiêu thụ trong
tháng, doanh nghiệp lập hoá đơn GTGT phản ánh doanh thu của hàng hoá đã
tiêu thụ giao cho đơn vị đại lý và xác định khoản hoa hồng phải trả, kế toán ghi:
Nợ TK 641 Khoản hoa hồng cho đại lý
Nợ TK 111, 112, 131 Số tiền nhận được sau khi trừ hoa hồng
Có TK 511 Doanh thu bán hàng qua đại lý
Có TK 3331 Thuế GTGT đầu ra
- Phương pháp hạch toán tại đơn vị nhận đại lý:
Khi nhận hàng bán hộ theo phương thức này kế toán ghi:
Nợ TK 003 Hàng hoá nhận đại lý, ký gửi
Khi tiêu thụ được hàng hoá ghi đơn:
Có TK 003
Căn cứ vào hoá đơn bán hàng đại lý hạch toán kế toán số tiền
bán phải trả:
Nợ TK 111, 112, 131 Tổng giá thanh toán
Có TK 331 Phải trả người bán (Tổng giá thanh toán)
Phản ánh hoa hồng được hưởng:
Nợ TK 331 Hoa hồng được hưởng
Có TK 511 Hoa hồng được hưởng
Thanh toán tiền cho bên giao đại lý:
Nợ TK 331 Phải trả người bán
Có TK 111, 112
2.2. Hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu
2.2.1. Hạch toán nghiệp vụ giảm giá hàng bán
a. Xác định khoản giảm giá hàng bán
Giảm giá hàng bán là khoản giảm giá cho người mua do hàng hoá
Có TK 532 Giảm giá hàng bán
c. Hạch toán chiết khấu thương mại:
Chiết khấu thương mại thực chất cũng như một khoản giảm giá. Nó là
khoản thưởng cho khách hàng vì mua với số lượng lớn trong một lần hoặc
do doanh nghiệp có quy định khi khách hàng mua một lượng hàng hóa nhất
định trong một khoảng thời gian quy định thì khách hàng sẽ nhận được một
khoản tiền thưởng.
Tài khoản sử dụng:
Để hạch toán khoản này kế toán sử dụng TK 521 – “ Chiết khấu
thương mại”.
Nội dung kết cấu tài khoản 521 được ghi như sau:
- Bên Nợ: Số chiết khấu thương mại đã chấp nhận thanh toán cho khách hàng.
- Bên Có: Kết chuyển toàn bộ số chiết khấu thương mại sang tài khoản 511-
“Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác định doanh thu thuần của kỳ
hạch toán.
TK 521 cuối kỳ không có số dư.
TK 521 có 3 tài khoản cấp hai:
+ TK 5211: Chiết khấu hàng hóa.
+ TK 5212: Chiết khấu thành phẩm.
+ TK 5213: Chiết khấu dịch vụ.
Trình tự hạch toán:
- Phản ánh số tiền chiết khấu thươn g mại thực tế phát sinh trong kỳ,
kế toán ghi:
Nợ TK 521 Chiết khấu thương mại.
Nợ Tk 3331 Thuế GTGT được khấu trừ.
Có TK 111, 112, 131
- Cuối kỳ kết chuyển số tiền chiết khấu thương mại đã chấp thuận
cho người mua sang TK 511, kế toán ghi:
Nợ Tk 511 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Có TK 521 Chiết khấu thương mại.
- Bên Nợ: Trị giá của hàng bán bị trả lại.
- Bên Có: Kết chuyển doanh thu hàng bán bị trả lại trừ vào
doanh thu trong kỳ.
Tài khoản 531 cuối kỳ không có số dư.
Trình tự hạch toán:
Phản ánh doanh thu và thuế của hàng bán bị trả lại:
Nợ TK 531 Doanh thu hàng bán bị trả lại (giá chưa có thuế)
Nợ TK 3331 Thuế GTGT tương ứng với số hàng bán bị trả lại
Có TK 111, 112, 131
Đối với doanh gnhiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
hoặc hàng hóa chịu thuế TTĐB, thuế xuất khẩu, kế toán ghi:
Nợ TK 531 Trị giá của hàng bán bị trả lại (giá có thuế)
Có TK 111, 112, 131
Các khoản phát sinh liên quan đến hàng bán bị trả lại (nếu có),
kế toán ghi:
Nợ TK 641 Chi phí bán hàng
Có TK 111, 112,...
Phản ánh trị giá hàng bán trả lại nhập kho:
Nợ TK 156 Theo giá thực tế đã xuất kho
Có TK 632 Giá vốn hàng bán
3. Hạch toán chi phí bán hàng
3.1. Xác định chi phí bán hàng
Chi phí bán hàng là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ
hàng hóa của doanh nghiệp, bao gồm:
- Chi phí nhân viên bán hàng: gồm tiền lương và các khoản trích theo lương.
- Chi phí vật liệu bao bì phục vụ cho việc đóng gói sản phẩm, hàng hóa
đi tiêu thụ, phụ tùng dùng cho việc sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ của bộ
phận bán hàng.
- Chi phí dụng cụ đồ dùng phục vụ cho hoạt động bán hàng như các
dụng cụ kiểm tra đo lường, bàn ghế, máy tính,…
+TK 6411: Chi phí nhân viên
+TK 6412: Chi phí vật liệu, bao bì
+TK 6413: Chi phí dụng cụ đồ dùng
+TK 6414: Chi phí khấu hao TSCĐ
+TK 6415: Chi phí bảo hành
+TK 6417: Chi phí dịch vụ mua ngoài
+TK 6418: Chi phí bằng tiền khác
b.Trình tự hạch toán:
- Tính ra tiền lương và phụ cấp phải trả cho nhân viên bộ phận tiêu thụ
Nợ TK 641 (6411)
Có TK 334
- Trích BHYT, KPCĐ, BHXH theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền
lương phát sinh trong kỳ tính vào chi phí, kế toán ghi:
Nợ TK 641 (6411)
Có TK 338 (3382,3383,3384)
- Giá trị vật liệu xuất dùng phục vụ cho bán hàng:
Nợ TK 641 (6412)
Có TK 152
- Chi phí về vật liệu, đồ dùng phục vụ cho tiêu thụ
Nợ TK 641(6413)
Có TK 153 xuất dùng với giá trị nhỏ phân bổ một lần
- Trích khấu hao tài sản cố dịnh ở bộ phận bán hàng:
Nợ TK 641 (6414)
Có TK 214
Đồng thời ghi Nợ TK 004
- Chi phí bảo hành thực tế phát sinh
Nợ TK 641(6415)
Có TK 111,112 chi phí bằng tiền
Có TK 152 chi phí vật liệu sửa chữa
Có TK 155 chi phí sản phẩm đổi cho khách hàng
- Chi phí đồ dùng văn phòng phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp.
- Thuế phí và lệ phí: thuế môn bài, thuế nhà đất,…
- Chi phí dự phòng nợ phải thu khó đòi.