(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu xác định cây trội làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Trám đen (Canarium tramdenum) tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng - Pdf 69

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG THỊ HƯƠNG

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH CÂY TRỘI LÀM CƠ SỞ
CHO VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN GEN
CÂY TRÁM ĐEN (Canarium tramdenum)
TẠI HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN QUỐC HƯNG

Thái Nguyên - 2017


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các
số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác và chưa từng sử dụng để
bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu
và hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn chính xác
và đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2017
TÁC GIẢ

TÁC GIẢ

Hoàng Thị Hương


iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii
MỤC LỤC...................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................... vi
MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1

1. Tính cấp thiết của đề tài.............................................................................. 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................... 2
3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
3.1. Ý nghĩa về mặt khoa học ......................................................................... 2
3.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn sản xuất ............................................................ 2
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ........................................ 3

1.1. Cơ sở khoa học ........................................................................................ 3
1.1.1. Khái quát về cây Trám đen ................................................................... 3
1.1.2. Đặc điểm phân bố ................................................................................. 3
1.1.3. Đặc điểm hình thái................................................................................ 4
1.1.4. Đặc điểm sinh thái ................................................................................ 5
1.1.5.Giá trị kinh tế ........................................................................................ 5
1.1.6. Cơ sở khoa học về cây mẹ (cây trội) ..................................................... 6
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài...................................... 8
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ........................................................ 8

3.2.2. Đánh giá năng suất và phẩm chất của cây Trám đen tại khu vực
nghiên cứu .......................................................................................... 40
3.2.3. Đánh giá ảnh hưởng của nhân tố đất tới sinh trưởng và phát triển
của cây Trám đen tại khu vực nghiên cứu........................................... 43
3.3. Lựa chọn cây trội Trám đen và đề xuất tiêu chí lựa chọn cây trội .......... 44
3.3.1. Lựa chọn cây trội Trám đen ................................................................ 44
3.3.2. Đề xuất bộ tiêu chuẩn lựa chọn cây trội làm cơ sở cho việc bảo tồn và
phát triển nguồn gen cây Trám đen tại huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng ...... 47
3.4. Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển cây Trám đen tại huyện
Hòa An .............................................................................................. 48


v
Chương 4: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ ..................................... 50

4.1. Kết luận ................................................................................................. 50
4.2. Tồn tại ................................................................................................... 51
4.3. Kiến nghị ............................................................................................... 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 52
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 60


vi

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Hiện trạng đất đai tại khu vực nghiên cứu ...................................... 30
Bảng 3.2: Tỷ lệ diện tích trồng trám đen tại các xã của huyện Hòa An ....... 31
Bảng 3.3: Kinh nghiệm chọn giống và gây trồng, chăm sóc Trám đen
khu vực nghiên cứu .................................................................... 35
Bảng 3.4: Kinh nghiệm thu hái, sơ chế và bảo quản, thị trường tiêu thụ

150kg/cây/năm. Với giá bán từ 60.000-100.000đồng/kg trung bình một cây
Trám đen thu về từ 3.000.000 - 8.000.000 đồng/cây. Đặc biệt, cây Trám đen
rất dễ bán, chưa đến mùa thu hoạch quả trám đã được đặt mua trước tại gốc.
Mặt khác Trám đen là cây gỗ lâu năm nên ngoài giá trị kinh tế như trên còn
có giá trị phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái ở địa phương.
Với những giá trị to lớn đem lại cây Trám đen đã và đang được người
dân quan tâm, chú trọng trong công tác trồng rừng kinh tế tại huyện Hòa An,
được tỉnh Cao Bằng lựa chọn là một trong những cây mũi nhọn góp phần xóa
đói, giảm nghèo, tiến tới làm giàu cho người dân địa phương nhằm phát triển
kinh tế nông lâm nghiệp bền vững. Tuy nhiên số lượng cây Trám đen cho
năng suất ổn định, chất lượng quả tốt hiện nay còn rất ít và ở một số gia đình


2

giữ lại, một số cây đã tỏ ra già cỗi và thoái hóa.Mặc dù vậy việc nghiên cứu
lựa chọn những cây Trám đen có năng suất, chất lượng tốt để lưu giữ và phát
triển nguồn gen đó thì chưa được quan tâm nhất là việc lựa chọn các tiêu chí
để đánh giá cây trội Trám đen chưa được nghiên cứu. Chính vì vậyviệc thực
hiện đề tài: “Nghiên cứu xác định cây trội làm cơ sở cho việc bảo tồn và
phát triển nguồn gen cây Trám đen (Canarium tramdenum) tại huyện
Hòa An, tỉnh Cao Bằng”là rất cần thiết nhằm bảo tồn, phát huy giá trị, năng
suất và một số đặc điểm ưu việt của cây Trám đen trên địa bàn huyện Hòa An,
tỉnh Cao Bằng, góp phần làm tăng hiệu quả của công tác trồng rừng kinh tế
của nước ta.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm xác định được cây Trám đen đủ tiêu chuẩn làm cây
trội cho việc bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Trám đen tại huyện Hòa An.
Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển nguồn gen cây
Trám đen tại huyện Hòa An.

Dương cũng như ở Philipin. Các loài khác, quan trọng nhất là C. luzonicum,
sản xuất ra nhựa gọi là dầu tram [7].
1.1.2. Đặc điểm phân bố
Cây Trám mọc tự nhiên trên thế giới phân bố chủ yếu ở Châu Á từ 18
- 270 vĩ độ Bắc ở các nước như: Việt Nam, Ấn Độ, Lào, Mianma, Malayxia,
Nhật Bản, Trung Quốc (Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Đài
Loan...).
Phân bố trong rừng nguyên sinh và thứ sinh ở hầu hết các tỉnh miền
Bắc, nhiều nhất ở Quảng Bình, Nghệ An, Vĩnh Phúc, Bắc Thái…. ở độ cao từ
500m trở xuống. Thường mọc rải rác trong rừng, hỗn giao với các loài: Lim
xanh, Xoan đào, Lim xẹt, Ngát, Cồng sữa, Bứa, Gội, Vên vên…nhưng cũng
có khi mọc thành loại hình Trám chiếm ưu thế rõ rệt, hoặc Trám + Vên vên
hay Trám + Lim xanh.


4

Cây ưa sáng mọc nhanh, ưa đất sét pha, tầng đất dày, độ ẩm trung bình,
mọc nhiều ở những nơi độ dốc thấp, cá biệt có thể sống được cả trên đất sỏi.
Khả năng tái sinh hạt mạnh dưới tán rừng có tàn che 0,3-0,4. Ra hoa tháng 45. Quả chín tháng 10 - 12 (Nguyễn Tiến Bân và cs, 2003) [2].
1.1.3. Đặc điểm hình thái
Cây gỗ lớn, cao 25-30m, đường kính tới 90cm. Thân thẳng, phân cành
cao. Vỏ màu nâu nhạt khi đẽo ra có mủ màu đen. Toàn thân có mùi thơm hắc.
Gỗ nhẹ, mềm, màu xám trắng.
Lá kép lông chim 1 lần lẻ, không có lá kèm. Lá chét hình thuôn trái
xoan, dài 6 - 12cm, rộng 3 - 6cm, phiến cứng, giòn, mặt trên bóng, mặt dưới
sẫm hơn, đầu và đuôi lá hơi lệch. Gân bên 8 - 10 đuôi. Cuống lá chét dài
0,5cm.
Hoa tự chùm hình viên thuỳ, thường dài hơn lá, hoàn toàn nhẵn. Hoa
màu trắng vàng nhạt, cuống lá bắc dạng vảy, cuống hoa dài 1,5 - 2cm.

như: Trám kho cá, trám nhồi thịt... Quả Trám còn được dùng để làm ô mai
mặn, ngọt được nhiều người ưa thích. Nhân hạt Trám chứa nhiều dầu béo, có
vị bùi; có thể ăn sống, ép dầu hoặc làm nhân bánh. Sau 6 năm, nếu trồng trên
đất tốt sẽ cho thu hoạch. Cây thành thục có thể đạt 200-300kg quả/cây và cho
thu hoạch trong thời gian khoảng 50 năm. (Nguyễn Tiến Bân và cs, 2003) [2].
Quả Trám còn được dùng làm thuốc vì có tác dụng giải khát, sinh tân
dịch, thanh lọc, giải độc rượu. Lá có vị hơi đắng, hơi chát, tính mát, có tác
dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, chỉ thống.Vì vậy quả Trám dùng giải
độc rượu, cá nóc hoặc chữa hóc xương cá.Dùng quả Trám tươi giã nát, vắt lấy
nước uống hoặc sắc uống. Nếu dùng ngoài, dịch nước của quả chữa da nứt nẻ


6

do khô lạnh, lở ngứa, nhất là lở miệng không há mồm ra được, chữa sâu răng
bằng cách dùng quả và hạt Trám đốt, tán nhỏ và bôi vào chân răng. Rễ cây
Trám dùng chữa phong thấp, đau lưng, gối tê liệt cử động.Lá trị cảm mạo,
viêm đường hô hấp trên, viêm phổi, phù thũng, ghẻ lở. Ở Trung Quốc (tỉnh
Vân Nam) dùng rễ Trám trị đau dạ dày, bỏng lửa; lá dùng trị xuất huyết tử
cung, ban độc; quả trị nội thương xuất huyết, ho; vỏ rễ dùng trị nội thương
thổ huyết.
Nhựa Trám đen có thể dùng thắp sáng hoặc dùng trong công nghệ véc
ni sơn. Nhưng nhựa Trám đen thường ít và chóng khô đặc hơn Trám trắng,
nên ít khi khai thác nhựa từ cây Trám đen. Gỗ Trám đen nhẹ, mềm, màu xám
trắng, giác lõi không phân biệt, có thể dùng làm nhà, đóng đồ, làm gỗ dán
lạng, bút chì, diêm, bột giấy.
Trám là cây đa mục đích được chọn làm cây trồng trong các vườn nhà,
vườn rừng và các khu rừng phòng hộ đầu nguồn.Là cây trồng bóng mát, vườn
rừng, nông lâm kết hợp, làm giàu rừng và phục hồi rừng tự nhiên. Nếu Trám
trồng làm giàu rừng trong các loại hình phục hồi rừng hoặc trong các vườn

trưởng, nhưng phải đạt các chỉ tiêu chất lượng như cây giống ở rừng trồng.
c) Cây chọn từ cây trồng phân tán phải có độ vượt về sinh trưởng so với
ít nhất là 10 cây còn lại cùng tuổi và có các chỉ tiêu chất lượng như cây giống
ở rừng trồng.
2) Cây mẹ (cây trội) lấy các sản phẩm ngoài gỗ:
a) Cây chọn ở rừng trồng phải có năng suất các sản phẩm cuối cùng
(theomục tiêu kinh tế) vượt 15% so với năng suất trung bình của đám rừng có cây
giống (40- 50 cây chung quanh), sinh trưởng từ mức trung bình trở lên và không
bị sâu bệnh.
b) Cây chọn từ cây trồng phân tán phải có năng suất các sản phẩm cuối
cùng (theo mục tiêu kinh tế) cao nhất trong khu vực (thôn, xã hoặc liên xã),
ổn định trong ít nhất 3 năm, có sinh trưởng từ mức trung bình trở lên và
không bị sâu bệnh.


8

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới hiện nay cây ăn quả được trồng nhiều nhất là ở những
vùng có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc ba châu lục: châu Á, châu
Phi và châu Mỹ Latinh. Tổ chức Nông lương thế giới các loại cây ăn quả, mà
trái cây được dùng làm thức ăn riêng biệt hoặc ăn kèm. So với cây lương thực
là nguồn cung cấp chính về năng lượng và chất bột cacbohydrat.Tùy theo
nguồn gốc, xuất xứ và vùng sinh thái mà có thể chia ra cây ăn quả nhiệt đới,
cây ăn quả cận nhiệt đới, cây ăn quả ôn đới,…Cây ăn quả là cây đang phát
triển sau Lúa gạo, Ngô, Sắn và Lúa mì. Trong khẩu phần thức ăn thì cây ăn
quả là nguồn dinh dưỡng quý cho con người về chất khoáng, đặc biệt nhiều
Vitamin, nhất là các vitamin A, vitamin C cần cho cơ thể con người. Tại
nhiều nước trên thế giới cây ăn quả cũng là cây hàng hóa xuất khẩu có giá trị

trong đó Trám trắng (Canarium album) và Trám đen (C.pimela hoặc C.
tramdenum) là những loài cây chủ yếu có giá trị kinh tế. Trám trắng quả hình
trứng, có phân bốvà được trồng trên các sườn núi và thung lũng, ở độ cao 100
- 1300 m, tại các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hải
Nam, Tứ Xuyên, Đài Loan, Vân Nam và Việt Nam. Trám đen quả hình trứng
hẹp dài 3 - 4 cm, đường kính 1,7 - 2 cm, có phân bố ở độ cao 500 - 1300 m tại
Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Vân Nam và các nước khác như Việt
Nam, Lào, Canpuchia (Flore of China, 2008)[33]. Trám trắng được nhiều
nhà khoa học trên thế giới đặt vấn đề nghiên cứu từ đầu thế kỷ 20. Các nhà
khoa học người Pháp trong đó có Anfray (1901), Pignet (1902) và Heim (1904)
đã nghiên cứu khai thác và chế biến nhựa Trám để phục vụ cho công nghệ chế
biến xà phòng, dầu thơm, véc ni và xi đánh dày (Tập san kinh tế Đông dương 1994). Theo tài liệu này người ta đã chưng cất được 18 - 20 kg dầu, 57 đến 60
kg côlôphan trong 100 kg nhựa Trám. Các kết quả nghiên cứu này đã được ứng
dụng để khai thác nhựa Trám ở một số nước có trám phân bố tự nhiên. Nghiên
cứu tính chất gỗ của các loài cây nhiệt đới đã thấy các loài trám có tỷ trọng gỗ
thay đổi trong khoảng 0,50 - 0,56 (Reyes al, 1992) [34]. Các nghiên cứu tiếp


10

theo được tập trung vào việc khai thác các nguồn lợi từcây Trám trắng, cụ thể
là Trisonthi người Pháp đã nghiên cứu đặc điểm của một số loài cây có quả ăn
được của rừng nhiệt đới trong đó có loài Trám trắng, nghiên cứu giá trị kinh tế
của quả và nhựa Trám trắng của Griffith người Anh, nghiên cứu chế biến và
bảo quản quả Trám của Lin - Hetong người Trung Quốc, nghiên cứu thành
phần dược phẩm trong quả Trám trắng của Ito-M người Nhật Bản, (Tổng hợp
của Trerrs CD - Từ 1973 đến10/1999) [35].
1.2.2. Nghiên cứu về cây Trám đen ở Việt Nam
1.2.2.1. Đặc điểm phân loại, lâm học và giá trị của Trám đen
Chi Canarium ở nước ta gồm 8 loài, trong đó 2 loài được trồng ăn quả là

răng... (Võ Văn Chi, 1997) [9]. Vì thế quả Trám đen được tiêu thụ ở nhiều thị
trường trong nước chủ yếu là ở dạng thực phẩm ăn tươi. Nhu cầu thị trường
về quả Trám đen rất lớn, trong khi lượng quả bán ra chưa nhiều nên quả tươi
Trám đen có giá cao hơn Trám trắng, khoảng 10.000 - 12.000 đ/kg quả tươi,
trong khi giá quả tươi Trám trắng là 6.000-8.000 đ/kg (Triệu Văn Hùng,
2007) [19].
1.2.2.2. Các nghiên cứu về chọn giống lấy quả
Từ năm 1993 Bộ Lâm nghiệp đã ban hành Quy phạm xây dựng rừng
giống và vườn giống, trong đó mới đề cập đến các tiêu chuẩn chọn cây trội để
lấy gỗ (Bộ Lâm nghiêp, 1977) [3].
Sau này, trong Tiêu chuẩn công nhận giống (Bộ NN&PTNT, 1998,
2003) [4] đã đề cấp đến tiêu chuẩn chọn cây trội để lấy các sản phẩm ngoài gỗ
nói chung mà chưa nêu cụ thể. Đến tiêu chuẩn công nhận giống gần đây (Bộ
NN&PTNT, 2006) mới có quy định về tiêu chuẩn chọn cây trội để lấy sản
phẩm ngoài gỗ từ rừng trồng và từ trồng cây phân tán [6]. Nghiên cứu về
chọn giống Trám trắng lấy quả đã được Hoàng Thanh Lộc (2001 - 2005) [22]
tiến hành tại tỉnh Phú Thọ, đã chọn được 20 cây trội sai quả, trong đó có một
cây 30 năm tuổi nhiều quả nhất có thể đạt 300 kg quả. Các cây ghép từ các
cây trội này mới được trồng trong vườn tập hợp các dòng vô tính tại khu Văn
phòng của Công ty cổ phần giống lâm nghiệp vùng Bắc Bộ (ở Trạm Thản -


12

Phú Thọ) cho thấy trong 20 cây được chọn ban đầu sau 4 năm chỉ một số cây
có quả, trong đó chỉ 3 cây có nhiều quả nhất. Tuy vậy, chưa được khảo
nghiệm ở giai đoạn tiếp theo để xác định tính ổn định di truyền của chúng và
chưa có những nghiên cứu về chất lượng quả của những cây sai quả này. Viện
Cải thiện giống và Phát triển lâm sản hiện cũng đang tiến hành khảo nghiệm
tại Bắc Kạn cho một số dòng Trám trắng lấy từ Trạm Thản (đây là một phần

tre đi rung từng cây hứng sâu trưởng thành và bắt giết, dùng thuốc bột thấm
nước 666 loại 6% nồng độ từ 1/200-1/250 phun vào búp hoặc dùng thuốc sữa
DDT 5% nồng độ 1/150 phun ướt búp ngọn trám (Nguyễn Đình Hạnh,1965
[13]; Đặng Văn A, 1968 [1]). Từ năm 1995 đến 1999 nhóm cán bộ Phạm
Đình Tam, Trần Lâm Đồng và Nguyễn Sỹ Đương (năm 1998) [28] đã nghiên
cứu biện pháp kỹ thuật lâm sinh để trồng rừng Trám trắng phục vụ mục tiêu
cung cấp gỗ công nghiệp. Đề tài đã đề xuất được phương thức trồng và chọn
loài cây phù trợ phù hợp để xây dựng rừng Trám theo hướng cung cấp gỗ
công nghiệp. Sau đó cũng nhóm cán bộ này đã xây dựng “Quy phạm kỹ thuật
trồng rừng Trám trắng” (Bộ NN&PTNT, 2001) [5]. Nghiên cứu về trồng
Trám trắng hỗn loại với các loài cây lá rộng bản địa cho thấy so với trồng
thuần loại thì trồng hỗn loại Trám trắng có tỷ lệ sống cao hơn, tỷ lệ sâu đục
ngọn giảm, sinh trưởng tốt hơn nhưng so với các loài khác thì trám có sinh
trưởng kém hơn (Hoàng Văn Thắng, Nguyễn Bá Chất và cs, 2005) [31].So
sánh sinh trưởng của phương thức trồng hỗn giao giữa Trám trắng và Lát hoa
với trám thuần loại lại cho thấy tỷ lệ sống và sinh trưởng của phương thức
hỗn giao kém hơn trồng thuần loại. Trám trồng thuần loại đạt tỷ lệ sống 92 %
và trữ lượng là 5,58 m3/ha trong khi đó Trám với Lát đạt tỷ lệ sống 87% và
trữ lượng 4,25 m3/ha (Huỳnh Đức Nhân và cs, 2006) [26]. Nghiên cứu của
Phạm Đình Tam, Trần Đức Mạnh, Phạm Đình Sâm (2000 - 2005) [30] về
chọn lập địa, kỹ thuật trồng rừng Trám với mục đích lấy gỗ và lấy quả đã cho
thấy trồng Trám ở Hòa Bình tốt hơn ở Đại Lải và Vĩnh Phúc và đi đến nhận
định là Trám không nên trồng ở lập địa xấu, tầng đất mỏng, các chỉ tiêu hóa
tính dưới trung bình (Tiêu chuẩn ngành 04 TCN 24-2001) [5]. Tuy vậy, đáng


14

tiếc là các tác giả đã không nêu rõ các nghiên cứu về chọn giống lấy quả và
khảo nghiệm giống. Trước đây gỗ Trám trắng và Trám đen đều phân vào

sinh trưởng quần thể của cây trám đen đáp ứng mục tiêu trồng rừng lấy
gỗ.Trong giai đoạn rừng 1-4 tuổi trám đen cần có cây che phủ hỗ trợ cho cây
sinh trưởng và phát triển.Cây che phủ hỗ trợ phù hợp là cây Cốt khí và cây
Keo. Phương thức trồng rừng dùng cây phù trợ cần có biện pháp kỹ thuật tác
động như tỉa cành hoặc tỉa thưa keo từ năm thứ 3 trở đi, điều chỉnh độ tàn che
của cây phù trợ đối với cây trám. Còn đối với phương thức trồng rừng bằng
cây ghép và trồng theo phương thức nông lâm kết hợp thì sẽ đáp ứng được
mục tiêu trồng rừng lấy quả. Kết quả nghiên cứu của tác giả đã thực xây dựng
được 8,5ha mô hình rừng trồng trám đen phục vụ mục tiêu lấy gỗ và lấy quả.
Các mô hình sau khi trồng năm đầu tiên đều đạt trên 90%, sau đó 3 năm tỷ lệ
tồn tại trong các mô hình thí nghiệm còn tương đối cao 82% và 86% ở Nghệ
An và 90% ở Hòa Bình. Điều này cho thấy môi trường ở đây phù hợp cho cây
trám ghép phát triển. Đường kính và chiều cao của 2 mô hình ở Tân Lạc Hòa Bình và Yên Thành-Nghệ An sinh trưởng tương đối đồng đều. Công
trình nghiên cứu còn đưa ra hướng dẫn kỹ thuật ghép cây trám đen với 2 kỹ
thuật ghép là ghép áp và ghép nêm.Sau khi ghép thành công, cây ghép được
nuôi trong vườn từ 6-9 tháng sau đó đem trồng.Đoạn cành ghép ≥ 25cm, đã
có nhiều lá, khi lá ở dạng bánh tẻ mới đem đi trồng.
Ngoài ra, cũng đã có nhiều các nghiên cứu tiến hành trồng thử nghiệm
cây Trám ghép lấy quả như: Dự án khoa học công nghệ “Trồng thử cây Trám
ghép lấy quả ở vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Thanh Hoá” (Phạm Đình
Tam, Trần Đức Mạnh, Phạm Đình Sâm - TT ứng dụng KHKT lâm nghiệp)
[22]. Dự án do chính phủ Hà Lan tài trợ và được thực hiện trong thời gian 5
năm (2002 - 2007) tại 5 tỉnh: Quảng Ninh, Bắc Giang, Hà Tĩnh, Quảng Bình,
Quảng Trị. Dự án đã chọn đối tượng là cây Trám ghép và cây Ba kích làm cây
trồng xóa đói giảm nghèo cho người dân. Sau hơn hai năm triển khai dự án đã
thu được những kết quả ban đầu.
Trong những năm gần đây một số huyện của tỉnh Thái Nguyên như: Võ
Nhai, Phú Lương, Đại Từ... đã và đang tiến hành trồng cây Trám ghép. Hiện





17

Hvn, Hdc, D tán, sâu bệnh. Chọn cây trội dự tuyển Trám trắng và cây trội
dự tuyển Trám đen, đánh số sơ bộ vào thân cây.
- Bước 2: Chọn cây trội chính thức: Sau khi chọn được cây trội dự
tuyển cho mỗi loài, tiến hành ra soát lại cây trội dự tuyển, để chọn ra cây
trội chính thức cho mỗi loài, những cây trội dự tuyển đạt tiêu chuẩn là cây
trội chính thức là những cây có lượng quả vượt từ 15% trở lên so với cây
xung quanh, tán tròn đều, sức sống tốt, không sâu bệnh.
Kết quả đã lựa chọn được 13 cây Trám trắng và 7 cây trội Trám đen
làm vật liệu để nhân giống.
* Nhận xét:
Điểm qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan tới
lĩnh vực nghiên cứu cho thấy đến nay các nghiên cứu về cây Trám khá nhiều,
tập trung chủ yếu vềđặc điểm phân loại, lâm học và giá trị của Trám. Tuy
nhiên cho đến nay vấn đề lựa chọn cây trội Trám trắng và Trám đen vẫn chưa
được chú ý nhiều, số lượng công trình nghiên cứu còn rất ít,đặc biệt là việc
lựa chọn cây trội để làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển nguồn gen cây
Trám đentại huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng chưa được nghiên cứu. Ở nơi đây,
cây Trám đen mới chỉ được trồng phổ biến theo kinh nghiệm dân gian trong
các hộ gia đình, nguồn giống chủ yếu là từ hạt của các cây sẵn có ở địa
phương. Vì vậy đề tài được đề xuất thực hiện.
1.3. Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.3.1. Đặc điểm tự nhiên của khu vực nghiên cứu
1.3.1.1. Vị trí địa lý
Huyện Hòa An nằm ở trung tâm tỉnh Cao Bằng, bao quanh thành phố
Cao Bằng. Phía Đông và Đông bắc giáp huyệnTrà Lĩnh, Quảng uyên, phía
Tây giáp huyện Nguyên Bình và Thông Nông, phía Nam giáp huyện Thạch

Hoàng Tung),...
Ngoài ra, ven khe suối còn có những vùng ruộng bậc thang gồm các xã
phía Nam của huyện như Ngũ Lão, Nguyễn Huệ, Trưng Vương, Hồng Nam,
Bạch Đằng...
Phần diện tích còn lại là đồi núi.Đồi núi chiếm 2/3 diện tích huyện, bao
gồm núi đá và núi đất. Độ cao trung bình là 300m so với mặt biển, thấp dần từ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status