Quan hệ kinh tế thái lan nhật bản từ sau khủng hoảng tài chính châu á 1997 - Pdf 69

MỞ ĐẦU
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
Thái Lan nằm trong khu vực Đông Nam Á, luôn được coi là nước có
nền kinh tế phát triển và có vai trò lớn trong hợp tác khu vực, cũng như những
hợp tác của khu vực với bên ngoài. Nhật Bản là một trong số những quốc gia
công nghiệp hàng đầu thế giới và được suy tôn là “hiện tượng thần kỳ” của
Châu Á. Thành công của Nhật Bản được các nhà nghiên cứu đánh giá là một
điển hình về sự kết hợp nhuần nhuyễn tinh hoa văn hoá phương Đông và khoa
học công nghệ hiện đại phương Tây. Đối với Việt Nam cả hai nước Thái Lan,
Nhật Bản đều là hai nước láng giềng gần gũi. Vì vậy, trước hết việc nghiên
cứu dù ở bất kỳ lĩnh vực nào của Thái Lan, Nhật Bản đều hết sức cần thiết đối
với Việt Nam. Đó sẽ là cơ hội để chúng ta có thêm hiểu biết về hai nước láng
giềng quan trọng này.
Như chúng ta đã biết, Thái Lan từ xưa đến nay vẫn luôn được coi là
quốc gia có đường lối đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt và đặc biệt chú trọng phát
triển ngoại giao với các nước lớn trong đó có Nhật Bản. Trong thời gian gần
đây, nhất là từ khi hình thành cộng đồng Đông Á, quan hệ của Thái Lan và
Nhật Bản càng trở nên phát triển. Liệu có phải chính nhờ đường lối đối ngoại
đúng đắn, việc lựa chọn đối tác tin cậy, chính xác là một trong những nhân tố
giúp Thái Lan có được sự phát triển kinh tế vượt trội hơn so với các nước
trong khu vực hay không và ngay cả khi vấp phải cuộc khủng hoảng kinh tế
thì Thái Lan cũng đã nhanh chóng vượt qua được? Nghiên cứu về quan hệ
kinh tế Thái Lan - Nhật Bản chính là để góp phần cắt nghĩa hiện tượng này.
Ngoài ra, khi nghiên cứu quan hệ kinh tế Thái Lan - Nhật Bản chúng ta hiểu
thêm về thực chất quan hệ đối ngoại của hai nước, từ đó có thể rút ra được
những bài học kinh nghiệm cho bản thân Việt Nam trong việc hoạch định
chính sách đối ngoại trong giai đoạn hiện nay.
Bên cạnh đó, ở Việt Nam từ trước đến nay chưa có công trình nào
nghiên cứu về vấn đề này. Do tính cấp thiết của vấn đề cả về mặt khoa học,
lẫn thực tiễn nên tôi quyết định lựa chọn vấn đề Quan hệ kinh tế Thái Lan -



3


cả những công trình này đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc có một cái nhìn
tổng thể về quan hệ Thái Lan – Nhật Bản trong quá khứ để từ đó có thể hiểu
và lý giải được những bước phát triển trong quan hệ Thái Lan – Nhật Bản ở
những giai đoạn tiếp theo và hiện nay.
Ngoài những công trình kể trên, chúng tôi còn được tiếp xúc với những
công trình nghiên cứu mang tính tổng thể trong đó có một vài phần đề cập đến
hoặc có liên quan đến quan hệ giữa Thái Lan và Nhật Bản như công trình
Nhật Bản với chính sách đối tác kinh tế Nhật Bản - ASEAN (CEP) của nhà
nghiên cứu Thái Lan Sịripon Vătchavănkhu. Công trình đã đề cập khá chi tiết
về chính sách đối tác kinh tế Nhật Bản – ASEAN. Đó là việc xây dựng một thị
trường thương mại tự do giữa Nhật Bản và ASEAN, tạo điều kiện để Nhật đầu
tư vào ASEAN và đây sẽ là mối quan hệ hợp tác hai bên cùng có lợi. Để chính
sách này trở thành hiện thực và có hiệu quả đối với các bên, trước mắt Nhật
Bản sẽ ký Hiệp định song phương với từng nước trong ASEAN… Ngoài ra,
công trình Chính sách đối ngoại của Thái Lan từ thời kỳ khủng hoảng kinh tế
đến thế kỷ mới của tác giả Praphắt Thêpchatri cũng đã có một vài phần viết về
chính sách đối ngoại của Thái Lan đối với các nước lớn trong đó có Nhật Bản.
Khi Thái Lan vấp phải khủng hoảng kinh tế thì Nhật Bản là một trong những
nước đã giúp đỡ Thái Lan nhiều nhất. Vì vậy chính sách đối ngoại của Thái
Lan từ sau khủng hoảng đến thế kỷ mới lại một lần nữa nhấn mạnh tới vai trò
của các nước lớn trong đó có Nhật Bản. Tiêu biểu nhất là công trình Vai trò
của Nhật Bản đối với Thái Lan sau khủng hoảng kinh tế của tập thể tác giả
Viện nghiên cứu Đông Á, trường Đại học Thăm ma xạt. Công trình gồm 4
phần. Phần đầu nói về những vấn đề kinh tế của Nhật Bản và bài học đối với
Thái Lan. Phần thứ hai nói về những cải cách chính trị của Nhật Bản và bài
học đối với Thái Lan. Phần thứ ba nói về vai trò của Nhật Bản về mặt văn hóa

sánh…
4. Nguồn tư liệu

5


Để thực hiện đề tài luận văn này chúng tôi đã sử dụng nhiều nguồn tư
liệu như một số Hiệp định, Hiệp ước đã được ký kết giữa hai nước và một số
tài liệu thứ cấp khác như các công trình khoa học đã được công bố trên sách,
báo, tạp chí nghiên cứu về quan hệ Thái Lan - Nhật Bản của các tác giả Việt
Nam, Thái Lan và Nhật Bản, (phần lớn là bằng tiếng Thái Lan), quan hệ Việt
Nam - Thái Lan , quan hệ Việt Nam - Nhật Bản… phần lớn của các tác giả
Việt Nam. Ngoài ra một số thông tin được khai thác trên các báo, tạp chí và
mạng Internet…

5. Đóng góp của luận văn
Do đây là đề tài khá mới mẻ ở Việt Nam, chưa có công trình nào nghiên
cứu về vấn đề này nên luận văn sẽ cung cấp cho bạn đọc một số thông tin trên
các lĩnh vực như: tiến trình phát triển quan hệ Thái Lan và Nhật Bản, những
bước thăng trầm trong quan hệ giữa hai nước, quan hệ kinh tế giữa Thái Lan
và Nhật Bản cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI…
Ngoài ra, luận văn cũng đã hệ thống hoá được một khối lượng khá
phong phú và tương đối cập nhật các tư liệu liên quan tới vấn đề quan hệ Thái
Lan - Nhật bản. Những tư liệu này được thu thập từ rất nhiều nguồn, nhiều
nơi khác nhau, cả tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Thái.
Hy vọng rằng bản luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo
trong học tập, giảng dạy và nghiên cứu cho những người có quan tâm tới vấn
đề này.
6. Bố cục luận văn
Luận văn được chia thành ba chương.

nghiệm đối với Việt Nam trong quan hệ quốc tế và hoạch định chính sách
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, do nhiều điều kiện còn hạn chế
như năng lực nghiên cứu khoa học, sự khan hiếm nguồn tài liệu, khó khăn
trong công tác điền dã, điều tra… nên luận văn sẽ không tránh khỏi những
thiếu sót, khiếm khuyết. Vậy chúng tôi mong muốn nhận được sự đóng góp ý
kiến của các thầy cô giáo và các bạn.

7


Chương 1: Những nhân tố ảnh hưởng tới quan hệ Thái Lan Nhật Bản sau khủng hoảng kinh tế Châu Á đến nay

1.1.

Bối cảnh quốc tế và khu vực

1.1.1. Bối cảnh quốc tế
Có thể nói rằng quan hệ quốc tế cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 có rất
nhiều thay đổi, thời điểm này được coi là thời điểm cải cách của toàn bộ hệ
thống quốc tế.
Một số thay đổi trong hệ thống quốc tế đã hình thành sau thời kỳ chiến
tranh lạnh, khi mà Liên bang Xô Viết vốn là một siêu cường sau thế chiến II
đã tan rã vào năm 1991, kéo theo đó là sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ
nghĩa, là những khủng hoảng cả về chính trị, kinh tế, xã hội và sắc tộc. Cùng
với nó, là sự tan rã của những nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Như vậy, trên
thế giới chỉ còn lại một cực là Mỹ. Mỹ trở thành siêu cường duy nhất cho tới
ngày 11/9/2001, khi xuất hiện sự kiện khủng bố kinh hoàng và bất ngờ. Sự
kiện này đã làm thay đổi quan niệm về một nước Mỹ bất khả xâm phạm và
tạo nên những hoài nghi về vấn đề an ninh và quyền lực của nước Mỹ.


điểm nóng ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Tuy nhiên trong những năm đầu thế
kỷ 21, nội bộ nước Mỹ cũng gặp phải không ít những vấn đề về mặt kinh tế và
xã hội. Những năm đầu thế kỷ 21, một loạt các công ty xuyên quốc gia của
Mỹ bị phá sản như công ty Enron, World com, Tyco, Imclone, Global
Crossing, Adelphia đã gây nên những tổn thất to lớn cho không chỉ những

9


công ty kể trên mà cho cả xã hội. Đó là nạn thất nghiệp, các công ty không
còn khả năng để trả tiền đền bù, lương hưu và trợ cấp thất nghiệp cho nhân
viên. Tuy nhiên một vấn đề gây nhiều tổn thất và đau đầu nhất cho Mỹ đó là
vấn đề khủng bố quốc tế mà chủ yếu nhằm vào Mỹ và người dân Mỹ kể cả
người dân trong nước và cả những người Mỹ hoạt động kinh doanh, đầu tư
hoặc đi du lịch… ở nước ngoài. Vụ khủng bố ngày 11/9/2001 đã làm chết và
mất tích tới 6 nghìn người, lớn nhất trong các vụ khủng bố kể từ sau chiến
tranh thế giới thứ hai. Nước Mỹ sau vụ khủng bố ngày 11/9 đã tuyên bố: Vụ
khủng bố 11/9 vừa qua chính là hành động gây chiến nhằm vào nước Mỹ và
nước Mỹ sẽ đáp trả vụ khủng bố này cho dù phải tốn bao nhiêu thời gian đi
chăng nữa. Tiếp theo đó, ngày 7/10/2001 Mỹ đã cùng với Anh đưa máy bay
tới thủ đô Kabul và nhiều địa điểm khác của Apganixtan với danh nghĩa là để
bảo vệ đất nước tránh nguy cơ khủng bố.
Hiện tại, rất nhiều quốc gia đã không còn tin tưởng vào hành động của
Mỹ và những công ty xuyên quốc gia của Mỹ, kể cả ở châu Mỹ la tinh, Trung
Á và Đông Nam Á, do đó Mỹ không thể tự cho rằng Mỹ là quốc gia lãnh đạo
duy nhất trên thế giới mà các nước khác buộc phải nghe theo.


1


Nâng cao vị thế của các chủ thể quan hệ quốc tế không phải là
nhà nước

Mặc dù nhà nước vẫn là một chủ thể quan trọng nhất nhưng hiện nay
trong quan hệ quốc tế còn có những chủ thể khác có vị thế quan trọng không
kém đó là các tổ chức quốc tế, các cơ quan quốc tế kể cả ở cấp khu vực và thế
giới, các công ty xuyên quốc gia hiện có vị trí ngày càng quan trọng hơn trong
các giao dịch quốc tế thậm chí nhiều nhà phân tích và nghiên cứu còn cho
rằng các công ty xuyên quốc gia hiện đang là những chủ thể cạnh tranh quyền
lực với chính phủ nhiều nhất. Mặc dù vậy cũng không thể phủ nhận những lợi
ích mà các công ty xuyên quốc gia mang đến cho đất nước như tạo nên sự
phát triển của nền công nghiệp và công nghệ hiện đại đã giúp cải thiện công
ăn việc làm cho người lao động, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân
kể cả là trong giao thông, liên lạc hay trong rất nhiều lĩnh vực khác nữa.
Nhưng các công ty xuyên quốc gia này có số vốn khổng lồ với các chi nhánh,
bộ phận ở khắp các khu vực trên thế giới. Việc điều hành, quản lý chính thuộc
về công ty mẹ trong đó có các bộ phận quản lý nhỏ được điều xuống các chi
nhánh, các công ty con để giám sát các hoạt động của các chi nhánh và các

11


công ty này. Các công ty xuyên quốc gia do có chi nhánh ở khắp nơi trên thế
giới nên việc lưu chuyển dòng vốn, chuyển đổi công nghệ hay quá trình sản
xuất khá thuận tiện, dễ dàng. Trong trường hợp nếu ở khu vực nào gặp phải
khủng hoảng kinh tế thì công ty xuyên quốc gia cũng vẫn có khả năng chuyển
đổi từ nơi có khủng hoảng sang nơi không bị ảnh hưởng của khủng hoảng.
Như vậy, cho dù có xảy ra khủng hoảng kinh tế cấp khu vực thì những công ty
xuyên quốc gia vẫn có khả năng tồn tại vững vàng. Ngoài ra, công ty xuyên
quốc gia khi đột ngột rút một nguồn vốn lớn tại một quốc gia nào đó thì có


Vấn đề đói nghèo ở các nước đang phát triển

Các nước đang phát triển trong giai đoạn hiện nay phần lớn gặp phải
tình trạng thiếu thốn do xuất phát từ những nguyên nhân sau:
- Nguyên nhân từ lịch sử: phần lớn các nước đang phát triển hiện nay đều
xuất phát từ những nước trước đây là thuộc địa của đế quốc trong một thời
gian dài. Điều này đã làm cho những nước là thuộc địa bị cạn kiệt về tài
nguyên thiên nhiên do bị các nước đế quốc khai thác nguồn tài nguyên với số
lượng lớn. Người dân phần lớn không được học hành và nghèo khó.
- Nguyên nhân từ chính trị: Người dân ở những nước này phần lớn thiếu
kiến thức về chính trị và quản lý.
- Nguyên nhân từ nền kinh tế trong nước: sự chênh lệch giàu nghèo trong
những quốc gia này là khá lớn. Vì thế, người giàu đã sử dụng quyền lực kinh
tế của mình để thống trị số đông người nghèo. Cũng vì lẽ đó mà người giàu
luôn lo lắng khi kinh tế của họ giảm đi thì quyền lực cũng giảm theo. Do vậy,
họ luôn tìm cách vơ vét lợi ích nhiều nhất cho bản thân mà không đếm xỉa đến
lợi ích của xã hội, của số đông người dân khác sẽ như thế nào. Những nhà
nước kiểu này sẽ phát sinh nạn tham nhũng trong giới chính trị gia hết thời kỳ
này nối tiếp sang thời kỳ khác. Chính trị gia sẽ hợp tác rộng rãi với các
thương gia, thương nhân gây ra những tiêu cực, bất bình đẳng trong hoạt động
kinh doanh. Tình hình kinh tế trong nước và kinh tế đối ngoại của những nước
đang phát triển càng bị thua thiệt so với những nước công nghiệp phát triển.

13


Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, khi các vấn đề như kinh tế,
thương mại, chính trị, quân sự và nhiều vấn đề khác đều có sự giao thoa lẫn
nhau và có nhiều biến đổi nhanh chóng thì các nước đang phát triển càng cần

và một lần nữa khu vực này lại trở thành nơi mà thế giới quan tâm. Một châu
Á đang nổi lên đã đạt mức tăng trưởng trung bình hàng năm 8% trong những
năm 2005, 2006, 2007, nhanh như trước cuộc khủng hoảng tài chính. Do đó
châu Á có vẻ đã phục hồi sau cuộc khủng hoảng. Một số nhà bình luận kinh tế
cho rằng nhờ cải cách cơ cấu, những nước từng rơi vào khủng hoảng hiện trở
nên động và kiên cường hơn. Điều này được thể hiện rõ hơn vào những năm
2008 – 2009, thời điểm diễn ra khủng hoảng tài chính toàn cầu, các nước châu
Á nhìn chung đã vững vàng hơn. Tuy nhiên, cũng trong thời điểm này Nhật
Bản có tốc độ tăng trưởng còn thấp, dưới 1%, thậm chí có nhiều năm tốc độ
2

tăng trưởng âm . Thái Lan cũng là nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ cuộc
khủng hoảng tài chính, tốc độ tăng trưởng chậm trong nhiều năm, thậm chí
năm 2001, tốc độ tăng trưởng chỉ khoảng 1,8%.

3

Đông Á cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 vẫn được coi là nơi diễn ra những
chính sách sôi động về kinh tế thị trường. Những sự phát triển ngoạn mục của
các nước NIEs, sự chuyển nhanh sang kinh tế thị trường của Trung Quốc, Việt
Nam… đang có hiệu ứng tích cực đến quá trình cải cách và phát triển nền
kinh tế Nhật Bản, Thái Lan. Vai trò nổi bật của khu vực này thể hiện ở chỗ:
nếu năm 1980 kinh tế Đông Á chỉ chiếm 20,6% giá trị thương mại thế giới,
nhưng năm 1990 đã tăng lên 31,4% và đến năm 2000 đạt khoảng 46%...

4

khiến cho nó trở thành một đối tác quan trọng trong hợp tác kinh tế quốc tế,
nhất là hợp tác từ Mỹ và EU. Hợp tác Đông Á được đẩy mạnh hơn bao giờ hết
và nếu không có những điều chỉnh chính sách kịp thời, Nhật Bản có thể sẽ

vi ảnh hưởng vốn có và để sử dụng các nước này như là điều kiện thực hiện
của chiến lược điều chỉnh cơ cấu và nâng cao vị thế cạnh tranh của nền kinh
tế Nhật Bản. Đặc biệt, thành công khiêm tốn của liên kết kinh tế ASEAN
được xem như là hình mẫu của tổ chức liên kết kinh tế trong các nước đang
phát triển và với vị thế mới của ASEAN trong quan hệ quốc tế, các nước lớn,
trong đó có Nhật Bản, đều phải xem nó như là một đối tác kinh tế quan trọng
trong điều chỉnh chính sách kinh tế của họ.
Hợp tác trong khuôn khổ APEC với mục tiêu tạo thuận lợi và tự do hóa
trong hoạt động kinh tế của các nước thành viên, trong đó có Nhật Bản và
Thái Lan, đang đặt ra yêu cầu cho Nhật Bản và Thái Lan cũng như các nước
thành viên khác là đẩy mạnh các quan hệ hợp tác kinh tế song phương và tích

16


cực tham gia, dẫn dắt các quan hệ hợp tác đa phương trong khu vực. Trong
khuôn khổ APEC, Mỹ và Nhật Bản tiếp tục tỏ rõ vai trò quan trọng trong sự
điều chỉnh hợp tác khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong điều kiện mới.
1.1.3. Chiến lược phát triển của Nhật Bản và Thái Lan trong thế kỷ 21
Bước vào thế kỷ 21, trước những thay đổi của bối cảnh quốc tế và khu
vực, Nhật Bản đã đưa ra một chiến lược phát triển với tên gọi: Chiến lược
phát triển mới trong thế kỷ 21 (The New Development Strategy). Trong quan
hệ giữa các nước đang phát triển thì mục đích phát triển con người là trọng
tâm trong chiến lược, chú trọng tới việc nâng cao chất lượng cuộc sống của
con người. Đề cao việc các nước tự dựa vào sức mình, tự chịu trách nhiệm và
tìm kiếm đối tác hợp tác vì sự phát triển của cả hai bên, đặc biệt là các nước
ASEAN.
Chiến lược của Nhật Bản là tập trung phát triển các lĩnh vực như: sức
khỏe cộng đồng, y tế, giáo dục, phát triển bền vững và bảo vệ môi trường.
Ngoài ra, Nhật Bản cũng có chiến lược giúp đỡ các nước đang phát triển để


Bên cạnh đó, trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay, Thái Lan
cũng có một số thay đổi trong chính sách đối ngoại. Nếu như thời kỳ trước
khủng hoảng tài chính, Thái Lan là một nước có nền kinh tế phát triển mạnh
trong khu vực với tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vực và ổn định trong nhiều
năm, Thái Lan có hi vọng sẽ trở thành quốc gia đầu tầu trong ASEAN, sẽ là
cầu nối giữa các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Liên minh Châu
Âu với ASEAN. Vì thế, trong thời gian này chính sách đối ngoại của Thái Lan
là tập trung số một cho mối quan hệ với các nước láng giềng và với Hiệp hội
ASEAN, nhằm mở rộng thị trường thương mại, thị trường đầu tư…
Tuy nhiên, kể từ sau khủng hoảng tài chính, Thái Lan nhận thấy rằng
các nước trong ASEAN không thể có khả năng giúp Thái Lan vượt qua khủng
hoảng mà chỉ có những nước lớn, những nước kinh tế phát triển như Mỹ,
Nhật Bản, Trung Quốc và Liên minh Châu Âu, mới có thể giúp được Thái
Lan. Vì thế, thời gian này Thái Lan đã phải điều chỉnh chính sách đối ngoại

6

Theo báo: Nhà quản lý ra ngày 12, 13/1/2001, tr. 1 - 2

18


cho phù hợp với tình hình thực tế và tương lai lâu dài. Chính sách đối ngoại
của Thái Lan đầu thế kỷ 21 là ưu tiên thiết lập mối quan hệ khăng khít trở lại
với các nước lớn Mỹ, Nhật Bản và Liên minh Châu Âu, mà đã bị Thái Lan
quên lãng khoảng hơn 10 năm cuối thế kỷ 20. Trong mối quan hệ này Thái
Lan đặc biệt quan tâm tới việc kêu gọi sự giúp đỡ và viện trợ từ các nước lớn
trong việc giúp Thái Lan phục hồi nền kinh tế. Ngoài ra, Thái Lan cũng chú
trọng tới việc hợp tác thương mại với các nước này. Thái Lan luôn tìm cách

tài chính Châu Á
Quan hệ Thái Lan – Nhật Bản được hình thành và phát triển từ lâu.
Ngay từ thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất, Nhật Bản đã đưa các sản phẩm
công nghiệp đến bán tại Thái Lan và khi đó các sản phẩm này của Nhật Bản
đã cạnh tranh được với các hàng hóa của Anh tại đây. Nhật Bản đã gặt hái
được nhiều thành công và thu được nhiều lợi ích trong việc kinh doanh tại
Thái Lan thời kỳ này. Tiếp sau đó, trong chiến tranh thế giới thứ hai, mối quan
hệ giữa Thái Lan và Nhật Bản ngày càng trở nên gắn bó hơn, nhất là trong
mối quan hệ đồng minh chiến tranh. Thái Lan trở thành nơi cung cấp nguyên
liệu, tài nguyên cho Nhật Bản, thậm chí còn cho phép Nhật Bản sử dụng lãnh
thổ của mình cho những mục đích quân sự. Nhưng cuối cùng, tất cả những
mối quan hệ giữa Thái Lan và Nhật Bản được gây dựng qua hai cuộc chiến
tranh đều không mang lại kết quả gì tốt đẹp cho xã hội Thái Lan, người dân
Thái Lan vẫn luôn phải đối mặt với lạm phát và sự thiếu thốn các nhu yếu
phẩm.
Tiếp theo đó, trong giai đoạn chiến tranh lạnh, quan hệ chính trị, quân
sự giữa hai nước giảm xuống đáng kể nhưng quan hệ kinh tế vẫn được duy trì
và củng cố. Cuối thời kỳ chiến tranh lạnh, nhất là những năm 80, hàng hóa từ
Nhật Bản nhập khẩu vào Thái Lan với số lượng lớn, đặc biệt là hàng tiêu
dùng. Đầu năm 1980, hàng hoá nhập khẩu vào Thái Lan tăng so với những
năm 70 là 33,7% trong đó hàng tiêu dùng nhập khẩu tăng tới 41,3%. Tuy
nhiên từ khoảng những năm 1983 đến 1986, hàng hoá nhập khẩu từ Nhật Bản
vào Thái Lan đã có chiều hướng dịch chuyển, số lượng hàng tiêu dùng giảm
xuống chút ít và thay vào đó là số lượng hàng công nghiệp. Đến năm 1986,
nhập khẩu từ Nhật Bản vào Thái Lan giảm đi 5%, do số lượng các công ty
Nhật Bản đầu tư vào Thái Lan đã tăng lên đáng kể. Tuy nhiên tới năm 1987

20



8

[23, tr. 202]

9 [26, tr. 7]

21


nhập khẩu số một và là thị trường xuất khẩu thứ hai (sau Mĩ). Bên cạnh đó,
hàng năm Nhật Bản cũng xuất khẩu sang Thái Lan khoảng 3,6% tổng giá trị
xuất khẩu ra nước ngoài và nhập khẩu 2,9% tổng giá trị nhập khẩu từ các
nước. Như vậy, Thái Lan là thị trường xuất khẩu đứng hàng thứ 6 của Nhật
Bản và là thị trường nhập khẩu đứng hàng thứ 10.
Những mặt hàng chủ yếu mà Nhật Bản xuất khẩu sang Thái Lan là phụ
tùng xe gắn máy, máy móc cơ khí và các sản phẩm cơ khí, hóa chất… Ba mặt
hàng này được xuất khẩu nhiều nhất chiếm tới 90% tổng số mặt hàng xuất
khẩu sang Thái Lan. Ngoài ra, các mặt hàng Nhật Bản nhập khẩu từ Thái Lan
bao gồm các loại thực phẩm như tôm đông lạnh, thịt gà, đường và các loại
nguyên liệu, nhiên liệu…

10

Bảng 1.1: Trao đổi thương mại giữa Thái Lan và Nhật Bản (1992 - 1998)
triệu USD
Xuất khẩu của

Nhập khẩu

Cán cân


-6520

1995

9 360

20 410

- 11 050

1996

10 210

18 280

-8060

1997

8 700

16 110

-7410

1998

7 470

So với thời gian trước đây, những năm 1987 – 1991 số dự án đầu tư của
Nhật Bản vào Thái Lan tăng so với trước rất nhiều bao gồm tất cả 709 dự án
với số vốn đầu tư lên tới 221,6 tỉ bạt, tập trung vào các lĩnh vực như: công
nghiệp điện và điện tử chiếm tới 211 dự án chiếm tới 68,9 tỉ bạt gồm có cả sự
đầu tư lần đầu tiên của các công ti thiết bị điện gia dụng hàng đầu Nhật Bản
như công ti Shar, đầu tư sản xuất tại Thái Lan các thiết bị như: lò nướng, lò vi
sóng, tủ lạnh… tiếp sau này là sản xuất cả máy điều hòa nhiệt độ. Ngoài ra
còn có sự đầu tư của tập đoàn JVC, sản xuất máy truyền hình màu tại Thái
Lan. Bên cạnh đó còn có các công ti lớn và nổi tiếng khác của Nhật Bản đầu
tư vào Thái Lan như Fujitsu sản xuất các thiết bị điện tử như: ổ cứng, máy in,

23


linh kiện điện tử… Các công ti trong lĩnh vực công nghiệp xe gắn máy của
Nhật Bản cũng bắt đầu mở rộng ở Thái Lan như Isuzu, Suzuki…

11

Có thể thấy rằng, trong thời gian này, Nhật Bản có xu hướng đầu tư
trong những lĩnh vực mà được chính phủ Thái Lan ưu đãi và bảo hộ. Việc đầu
tư phần lớn vẫn có xu hướng liên doanh cùng với nhà đầu tư Thái Lan và đầu
tư nhằm vào các mặt hàng xuất khẩu. Năm 1987 – 1991 có tới 70% dự án đầu
tư của Nhật Bản vào Thái Lan nhận được sự hỗ trợ từ chính phủ Thái và đều
là đầu tư trong lĩnh vực hàng hóa xuất khẩu, trong đó số lượng xuất khẩu
ngược trở lại Nhật Bản là khoảng 22,5% , xuất khẩu sang Hoa Kỳ khoảng
15,2%, xuất sang các nước Châu Á và Trung Đông khoảng 24,6%.

12


1994

1995

1996

1997

1998

số dự án 171

258

317

319

216

251

983

555

254

188



86

56

74

220

165

177

số tiền

429

126

318

740

727

889

Nguồn: Ủy ban hỗ trợ đầu tư – Bộ Hợp tác đầu tư Thái Lan (2000)
Nếu tính tỉ lệ phần trăm đầu tư của Nhật Bản vào Thái Lan trong tổng
số đầu tư nước ngoài vào Thái Lan thì càng dễ dàng nhận thấy rằng đầu tư

39.0

25


1995

49.5

1996

49.4

Nguồn: Ủy ban hỗ trợ đầu tư – Bộ Hợp tác đầu tư Thái Lan
(1998)
Có thể nhận định về đặc điểm đầu tư của Nhật Bản vào Thái Lan trong
giai đoạn này như sau:
- Dự án đầu tư phần lớn là dự án vừa và nhỏ với mức thuê nhân công
dưới 100 người
- Dự án phần lớn là sản xuất sản phẩm để xuất khẩu.
- Hàng hóa sản xuất phần lớn là hàng hóa trung cấp
- Phần lớn dự án đầu tư liên doanh là của nhà đầu tư Nhật Bản góp vốn
cùng nhà đầu tư Thái Lan.
Trong những năm 80 và 90, chính phủ Nhật Bản còn chú trọng mở rộng
việc hỗ trợ đầu tư sang các nước bằng cách mở rộng tiền cho vay và tiền cho
vay không chỉ tiền Yên mà còn bằng các ngoại tệ khác. Từ năm 1982 - 1986,
sự giúp đỡ về mặt kinh tế mà Thái Lan nhận được từ Nhật Bản ở chủ yếu
được thể hiện ở dạng viện trợ không hoàn lại.
Viện trợ không hoàn lại mà Nhật Bản dành cho Thái Lan từ năm 1982
– 1986 có tổng số lên tới 417 triệu USD, cụ thể là:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status