Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Việt Dũng – TS49
PHẦN I
MỞ ĐẦU
Cá rô phi là tên gọi chung của khoảng 80 loài cá thuộc họ Cichlidae, có
nguồn gốc Châu Phi. Mặc dù cá có nguồn gốc từ châu Phi, nhưng chúng lại được
nuôi tập trung chủ yếu ở 2 khu vực chính đó là các nước châu Á và Nam Mỹ, trong
đó sản lượng cá Rô Phi ở các nước châu Á chiếm đến 80% sản lượng cá rô phi trên
toàn thế giới. Hiện có khoảng trên 100 nước trên thế giới nuôi cá rô phi với các loài
khác nhau nhưng chủ yếu tập trung vào loài cá rô phi vằn. Cá rô phi được coi là đối
tượng nuôi thuỷ sản có tiềm năng to lớn cho tiêu thụ nội địa và cho xuất khẩu nên
đang được đầu tư nghiên cứu phát triển mạnh trong thế kỷ 21 (Fitzsimmons, 2000).
Nước ta có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản: Diện tích
mặt nước tiềm năng phong phú, tuy nhiên vẫn chưa được khai thác một cách có
hiệu quả. Những năm gần đây sản lượng nuôi thuỷ sản của cả nước không ngừng
tăng cao và đa dạng về sản phẩm. Hiện nay diện tích nuôi và sản lượng cá rô phi ở
nước ta cũng đang phát triển mạnh. Tuy nhiên, miền Bắc Việt Nam lại gặp khó
khăn khi nuôi cá rô phi đó là mùa đông lạnh: mùa vụ nuôi ngắn, kích thước thương
phẩm nhỏ do tâm lý sợ cá bị chết rét do đó đã thu hoạc từ sớm. Để đẩy nhanh và
đưa cá rô phi thành đối tượng nuôi chủ lực ở miền Bắc, trong tương lai cần phải
khắc phục được những nhược điểm của hình thức canh tác hiện nay. Việc xem xét
khả năng chịu lạnh của cá rô phi được xem như là một trong những khía cạnh khoa
học để dần nâng cao khả năng chịu lạnh của cá rô phi.
Trong những năm vừa qua có nhiều công trình nghiên cứu thành công nhằm
phát huy những đặc tính ưu việt đáp ứng nhu cầu của người nuôi như công trình
nghiên cứu cho ra công nghệ sản xuất giống cá rô phi toàn đực thông qua sử dụng
hormon, lai xa, tạo con siêu đực.Chọn giống là một trong những biện pháp nhằm
tăng khả năng thích ứng của động vật với điều kiện môi trường mới. Do đó việc
1
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Việt Dũng – TS49
chọn giống nâng cao khả năng chịu lạnh của cá rô phi sẽ mở ra triển vọng cho các
quốc gia có nhiệt độ trung bình thấp, các khu vực có mùa đông nhiệt độ xuống thấp
NO
2
.
3
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Việt Dũng – TS49
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Sơ lược một số đặc điểm sinh học của cá rô phi dòng NOVIT 4
2.1.1. Đặc điểm về nguồn gốc và phân loại cá rô phi.
- Nguồn gốc cá rô phi dòng GIFT.
Dự án nâng cao chất lượng di truyền cá rô phi nuôi trong trang trại được thực
hiện tại Phillipine từ năm 1987 đến năm 1997 dưới sự tài trợ của trung tâm bảo vệ
nguồn lợi thủy sinh (ICLARM). Dự án có tên gọi quốc tế là “Geneticaly Improved
of Farm Tilapia”, được viết tắt với tên là GIFT. Cá rô phi dòng GIFT là kết quả của
8 dòng cá rô phi khác nhau, trong đó có 4 dòng lấy từ ngoài tự nhiên Châu Phi và 4
dòng cá đã được nuôi ở các nước khác nhau thuộc châu Á. Sau khi có kết quả, dự
án đã tiến hành chọn giống nhằm nâng cao sức sinh trưởng để nâng cao chất lượng
di truyền của dòng cá này và cung cấp cho một số quốc gia thử nghiệm và phát
triển.
Sau 4 thế hệ chọn giống tại viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, cá rô phi
chọn giống dòng GIFT đã có những đặc điểm ưu việt. Đặc biệt tốc độ sinh trưởng,
do đó đã được đăng ký với tên mới là NOVIT4 với cục bản quyền sáng chế. Do vậy
cá chọn giống dòng GIFT đã có một tên gọi mới ở nước ta.
Phân loại cá rô phi
Bộ cá Vược Perciformes
Bộ phụ Percoidae
Họ Cichlidae
Theo thống kê có khoảng 80 loài cá rô phi được phân loại thuộc 3 giống
chính, đó là: Tilapia, Sarotherodon, Oreochromis, nhưng theo đánh giá chỉ có
4
Hỡnh 1: Hỡnh thc sinh sn v ngm trng ca cỏ rụ phi
2.1.3 Mt s nghiờn cu v iu kin mụi trng phự hp cho s phỏt trin ca
cỏ rụ phi.
* Nhit :
Cỏ rụ phi cú ngun gc t x núng nờn chỳng l loi cỏ a nhit, cú kh
nng thớch ng tt vi iu kin nhit cao hn l i vi nhit thp. Chỳng
cú th chu c nhit cao ti 40
o
C.
Nhiệt độ thuận lợi cho sinh trởng của cá rô phi là 20 - 35
o
C, tối u ở 28 - 30
o
C
(Balarin và Haller, 1982). Trên 32
o
C tốc độ tăng trởng và tiêu thụ thức ăn thay đối tỉ
lệ nghịch với quá trình tăng nhiệt độ. Mt s tỏc gi khỏc cng cú cựng quan im:
Marcel Huet, 1994 cng khng nh, ngng nhit thớch hp cho sinh trng
phỏt trin ca cỏ l 20 30
o
C, cũn theo Zhong Lin, 1991 l 25 35
o
C.
Khi nhiệt độ xuống thp hn 20
o
C cỏ tng trng chm v ngng n nhit
dới 15
o
C. Khi nhit xung di 10
C ( Lờ
Quang Long v ctv, 1961).
Cỏc tỏc gi nghiờn cu kh nng chu lnh ca cỏ rụ phi cho bit cỏc dũng
cỏ rụ phi khỏc nhau thỡ kh nng chu lnh ca chỳng cng khỏc nhau. C th
ngng nhit thp ca dũng Egypt l 10
o
C, dũng Evory Coast l 12
o
C, dũng
Ghana l 14
o
C ( khater v Smitherman, 1988) dũng GIFT l 8,4 - 11
o
C ( Li Sifa,
1977).
Nhiệt độ có ảnh hởng rất lớn đến sinh sản của cá rô phi. Quá trình sinh sản của cá
rô phi chỉ bắt đầu khi nhiệt độ nớc lớn hơn 20
o
C. Nhiệt độ thích hợp cho sinh sản của cá
rô phi là 26 -29
o
C. Theo Chervinski (1982), khi nhiệt độ nớc dới 20
o
C thì tuyến sinh dục
ngừng phát triển. Thời gian ấp trứng của cá rô phi cũng phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ.
Nhiệt độ càng cao thì thời gian ấp càng ngắn lại. ở nhiệt độ 20
o
C, thời gian ấp là 6 ngày,
nhiệt độ 28
o
mg/l l O.Mossambicus, O. Aureus (Chervinski, 1982). Tuy nhiờn nu thiu ụxy
trong thi gian kộo di cú th lm gim tc tng trng ca cỏ rụ phi.
* Hm lng Hydrosulfide (H
2
S)
Là chất khí, mùi trứng thối, rất độc, hoà tan rất nhiều trong nớc, khi tan thể
hiện tính axit yếu. H
2
S tác động lên cơ thể động vật trớc hết chiếm đoạt ôxy trong
máu làm con vật chết ngạt, đồng thời tác động lên hệ thần kinh làm con vật bị tê liệt
(Nguyễn Đức Hội, 1997).
Hyđrosulfide trong thuỷ vực đợc tạo thành do hoạt động phân huỷ chất hữu cơ
của vi khuẩn trong điều kiện yếm khí và vi khuẩn lu huỳnh khử sulphate trong nớc
nơi có nhiều sulphate.
Vit Nam nghiờn cu v nh hng ca H
2
S ti i sng ca tụm cỏ nuụi
trong ao m cha nhiu nhng nhỡn chung, cỏc tỏc gi u cho thy vi hm
lng 0,1 - 0,2 mg/l tụm cỏ mt thng bng, hm lng 1 mg /l tụm cỏ cht.
8
Khoỏ lun tt nghip Nguyn Vit Dng TS49
Trong ao nuụi cỏ, hm lng H
2
S khụng nờn quỏ 0,1 mg/l (Nguyn c Hi,
1997). Khớ H
2
S l cht d bay hi cho nờn trong ao nuụi chỳng ta d dng loi tr
ra bng s dng mỏy sc khớ v cỏc h thng mỏy qut nc.
* V nhu cu tiờu th ụxi húa hc
Trong mụi trng ao nuụi cỏ ch tiờu nghiờn cu cht lng nc COD
Cá rô phi cũng như các loài cá khác có tốc độ sinh trưởng và phát triển đặc
trưng. Tuy nhiên các loài cá khác nhau thì sự phát triển cũng khác nhau. Chẳng hạn
trong cùng một giống Oreochromis thì loài O.niloticus phát triển nhanh nhất, sau
đó đến loài O.galilaeus và O.aureus ( Lowe – Mc Conell, 1982).
Khater và Smitherman (1988) đã nghiên cứu sự tăng trưởng của ba dòng cá
rô phi O. Niloticus: dòng Egypt, dòng Ghana và dòng Ivory Coast. Thí nghiệm
được tiến hành trong các bể nhựa, xi măng và ao đất. Kết quả so sánh tăng trưởng
của các dòng cá này được xếp theo thứ tự sau: Egypt> Ivory Coast> Ghana.
Tốc độ tăng trưởng của cá rô phi còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt
đô, mội trường nước, dinh dưỡng... Bón phân cho ao nuôi tạo thức ăn tự nhiên cho
cá là một phương pháp có hiệu quả, rẻ tiền và đang được áp dụng nhiều để tăng sản
lượng thủy sản. Tuy nhiên lượng phân bón tùy vào tình hình cụ thể của ao nuôi. Ở
Thái Lan, điều kiện tự nhiên tương tự như ở nước ta, đã bón phân theo tỷ lệ là 4kg
N và 1kg P/ha/ngày ( Knud – Hansen et al, 1993). Trong ao nuôi, bón phân mà
không sử dụng thức ăn bổ sung thì vẫn có thể cho năng suất cao. Ở Brazil, nuôi cá
rô phi đơn tính trong ao với mật độ 8000 con/ha ( trọng lượng trung bình 25g/con)
và cứ một tuần bón 500kg phân gà/ha. Kết quả năng suất đạt 1.35 tấn/ha sau 189
ngày nuôi, trong lương trung bình khi thu hoạch đạt 186g/con ( Lovshin và De
Silva, 1975 trích trong Pillay, 1988)
10
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Việt Dũng – TS49
Nhiệt độ và độ sâu nước ao cũng ảnh đến tốc độ tăng trưởng của cá rô phi.
Thí nghiệm được tiến hành trong 10 tháng, nuôi cá trong 12 ao ở 4 độ sâu khác
nhau và nhiệt độ nước dao động từ 5-33
0
c. Kết quả cho thấy cá chỉ đạt 250g/con ở
độ sâu 50cm, và độ sâu 100-200cm thì cá sinh trưởng tốt nhất, đặt 348-362g/ con
nhiệt độ nước trên 21
o
c. Nhưng dưới 10
1985
1986
1987
1988
1989
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
Năm
Sản lượng (x 1.000 tấn)
Nuôi trồng Khai thác
Hình 2: Sản lượng nuôi trồng và đánh bắt tự nhiên cá rô phi trên thế giới từ
năm 1994-2003
Mặc dù có nguồn gốc từ Châu Phi, nhưng Châu Á và Nam Mỹ là những nơi
tập trung nuôi và nghiên cứu cá rô phi chính. Trong đó có các nước như Trung
Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Phillippinne ở khu vực Châu á, một số nước Trung
Đông như Ai Cập, Israel, các nước khu vực Nam và Trung Mĩ như Braxin, Ecuado,
Colombia, Nicaragua... là những quốc gia sản xuất và tiêu thụ cá rô phi chủ yếu
trên thế giới, Năm 2003 sản lượng cá rô phi nuôi ở Châu Á chiếm 80% sản lượng
và lợ: Sản lượng ở nước ngọt chiếm 56%, nuôi lồng nước ngọt chiếm 37% và nuôi
nước lợ chiếm 7% tổng sản lượng. Philippin là nước tiên phong ở Châu Á về việc
nuôi cá rô phi trong lồng trên hồ và sông, suối. Việc thử nghiệm nuôi bắt đầu từ
năm 1973, cả nước có khoảng 2000 ha lồng vào năm 2000, sản xuất ra 33.967 tấn
rô phi thương phẩm. Đây cũng là quốc gia đầu tiên trong khu vực sử dụng hormon
giới tính chuyển đổi giới tính sản xuất ra con giống với tỉ lệ giới đực cao (từ 98 –
100%) góp phần nâng cao năng suất sản lượng cá nuôi. Nước này cũng là nước đầu
tiên sử dụng giai lưới cho sản xuất giống cá rô phi (Guerrero, 1997).
Thái Lan nuôi cá Rô phi trong lồng rộng khắp miền Bắc và miền Trung. Sau
thời gian nuôi 90 ÷ 120 ngày, cá đạt kích cỡ 600 ÷ 700g và 120 ÷ 150 ngày, cá đạt
13
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Việt Dũng – TS49
kích cỡ 800 ÷ 900g với tỷ lệ sống 80 ÷ 90%, hệ số thức ăn là 1,0 ÷ 1,8 (Phạm Anh
Tuấn và ctv, 2006).
Các nước Châu Mỹ bắt đầu quan tâm đến nuôi cá Rô phi trong vòng 10 năm
gần đây đặc biệt là sau rủi ro của nghề nuôi tôm do dịch bệnh gây ra. Các nước
vùng Trung Nam Mỹ như Mêhico, Brazil, Ecuador là những nước sản xuất cá Rô
phi chủ yếu ở khu vực này.
Cá Rô phi có nguồn gốc từ Châu Phi nhưng nghề nuôi cá Rô phi chỉ mới
phát triển trong 10 năm qua. Ai Cập là nhà sản xuất lớn nhất, năm 2003 đạt sản
lượng 200.000 tấn, chiếm 90% sản lượng cá Rô phi ở châu lục này. Các quốc gia
khác như Ghana, Nigiêria, Kenya, Zimbabiwe…đều có sản lượng cá Rô phi, tuy
nhiên sản lượng này không đáng kể, chủ yếu là tiêu thụ nội địa.
Sản lượng cá Rô phi ở Châu Âu không đáng kể do nhiệt độ thấp không thuận
lợi để nuôi cá Rô phi và ở đây đang nuôi nhiều loài cá có giá trị khác. Theo thống
kê của FAO, sản lượng cá Rô phi nuôi ở Châu Âu là 270 tấn (năm 1999). Hiện nay,
Bỉ là nơi nuôi nhiều cá Rô phi nhất với sản lượng đạt khoảng 300 tấn/năm.
Nuôi cá rô phi trong lồng bè rất phổ biến tại một số nước như: Đài Loan,
Indonesia, Phillipines, Malaysia, Thái Lan. Đài Loan đã mở đầu phương thức nuôi
rô phi trong lồng nổi, năng suất đạt 4,3-5,4 tấn/lồng/2 vụ/năm. Lồng nổi cỡ mắt
Hán Quốc 1.000 2003 Jamaica 5.200 2001
Trung Đông Châu Phi
Ai Cập 52.755 2001 Zimbabiwe 5.000 2001
Isral 7.000 2001 Nigêria 4.471 2000
Jordan 1.000 2001 Kênya 1.000 2001
(Nguồn: Quy hoạch phát triển nuôi cá rô phi giai đoạn 2006 - 2015, tháng 7/2006).
Nuôi cá rô phi trong ao tôm cũng phát triển ở nhiều nước trên thế giới theo
các hình thức: Nuôi luân canh, xen canh và nuôi lồng. Hình thức này được áp dụng
phổ biến ở Thái Lan, Êcuađo, Mêhicô, Pêru. Nuôi ghép cá rô phi trong ao nuôi tôm
được coi là biện pháp sinh học quản lí hữu hiệu môi trường nước ao nuôi tôm, nuôi
rô phi trong ao sau vụ nuôi tôm có tác dụng làm sạch ao sau vụ nuôi, hạn chế dịch
bệnh tăng cường tính bền vững của các vùng nuôi tôm ven biển. Công nghệ nuôi cá
rô phi trên thế giới ngày càng được phát triển nhằm thu được năng suất cao và tạo
ra lượng sản phẩm tập trung.
2.2.2. Tình hình nuôi cá rô phi ở Việt Nam.
Khác với các loài cá nước ngọt khác ở nước ta có nguồn gốc từ Trung Quốc
nói riêng và ở Châu á nói chung có lịch sử canh tác từ lâu đời, nuôi cá rô phi ở
nước ta có lịch sử hơn 50 năm, khởi đầu từ khi nhập nội cá rô phi đen (O.
mossambicus) vào nước ta đầu những năm 1950. Những thập niên 50 và 60 của thế
kỷ trước cá rô phi được nuôi chủ yếu ở hình thức quảng canh và quảng canh cải
15
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Việt Dũng – TS49
tiến, sử dụng cá hỗn hợp giới tính. Tuy nhiên chất lượng giống của loài này rất
thấp: như trọng lượng cơ thể nhỏ, tốc độ sinh trưởng chậm, chu kỳ đẻ ngắn, nên
phong trào nuôi không được chú ý nuôi đặc biệt là các tỉnh phía bắc.
Năm 1973, cá rô phi vằn O. niloticus được nhập vào miền Nam Việt Nam từ
Đài Loan và được nuôi thử ở miền Bắc từ năm 1977( Nguyễn Công Dân, 1998).
Phong trào nuôi cá rô phi được khôi phục và phát triển dần từ những năm đầu của
thập kỷ 90 sau khi chúng ta nhập lại những dòng cá rô phi vằn có chất lượng tốt,
đặc biệt là cá chọn giống dòng Thái Lan và dòng GIFT từ Phillippine. Tại Việt
Bảng 3: Hiện trạng diện tích, số lượng lồng bè nuôi cá rô phi ở các vùng
Tỉnh/Thành
phố
Diện tích nuôi rô phi (ha)
Nuôi ao (ha) và lồng/bè
(chiếc)
Tổng Diện tích Lợ/mặn Nước ngọt Ao/đầm Lồng/bè
Cỡ lồng
(m3)
Cả nước 22.340 2.068 20.272 15.946 2.036 5-1.250
ĐB. Sông
Hồng 3.604,5 430,0 3.174,5 2.424,5 40,0 12-19
Đông Bắc Bộ 3.288,0 106,0 3.182,0 2.458,0 8,0
Tây Bắc Bộ 964,4 - 964,4 894,4 700,0
Bắc Trung Bộ 1.685,0 660,0 1.025,0 1.535,0 150,0
Duyên hải
NTB 672,0 47,0 625,0 236,0 8,0 10-36
Tây Nguyên 1.570,0 - 1.570,0 1.570,0 -
Đông Nam Bộ 427,0 - 427,0 397,0 502,0
ĐB Sông Cửu
Long 10.129,0 824,5 9.304,5 6.431,0 628,0 5-1.250
Mùa vụ nuôi cá rô phi ở nước ta có sự khác nhau giữa các cùng miền do ảnh
hưởng của thời tiết. Cá rô phi có thể nuôi quanh năm ở các tỉnh phía nam, trong khi
đó các tỉnh phía bắc do có mùa đông lạnh nên vụ nuôi thường ngắn hơn, thường vụ
nuôi từ đầu tháng 4 và kết thúc vào trung tuần tháng12 hàng năm.
Nhìn chung cá rô phi là loài cá nuôi phù hợp với điều kiện của nước ta cả về
tự nhiên và kinh tế, nó đang ngày càng trở thành đối tượng nuôi chiếm tỉ lệ lớn
trong cơ cấu các loài cá nuôi ở nước ta. Tuy nhiên, dù cá đã được nuôi khá phổ
biến ở nhiều địa phương, nhưng vùng nuôi phần lớn còn phân tán, quy mô nhỏ,
vùng sản xuất hàng hóa có quy mô còn ít. Hình thức nuôi gồm nuôi đơn và nuôi
thụ ở các tỉnh lân cận, đặc biệt các thành phố, đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ
18
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Việt Dũng – TS49
Chí Minh. Tại nhiều địa phương cá rô phi có kích cỡ từ 400g/con trở lên được
nhiều người tiêu dùng ưa thích, là một trong những sản phẩm thuỷ sản nước ngọt
có vị thế trong lòng người tiêu dùng. Nước ta có dân số đông, trong 10 năm tới dân
số vẫn tiếp tục gia tăng cùng với nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản của người dân
ngày càng tăng cao sẽ là thị trường lớn, vô cùng quan trọng tiêu thụ cá rô phi, nhu
cầu của người tiêu dùng nội địa với sản phẩm cá rô phi là đa dạng và đòi hỏi chất
lượng ngày càng cao.
Từ những năm đầu của thập niên 90, việc tiếp thu những tiến bộ khoa học- kĩ
thuật trên thế giới trong lĩnh vực nuôi cá rô phi đã mở ra một triển vọng mới cho
nuôi cá rô phi ở nước ta.
* Nhà nước có chính sách tạo điều kiện cho nghiên cứu và nuôi cá rô phi.
Thực hiện Quyết định 694/QĐ-BTS ngày 14 tháng 6 năm 2005 của Bộ
trưởng Bộ Thuỷ sản phê duyệt đề cương và giao Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ
sản I chủ trì xây dựng Quy hoạch phát triển nuôi cá rô phi giai đoạn 2006-2015,
Viện đã tiến hành phối hợp với các đơn vị trong và ngoài ngành thu thập số liệu,
khảo sát bổ sung về hiện trạng, tiềm năng mặt nước, cơ cấu, kỹ thuật và chất lượng
giống cá, mùa vụ và công nghệ nuôi, nguồn thức ăn, vấn đề môi trường và phòng
trị bệnh cá, thị trường tiêu thụ, vốn và các chính sách liên quan.
Đã và đang có nhiều công trình nghiên cứu về rô phi cấp bộ và cấp nhà nước
nhằm tạo ra những con giống chất lượng cao đến người nuôi. Các nhà khoa học
trong nước đã và đang có nhiều công trình nghiên cứu tạo ra những con giống mới
với chất lượng tốt hơn phục vụ sản xuất rô phi của bà con nông dân như công trình
nghiên cứu tạo ra con giống đơn tính đực, những công trình chọn giống tạo ra con
giống với phẩm chất di truyền tốt, chịu lạnh, chịu mặn...
2.3.2. Thách thức.
Bên cạnh những tiềm năng to lớn thì nghề nuôi cá rô phi ở nước ta cũng gặp
không ít những thách thức.