LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT - Pdf 69

Lý luận chung về kế toán vật liệu trong doanh
nghiệp sản xuất
1.1. Sự cần thiết phải tổ chức kế toán vật liệu trong
doanh nghiệp sản xuất.
1.1.1. Vai trò, đặc điểm vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất :
Trong doanh nghiệp sản xuất vật liệu là đối tợng lao động đã đợc thay đổi
do lao động có ích của con ngời tác động vào. Vật liệu không chỉ là một trong
những tài sản lu động của doanh nghiệp mà còn là một yếu tố chi phí. Khi tham
gia vào hoạt động sản xuất giá trị vật liệu chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị
sản xuất mới tạo ra, do đó chi phí về vật liệu thờng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Nh vậy có thể nói vật liệu có vai trò quan trọng trong sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp: Vật liệu không chỉ tác động trực tiếp tới khối lợng, chất lợng,
mẫu mã sản phẩm mà còn có ảnh hởng rất lớn tới chi phí sản xuất cũng nh giá
thành sản phẩm.
Mặt khác nếu xét về vốn lu động, vật liệu là thành phần quan trọng của vốn
lu động, đặc biệt là vốn dự trữ. Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cần phải tăng
tốc độ luân chuyển vốn lu động, điều đó đồng nghĩa với việc đúng đắn, từ đó có
quyết định có lợi cho việc sử dụng vốn lu động.
1.1.2 . Yêu cầu quản lý vật liệu :
Vật liệu có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, do đó quản lý vật
liệu là yêu cầu khách quan của mọi nền sản xuất xã hội. Để công tác quản lý đạt
hiệu quả, cần đảm bảo những yêu cầu sau :
- Phải có đầy đủ thông tin tổng hợp vật liệu cả về hiện vật và giá trị, về tình
hình nhập, xuất, tồn kho. Tùy theo điều kiện và yêu cầu quản lý của từng doanh
nghiệp mà có thể cần những thông tin chi tiết hơn nh vật liệu theo từng chủng
loại.
- Phải tổ chức hệ thống kho tàng đảm bảo an toàn cho vật liệu cả về số lợng
và chất lợng. Phát hiện, ngăn ngừa những biểu hiện vi phạm làm thất thoát vật
liệu.
- Quản lý định mức dự trữ vật liệu, tránh tình trạng ứ đọng hoặc khan hiếm

+ Nguyên vật liệu chính
+ Vật liệu phụ.
+ Phụ tùng thay thế.
+ Thiết bị xây dựng cơ bản.
+ Vật liệu khác.
* Căn cứ vào mục đích và nơi sử dụng, vật liệu đợc chia thành :
+ Vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất, chế tạo sản phẩm.
+ Vật liệu dùng cho các nhu cầu khác nh quản lý, bán hàng ....
* Căn cứ vào nguồn nhập, vật liệu đợc chia thành :
+ Vật liệu tự sản xuất, chế biến.
+ Vật liệu mua ngoài.
+ Vật liệu nhận góp vốn.
...Trong các doanh nghiệp sản xuất vật liệu thờng đợc phân loại theo công
dụng kinh tế. Tuy nhiên việc phân loại vật liệu chỉ mang tính chất tơng đối và khái
quát. Trên thực tế, vật liệu chính đối với doanh nghiệp này là vật liệu phụ đối với
doanh nghiệp.
1.2.2.1. Đánh giá vật liệu theo giá vốn thực tế :
* Giá thực tế nhập kho :
Giá vốn thực tế của vật liệu nhập kho là toàn bộ chi phí doanh nghiệp phải
bỏ ra để có vật liệu đó. Vật liệu nhập kho từ các nguồn khác nhau thì có giá vốn
khác nhau .
a) Đối với vật liệu ngoài:0
Giá vốn thực
tế vật liệu
nhập kho
=
Giá mua
của vật
liệu
+

Giá vốn thực
tế nhập kho
=
Giá T.tế vật liệu xuất
thuê gia công
+
Chi phí vận
chuyển, bốc
dỡ
+
Chi phí phải trả
cho đơn vị gia
công
d) Đối với vật liệu do các đơn vị khác góp vốn liên doanh :
Giá vốn thực tế
nhập kho
=
Giá T.tế vật liệu
xuất thuê gia công
e) Đối với nhập liệu nhập kho từ nguồn phế liệu thu hồi :
Giá vốn thực tế vật liệu nhập kho đợc đánh giá theo giá trị thực tế còn sử
dụng đợc hoặc theo gía ớc tính.
* Giá thực tế xuất kho :
Khi xuất dùng vật liệu kế toán phải tính toán chính xác giá thực tế của
vật liệu xuất dùng cho các nhu cầu, đối tợng khác nhau. Việc tính giá thực tế
của vật liệu xuất kho có thể áp dụng theo một số phơng pháp sau :
1/ Tính theo phơng pháp bình quân gia quyền : Phơng pháp này căn cứ
vào giá thực tế nguyên vật liệu tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ, kế toán xác định
giá bình quân của một đơn vị nguyên vật liệu. Căn cứ vào lợng nguyên vật liệu
xuât trong kỳ và giá đơn vị bình quân để xác định giá thực tế của nguyên vật

thờng xuyên trong kỳ hạch toán và việc tính giá xuất là tơng đối hợp lý.
Nhợc điểm: Khối lợng công việc ghi chép và theo dõi hạch toán chi tiết
nhiều, phải tiến hành công phu.
4/ Tính theo phơng pháp nhập sau, xuất trớc :
Phơng pháp này hoàn toàn ngợc lại với phơng pháp trên, nghĩa là vật liệu
xuất kho sẽ đợc lấy từ lô hàng nhập mới nhất và trị giá hàng xuất kho đợc tính
bằng cách căn cứ vào số lợng xuất kho, đơn giá của những lô hàng nhập mới
nhất hiện có trong kho.
Ưu điểm: Công viêc tính giá đơn giản hơn so với phơng pháp nhập trớc -
xuất trớc, đợc tiến hành thờng xuyên trong kỳ hạch toán và không bị phụ thuộc
vào số lần nhập - xuất nguyên vật liệu nhiều hay ít
Nhợc điểm: Số lợng công tác tính giá phụ thuộc vào sự ổn định của giá
cả nguyên vật liệu. Trong trờng hợp giá cả nguyên vật liệu biến động mạnh thì
việc tính giá xuất theo phơng pháp này sẽ mất tính chính xác và sẽ gây ra tính
bất hợp lý.
1.2.2.2. Đánh giá vật liệu theo giá hạch toán :
Giá hạch toán là giá do doanh nghiệp tự quy định, có tính chất ổn định
và chỉ dùng để ghi sổ kế toán vật liệu hàng ngày chứ không có ý nghĩa trong
việc thanh toán, giao dịch với bên ngoài. Giá hạch toán có thể là giá kế hoạch
hoặc giá tạm tính, đợc quy định thống nhất trong ít nhất một kỳ hạch toán. Cuối
kỳ kế toán điều chỉnh giá hạch toán trên sổ chi tiết vật liệu theo giá thực tế sau
đó ghi vào các tài khoản, sổ kế toán tổng hợp và báo cáo kế toán. Việc điều
chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế đợc tiến hành theo 2 bớc sau :
- Bớc 1 : Xác định hệ số giá giữa giá thực tế và giá hạch toán :
Hệ số
chênh lệch
(H)
=
Giá thực tế vật liệu
tồn đầu kỳ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status