CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC CỦA
DOANH NGHIỆP SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN
I. Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu của doanh nghiệp
1. Khái niệm về xuất khẩu
Xuất khẩu là hoạt động đưa hàng hoá và dịch vụ từ quốc gia này sang quốc
gia khác. Xuất khẩu được coi là hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài ít
rủi ro và chi phí thấp. Dưới giác độ kinh doanh, xuất khẩu là việc bán các hàng
hoá, dịch vụ. Dưới giác độ phi kinh doanh như làm quà tặng hoặc viện trợ
không hoàn lại thì hoạt động đó lại là việc lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ qua
biên giới quốc gia. (5, Trang 272)
2. Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp
Khi tham gia kinh doanh trên thị trường quốc tế, mục tiêu của các doanh
nghiệp là mở rộng thị trường, tăng doanh số bán, tiếp thu kinh nghiệm. Xuất
khẩu là phương thức thâm nhập thị trường quốc tế ít rủi ro và chi phí thấp nên
được rất nhiều doanh nghiệp áp dụng trong thời gian đầu khi mới thâm nhập
vào thị trường quốc tế.
Lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu, có thể coi nó là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Xuất khẩu mang lại cho doanh
nghiệp nguồn lợi nhuận không nhỏ thông qua việc tăng doanh số bán. Đây là
vai trò quan trọng nhất của xuất khẩu đối với doanh nghiệp.
Trên thị trường quốc tế, mức độ cạnh tranh gay gắt hơn nên doanh nghiệp
phải không ngừng nâng cao chất lượng hàng hoá, phải khẳng định được uy tín
và thương hiệu của mình. Một khi doanh nghiệp có uy tín trên thị trường quốc
tế thì cũng tạo được sự tin tưởng lớn hơn đối với khách hàng trong nước. Nhờ
đó, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường nội địa sẽ cao hơn,
sức tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp tăng lên đáng kể, lợi nhuận cũng sẽ tăng
lên.
Xuất khẩu giúp doanh nghiệp tiếp thu được những kinh nghiệm quản lý kinh
doanh, công nghệ, vốn, thị trường… và những bài học quốc tế quý giá. Từ đó,
họ có được những thủ thuật, chiến lược kinh doanh giúp việc kinh doanh có
hiệu quả hơn.
các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân nước ngoài ngay trên lãnh thổ quốc gia
mình. Do đó, giảm được chi phí cũng như rủi ro, góp phần gia tăng lợi nhuận.
3.7 Xuất khẩu uỷ thác
Là hình thức kinh doanh xuất khẩu trong đó các công ty chỉ đóng vai trò
trung gian xuất khẩu thực hiện những thủ tục cần thiết để xuất hàng thay cho
nhà sản xuất và hưởng phí uỷ thác.
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng may mặc của doanh nghiệp
4.1 Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
•
Nhân tố kinh tế
Kinh tế ngày càng phát triển, sự phân công lao động và chuyên môn hoá sản
xuất ngày càng sâu sắc. Ngành sản xuất hàng may mặc có xu hướng chuyển dần
từ các nước công nghiệp mới NICs sang các nước đang phát triển. Mặt khác,
nhu cầu hàng may mặc ngày càng lớn. Đây là điều kiện thuận lợi cho hoạt động
xuất khẩu hàng may mặc phát triển.
Nền kinh tế nước ta đã có những bước tiến quan trọng trong những năm gần
đây. Đặc biệt là sự gia tăng của hoạt động mua bán quốc tế. Số lượng các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu hàng may mặc ngày càng nhiều, làm
ăn ngày càng có hiệu quả. Nhà nước và các Bộ ngành cũng tạo điều kiện thuận
lợi như cung cấp thông tin, tạo khung pháp lý… cho các doanh nghiệp xuất
khẩu phát triển.
Hiện nay, giá cả của các mặt hàng trên thế giới có xu hướng ngày càng gia
tăng, trong đó có giá nguyên phụ liệu phục vụ ngành may mặc. Mà Việt Nam
chủ yếu sử dụng nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu nên giá thành của sản phẩm
sẽ cao hơn, do đó ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của Việt Nam trên thị
trường thế giới.
• Nhân tố chính trị
Ảnh hưởng đến sự hình thành các cơ hội thương mại cũng như khả năng hạn
chế rủi ro, thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp khi tham gia kinh doanh trên thị
trường quốc tế. Chính trị ổn định thì việc kinh doanh sẽ giảm bớt được rủi ro, có
luật để hướng dẫn cũng như quy định về xuất khẩu, có những quy định ưu đãi
cho các doanh nghiệp dệt may như: không phải nộp thuế nhập khẩu và thuế giá
trị gia tăng đối với nguyên phụ liệu nhập khẩu từ nước ngoài hoặc mua trong
nước phục vụ nhu cầu sản xuất hàng xuất khẩu; hồ sơ xin Visa được giảm bớt
nhiều giấy tờ; nếu thực hiện đầu tư mới thì thu nhập thu được từ sự đầu tư đó
được giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong hai năm tiếp theo; các doanh
nghiệp xuất khẩu dệt may với số lượng dưới 20 tấn không cần phải có sự phê
duyệt của liên bộ...
Bên cạnh đó cũng còn một số quy định làm giảm khả năng cạnh tranh của
các doanh nghiệp trong nước so với các đối thủ nước ngoài. Ví dụ như quy định
của Bộ tài chính về chi phí dành cho quảng cáo của doanh nghiệp không quá
7% tổng chi phí (trong khi đó, các doanh nghiệp nước ngoài được phép dành tối
đa 50% tổng chi phí cho hoạt động quảng cáo. Điều này làm hạn chế khả năng
mở rộng thị trường của các doanh nghiệp Việt Nam.
Luật pháp nước ngoài cũng ảnh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp xuất
khẩu hàng may mặc. Việt Nam đã tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế và khu
vực nên đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp xuất
khẩu nói chung phải hiểu biết về các quy định cũng như luật pháp của các nước
và các tổ chức mà doanh nghiệp tham gia kinh doanh. Việt Nam là thành viên
của WTO thì phải thực hiện quy định về hàng dệt may (ATC), tức là các nước
phải dỡ bỏ hoàn toàn hạn ngạch dệt may giai đoạn cuối cùng là 01/01/2005. Là
thành viên của ASEAN thì phải tuân thủ các điều khoản của CEPT/AFTA, tức
là phải giảm thuế xuất nhập khẩu xuống từ 0 – 5% trong vòng 10 năm…
•
Các rào cản đối với hàng may mặc xuất khẩu
Một số quốc gia thường dùng các biện pháp về thuế, hạn ngạch, các rào cản
kỹ thuật để bảo vệ ngành may mặc trong nước, ngăn chặn hàng may mặc từ
nước ngoài vào. Nhưng do xu hướng mậu dịch tự do hiện nay nên các nước đó
phải xoá bỏ dần các biện pháp về thuế, hạn ngạch đồng thời tăng dần các rào
cản kỹ thuật. Các rào cản thường được các nước nhập khẩu hàng may mặc áp
khẩu Việt Thắng, công ty xuất nhập khẩu dệt may Việt Tiến… Nguyên nhân chủ
yếu là do chi phí để thực hiện cao và sau 3 năm lại phải làm lại một lần.
Luật chống phá giá do Mỹ áp dụng đối với một số mặt hàng cũng gây khó
khăn cho không ít nước xuất khẩu. Việt Nam bị thiệt hại khá lớn trong hai vụ
kiện bán phá giá của Mỹ đối với mặt hàng cá tra, cá Basa và mặt hàng tôm. Mặt
hàng dệt may cũng đang có nguy cơ bị kiện bán phá giá. Vì vậy, Việt Nam cũng
cần chuẩn bị và cảnh giác với sự kiện này.
• Nhân tố văn hoá xã hội
Yếu tố văn hoá xã hội ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh xuất
khẩu của doanh nghiệp. Nhu cầu của khách hàng về may mặc, hành vi mua sắm
của khách hàng chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố văn hoá, nhất là các phong tục
tập quán. Thế giới có rất nhiều nền văn hoá đa dạng với rất nhiều phong tục tập
quán khác nhau. Vì thế, doanh nghiệp cần phải tìm hiểu thật kỹ về văn hoá,
phong tục tập quán của quốc gia mà mình muốn thâm nhập. Đầu tiên phải xem
xét đến yếu tố dân số, nó quyết định quy mô thi trường và tính đa dạng của nhu
cầu. Thông thường dân số càng đông thì thị trường càng lớn, nhu cầu và khối
lượng tiêu thụ sản phẩm càng lớn, khả năng đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh
doanh cho doanh nghiệp càng cao.
Tiếp đến là yếu tố thu nhập và phân bố thu nhập của dân cư. Thu nhập của
khách hàng được phân bổ cho những nhu cầu khác nhau theo các tỉ lệ khác nhau
với mức độ ưu tiên khác nhau. Do đó, sẽ ảnh hưởng đến sự lựa chọn loại sản
phẩm, giá cả, hình thành nên những quan điểm khác nhau của khách hàng về
chất lượng sản phẩm. Để kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp cần xem xét kỹ
yếu tố này nhằm lựa chọn được sản phẩm thoả mãn nhu cầu của khách hàng cả
về chủng loại, chất lượng và giá cả.
Đặc biệt, doanh nghiệp phải hết sức lưu tâm đến yếu tố chủng tộc, sắc tộc,
tín ngưỡng, tôn giáo và nền văn hoá. Những yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến
sự đa dạng của nhu cầu, quan điểm về sản phẩm, cách thức sử dụng sản phẩm,
thói quen tiêu dùng, tập quán mua sắm… của khách hàng.
•
trường nước ngoài, nơi có những đặc điểm hoàn toàn khác hẳn trong nước về thị
hiếu, sở thích, văn hoá, luật pháp… lại xa xôi về mặt địa lý. Nếu đội ngũ cán bộ
công nhân viên không có trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, không tổ chức tốt bộ
máy quản lý, mạng lưới thông tin thì việc kinh doanh sẽ không có hiệu quả. Tổ
chức quản lý tốt không chỉ quản lý tốt từng bộ phận mà còn phải gắn kết được
các bộ phận với nhau, tổ chức được mạng lưới thông tin nội bộ doanh nghiệp.
Các bộ phận phòng ban thực hiện những chức năng, nhiệm vụ riêng biệt, tránh
mâu thuẫn, chồng chéo, cạnh tranh không lành mạnh giữa các bộ phận. Thực
hiện tổ chức quản lý tốt làm cho doanh nghiệp trở thành một khối thống nhất,
hoạt động nhịp nhàng, liên tục, hiệu quả cao hơn.
Nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, lao động có tay nghề cao, khéo
léo, dễ đào tạo là một lợi thế của các doanh nghiệp dệt may nước ta. Tuy nhiên,
năng suất lao động còn thấp, chỉ bằng 50 – 60% so với Trung Quốc và các nước
trong khu vực. Do đó, tuy giá nhân công của nước ta rẻ hơn nhưng giá nhân
công tương đối lại cao hơn các nước khác, dẫn đến làm tăng chi phí và giảm lợi
nhuận thu được. Đây là một khó khăn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng
may mặc của nước ta. Mặt khác, lao động trong ngành dệt may nói chung phải
làm việc vất vả nhưng giá lao động thấp nên họ thường có xu hướng chuyển
sang làm trong các ngành khác, gây ra tình trạng thiếu lao động, tốn thêm chi
phí đào tạo lao động mới. Bên cạnh đó còn có sự di chuyển lao động giữa các
doanh nghiệp. Những lao động có tay nghề và trình độ cao thường chuyển từ
doanh nghiệp Nhà nước sang những doanh nghiệp liên doanh, những doanh
nghiệp nước ngoài do mức lương cao hơn và dành cho họ những chế độ ưu đãi
tốt hơn. Điều này dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp trong nước ngày càng bị
thiếu hụt đội ngũ lao động có tay nghề và trình độ cao, ảnh hưởng tới năng suất
lao động của doanh nghiệp.
•
Nhân tố tài chính
Nhân tố tài chính quyết định quy mô của doanh nghiệp cũng như cơ hội kinh
doanh của doanh nghiệp. Nó phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua