Biện pháp quản lý chu trình phát triển chương trình giáo dục ngành kế toán tại trường cao đẳng bách khoa hưng yên luận văn ths quản lý giáo dục 60 14 05 - Pdf 69

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM THỊ HẬU

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN
CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC NGÀNH KẾ TOÁN TẠI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG BÁCH KHOA HƯNG YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Đức Chính

HÀ NỘI - 2009


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chän ®Ò tµi................................................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu............................................................................................................. 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu............................................................................................................. 3
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu............................................................................... 4
5. Giả thuyết khoa học................................................................................................................ 4
6. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................................... 4
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu............................................................................................ 4
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn.............................................................. 5
9. Cấu trúc luận văn..................................................................................................................... 5

phát triển chương trình giáo dục ngành kế toán của Nhà trường........................ 60
2.2.1. Quy mô đào tạo ngành kế toán của trường Cao đẳng Bách khoa
Hưng Yên......................................................................................................................................... 60
2.2.2. Thực trạng phát triển chương trình và công tác quản lý chu
trình phát triển chương trình giáo dục ngành kế toán tại trường Cao
đẳng Bách khoa Hưng Yên..................................................................................................... 60
Chƣơng 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN
CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC NGÀNH KẾ TOÁN PHÙ HỢP
VỚI TRƢỜNG CAO ĐẲNG BÁCH KHOA HƢNG YÊN
TRONG TÌNH HÌNH HIỆN TẠI VÀ BỐI CẢNH HỘI NHẬP
CỦA VIỆT NAM........................................................................................................................ 74
3.1. Nguyên tắc xây dựng biện pháp quản lý chu trình phát triển chương
trình giáo dục ngành kế toán.................................................................................................. 74
3.1.1. Tuân thủ các chức năng của quản lý..................................................................... 74
3.1.2. Tuân thủ chu trình phát triển chương trình giáo dục.................................... 75
3.1.3. Đảm bảo tính liên tục và tính hiệu quả................................................................ 77
3.2. Xây dựng một số biện pháp quản lý nhằm hiện thực hóa chu
trình và nâng cao hiệu quả công tác phát triển chương trình giáo dục
ngành kế toán tại trường Cao đẳng Bách khoa Hưng Yên..................................... 79
3.2.1. Thành lập Ban phát triển chương trình giáo dục ngành kế toán
79
3.2.2. Tập huấn các kỹ năng cho giảng viên trong việc xây dựng
chương trình giáo dục................................................................................................................
3.2.3. Xây dựng bộ tiêu chí nhằm quản lý cán bộ giảng dạy trong

81


việc thực hiện chương trình giáo dục .....................................................
3.2.4. Thành lập trung tâm thu nhận và xử lý thông tin từ các nguồn



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tốc độ phát triển nhanh của khoa học và công nghệ những năm cuối của
thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI đã làm tiền đề cho sự ra đời nền kinh tế tri thức và
hình thành một xã hội thông tin, là bước nhảy vọt nền kinh tế của nhiều nước,
đặc biệt là một số nước Đông Nam Á. Xu hướng hội nhập toàn cầu hoá buộc
mỗi quốc gia phải xây dựng lại chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất
nước mình, trong đó chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) đóng
vai trò quyết định sự phát triển bền vững trong bối cảnh mới.
Trong nền kinh tế tri thức, các cơ sở giáo dục đào tạo trở thành nơi cung
cấp lực lượng lao động trực tiếp quan trọng nhất. Tri thức dẫn đến những thay
đổi lớn lao không chỉ trong quản lý và sản xuất kinh doanh mà còn làm thay
đổi cuộc sống con người, thay đổi các quan niệm, các thói quen, các thước đo
giá trị. Do vậy, việc cơ cấu tổ chức và quản lý hệ thống giáo dục quốc dân, đặc
biệt là chương trình giáo dục là cấp thiết trong hệ thống giáo dục đào tạo Việt
Nam hiện nay, vì chương trình giáo dục phản ánh rõ nét nhất nền giáo dục của
quốc gia đó đang định hướng nguồn nhân lực gì cho tương lai và phản ánh
trình độ, chất lượng đào tạo.
Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 có nêu: Đổi mới mục tiêu, nội
dung, chương trình giáo dục: Tiến hành đổi mới mạnh mẽ chương trình giáo dục
theo hướng đa dạng hoá, chuẩn hoá, hiện đại hoá, tạo điều kiện để mau chóng tiếp
thu có chọn lọc những chương trình đào tạo của các nước phát triển về khoa học
tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ v.v…, phù hợp với yêu cầu của đất nước, phục vụ
thiết thực cho sự phát triển kinh tế – xã hội nói chung, từng lĩnh vực, từng vùng,
từng địa phương nói riêng. Các đại học quốc gia, các trường đại học, cao đẳng
trọng điểm, các ngành đào tạo thuộc các lĩnh vực mũi nhọn của khoa học – công
nghệ phải đi đầu trong việc đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình và phương
pháp giáo dục. Thiết kế các chương trình chuyển tiếp, các chương trình đa giai

Trường Cao đẳng Bách khoa Hưng Yên đóng trên địa bàn khu công nghiệp của
tỉnh với sự phát triển của nhiều công ty liên doanh, nhà máy, xí nghiệp, do vậy
nhu cầu về nguồn nhân lực có chất lượng cao là rất lớn. Hiện nay nhà trường đào
tạo hệ Cao đẳng chính qui với 8 chuyên ngành đào tạo, trong đó số lượng sinh
viên ngành Kế toán chiếm 1/3 tổng số sinh viên trong toàn trường,

2


chứng tỏ nhu cầu của người học về nghề Kế toán là rất nhiều. Để đáp ứng được
nhu cầu đó, chương trình giáo dục ngành Kế toán phải không ngừng cải tiến,
phát triển về mục tiêu, nội dung, gắn với nhu cầu thực tiễn của xã hội. Điều đó
đòi hỏi nhà quản lý phải đề ra những biện pháp quản lý cụ thể để công tác phát
triển chương trình ngành Kế toán diễn ra có hiệu quả nhất.Nắm bắt được
những nhu cầu thực tế về nhân lực kế toán tại các doanh nghiệp, đồng thời
luôn lắng nghe những phản hồi tích cực từ chính các doanh nghiệp về kỹ năng
của một kế toán viên cần có để đảm bảo công việc một cách hiệu quả, nhằm
cung cấp cho thị trường lao động những cử nhân có đầy đủ kiến thức và kỹ
năng thực tế mà các doanh nghiệp đang tìm kiểm.
Lựa chọn đề tài: “Biện pháp quản lý chu trình phát triển chương trình
giáo dục ngành kế toán tại trường Cao đẳng Bách khoa Hưng Yên” xuất phát
từ những lý do trên cũng như từ định hướng đổi mới giáo dục đại học hiện nay :
“Thực tế đổi mới của giáo dục đại học Việt Nam không theo kịp đổi mới kinh tế
của đất nước kể cả trong tư duy, trong hành động, trong cơ chế chính sách và các
biện pháp cụ thể. Để nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn
mới, giáo dục đại học nước ta phải đổi mới mạnh mẽ, cơ bản, toàn diện theo đúng
tinh thần của Nghị quyết số 14/2005/NQ-Cp của Chính phủ”. (Báo cáo của Bộ
Giáo dục và Đào tạo do Thứ trưởng Bành Tiến Long trình bày tại Hội nghị Hiệu
trưởng các trường Đại học, Cao đẳng diễn ra trong 2 ngày 10 và 11/05/2006 bàn
về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2010).

1. Khách thể nghiên cứu
Chu trình phát triển chương trình giáo dục tại trường CĐ Bách khoa Hưng yên.

4.

2. Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý chu trình phát triển chương trình giáo dục ngành Kế
toán có hiệu quả.
5.

Giả thuyết khoa học
Nếu có được các biện pháp quản lý tốt, chu trình phát triển chương trình

giáo dục ngành kế toán triển khai tại trường Cao đẳng Bách khoa Hưng Yên sẽ
được thực hiện một cách có hiệu quả, chương trình giáo dục ngành kế toán
được xây dựng và cập nhật đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
6.

Phƣơng pháp nghiên cứu

6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

 Tổng quan, khái quát.



Phân tích các khái niệm.
Nhận định, đánh giá.


Luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về phát triển chương trình
giáo dục theo định hướng đổi mới giáo dục hiện nay, nâng cao chất lượng đào
tạo xuất phát từ nhu cầu phát triển của xã hội.
8.

2. Về mặt thực tiễn

Đưa ra một số kinh nghiệm và các biện pháp phù hợp trong quá trình
quản lý chu trình phát triển chương trình giáo dục ngành kế toán nhằm mang
lại hiệu quả, đảm bảo chương trình giáo dục thiết kế và cập nhật theo nhu cầu
xã hội, đón đầu sự phát triển; các biện pháp tổ chức quản lý nhằm nâng cao
chất lượng đào tạo ngành kế toán, để đảm bảo quá trình đào tạo ngành kế toán
thực hiện đúng theo chương trình giáo dục đã thiết kế.
9.

Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, mục lục và tài liệu tham

khảo, luận văn dự kiến được trình bày trong 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý chu trình phát triển chương trình
giáo dục
Chƣơng 2: Thực trạng chu trình phát triển chương trình giáo dục ngành
kế toán và công tác quản lý chu trình phát triển chương trình giáo dục ngành
kế toán tại Trường Cao đẳng Bách khoa Hưng Yên.
Chƣơng 3: Biện pháp quản lý chu trình phát triển chương trình giáo
dục ngành kế toán phù hợp với Trường Cao đẳng Bách khoa Hưng Yên trong
tình hình hiện tại và bối cảnh hội nhập của Việt Nam.

5

Quản lý là nghệ thuật và khoa học quan tâm tới việc sử dụng các nguồn
lực để sinh lời, có hệ thống, và thích hợp trong mọi khía cạnh của nền kinh tế
quốc gia. Jonh Marsh, cựu giám đốc Viện quản trị Anh quốc (British Institute
of Management). Koontz và O‟Donnel phát biểu trong cuốn “Principles of
Management” cho rằng “Quản lý là việc hoàn thành các mục tiêu mong muốn
bằng cách xây dựng một môi trường thuận lợi để làm việc trong đó cho các cá
nhân vận hành trong từng nhóm được tổ chức”. [23]
Quản lý thường được coi là một hoạt động thực tiễn. Tuy nhiên hoạt
động quản lý cần có sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn. Điều này rất khó
6


thực hiện không chỉ trong quản lý giáo dục nói riêng mà quản lý xã hội, quản
lý sản xuất nói chung. Thực ra, chúng ta đều biết rằng, không thể thực hành mà
không có dẫn đường của lý luận. Nhưng chúng ta cũng biết rằng lý luận phải
gắn với thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn và đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Một
định nghĩa về quản lý: chức năng và hoạt động của hệ thống có tổ chức thuộc
các giới khác nhau (sinh học, kĩ thuật, xã hội), bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn
định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những
chương trình và mục tiêu của hệ thống đó [24].
Một khái niệm quản lý tổng quát nhất là “Quản lý là một hoạt động có
chủ đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể
quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý”. [7]
Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể nhằm quản lý
đến những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện
những mục tiêu dự kiến.
Quản lý có chức năng lập kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ
đạo thực hiện, chức năng kiểm tra đánh giá.
1.1.2. Quản lý giáo dục
Đối với một nền giáo dục, có rất nhiều nội dung nhà nước quản lý để

quốc dân. Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các
loại hình sau đây:
a)
Trường công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật
chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên;
b)
Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây
dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động;
c)
Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ
chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo
đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước”.
Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo, Nhà trường theo quan điểm giáo dục
học và quản lý giáo dục như sau: [1].
* Mô hình cấu trúc của Nhà
trƣờng a. Nhóm các nhân tố cơ bản
M - Mục tiêu đào tạo: Mục tiêu đào tạo chịu sự quy định của Mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội.
N- Nội dung đào tạo: Nội dung đào tạo được xác định từ Mục tiêu đào
tạo và thành quả của khoa học kỹ thuật, văn hoá.
P- Phương pháp đào tạo: Phương pháp đào tạo được hình thành từ thành
quả của khoa học giáo dục và quy định bởi mục tiêu giáo dục, nội dung giáo
dục.

8


Th

3T

3T: Yếu tố quản lý với 3 nhân tố Tiền - Tài - Tâm
* Mối liên hệ trong cấu trúc một Nhà trƣờng
Tam giác MNP là mối liên hệ biện chứng với nhau giữa các đỉnh và
trong giáo mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo được thể

9


hiện ở chương trình đào tạo cộng với hệ thống sách giáo khoa, giáo trình, bài
giảng…
MNP là vô hình nhưng được hiện hữu và thể hiện trong thực tế đào tạo ở
ThTrĐ. Đó là Lực lượng đào tạo (thầy cô giáo), Đối tượng đào tạo, và điều kiện
đào tạo. Tất nhiên, tam giác ThTrĐ là hiện hữu cho nên cân đo đong đếm được.
Và để tích hợp được MNP và ThTrĐ thì cần nhờ 6 nhân tố gắn kết: H - Hình
thức đào tạo; MO - Môi trường đào tạo; BO - Bộ máy tổ chức đào tạo; QI - Qui trình
đào tạo; HE - Hệ thống tạo ra các mối cân bằng động. Các nhân tố này gắn kết các
nhân tố cơ bản và các nhân tố động lực, tạo nên khối cấu trúc Nhà trường.

Nhân tố làm cho toàn bộ cấu trúc Nhà trường vận động tạo ra sự phát
triển toàn vẹn quá trình đào tạo là nhân tố quản lý với 3 tố chất quan trọng là
Tiền - Tài - Tâm.
Năm 1988 Caldwell và Spinks khởi xướng xây dựng khái niệm nhà
trường tự quản lý. Đến năm 1989 Beare và các tác giả khác luận chứng rằng
quản lý hiệu nghiệm đi theo một quá trình hiển thị cụ thể như sau:
1.
Xác định các nhu cầu về các hoạt động phát triển liên quan đến
quản lý nguồn lực một cách hiệu nghiệm.
2.
Nghiên cúu thực tiễn tốt đã được nhận biết.
3.

Theo website www.vcci.com.vn thì “Kế toán là nghệ thuật thu nhận,
xử lý và cung cấp thông tin về toàn bộ tài sản và sự vận động của tài sản
(hay là toàn bộ thông tin về tài sản và các hoạt động kinh tế tài chính) trong
doanh nghiệp nhằm cung cấp những thông tin hữu ích cho việc ra các quyết
định về kinh tế - xã hội và đánh giá hiệu quả của các hoạt động trong doanh
nghiệp.”
Theo Website www.kiemtoan.com.vn thì “Kế toán được định nghĩa là
một hệ thống thông tin đo lường, xử lý và cung cấp thông tin hữu ích cho việc
ra các quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.”
Theo Luật kế toán Việt Nam 2003 “Kế toán là việc thu thập, xử lý,
kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức
giá trị, hiện vật và thời gian lao động.”…….
Tuy nhiên, những định nghĩa này đều thống nhất với nhau ở chỗ: kế toán
là một hệ thống của những khái niệm và phương pháp, hướng dẫn chúng ta thu
thập, đo lường, xử lý và truyền đạt những thông tin cần thiết cho việc ra những
quyết định tài chính hợp lý.
1.2. Chƣơng trình giáo dục và phát triển chƣơng trình giáo dục
1.2.1. Chương trình giáo dục
Theo các chuyên gia giáo dục, việc nghiên cứu chương trình là một
trong những lĩnh vực nghiên cứu khó khăn và phức tạp của giáo dục. Chương
trình thay đổi theo sự phát triển của xã hội và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố
như người học, người dạy, người tuyển dụng lao động, các tổ chức tôn giáo,
chính trị...nên có nhiều quan niệm khác nhau và làm cho khái niệm này trở nên
phức tạp. Tuỳ thuộc vào cách lý giải người ta có thể hiểu và định nghĩa chương
trình khác nhau.
Vào những năm 60 của thế kỷ XX, chương trình được hiểu khá hẹp,
chẳng hạn cho rằng đó là "toàn bộ những kiến thức được cung cấp bởi các
môn

11

xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ (Tim Wentling, 1993)
+
Các bộ phận cấu thành của một chương trình giáo dục theo tiếp cận
phát triển :







Mục tiêu
Nội dung
Phương pháp và qui trình
Đánh giá kết quả

+
“Chương trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng
thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các
mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi,
mức độ nội dung học tập, các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức
học tập, cách đánh giá kết quả học tập…, nhằm đạt được các mục tiêu học tập
đề ra. (Nguyễn Hữu Chí, Viện KHGD 2002). [5,tr.14 ]
+
Đối với chương trình giáo dục đại học, Điều 41. Luật Giáo dục 2005
của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Số 38/2005/QH11
ngày 14 tháng 6 năm 2005 và Quy chế Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính

13


tra thì sinh viên càng gặp khó khăn hơn.
- Ý tưởng coi giáo dục chỉ là quá trình truyền thụ kiến thức và chương trình chỉ
chú trọng đến nội dung là quá đơn giản. Cách tiếp cận này không khuyến khích
giảng viên có trách nhiệm đối với sinh viên hay chịu trách nhiệm về tác động
của nội dung kiến thức lên sinh viên.
- Sản phẩm của quá trình đào tạo rất bị động và phụ thuộc vào thầy. Khi kiến thức của
loài người gia tăng với tốc độ lớn như hiện nay thì người học bị quá tải. [11, tr 33-34]

14


- Cách tiếp cận mục tiêu (the objective approach):
Mặc dù nội dung là vấn đề cốt lõi, nhưng nếu chỉ chú trọng đến nội dung
mà bỏ qua hoặc coi nhẹ nhiều khía cạnh khác của chương trình là không hợp
lý. Ý thức được những nhược điểm của cách tiếp cận nội dung, trong những
năm 40 và đầu những năm 50 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu giáo dục ở
Mỹ bắt đầu sử dụng một cách tiếp cận mới : cách tiếp cận mục tiêu. Theo cách
tiếp cận này, xuất phát điểm của chương trình là mục tiêu đào tạo.
Dựa trên mục tiêu đào tạo, người thiết kế chương trình mới đưa ra các
quyết định trong việc lựa chọn nội dung đào tạo, phương pháp giảng dạy và
các hình thức đánh giá kết quả học tập. Mục tiêu đào tạo là cơ sở để lựa chọn
nội dung đào tạo và đồng thời là tiêu chuẩn để đánh giá xem việc học tập có
đạt được mục tiêu đề ra trong chương trình hay không. Cách tiếp cận mục tiêu
chú trọng đến sản phẩm đào tạo và coi giáo dục là công cụ để đào tạo nên các
sản phẩm có các tiêu chuẩn đã được xác định sẵn.
Theo cách tiếp cận này, người xây dựng và các chuyên gia đánh giá
chương trình quan tâm đến việc quá trình đào tạo mang lại những thay đổi gì ở
sinh viên sau khi kết thúc khoá học trong các lĩnh vực nhận thức, kỹ năng và
thái độ. Nói cách khác, người xây dựng và đánh giá chương trình quan tâm đến
việc sản phẩm đào tạo sau khi học xong có đạt được những yêu cầu đề ra từ

- Cách tiếp cận hệ thống (The systems approach)
Cách tiếp cận hệ thống cũng có nhiều điểm tương đồng với cách tiếp cận
quản lý tức là tổ chức chương trình thành một hệ thống. Các bộ phận chương
trình được xem như những yếu tố liên kết với nhau trong một chỉnh thể. Cách
tiếp cận này em xét toàn bộ quá trình cần thiết trong việc thiết kế, thực thi,
đánh giá và phát triển chương trình cùng với các yếu tố nằm trong cấu trúc của
chương trình như môn học, khoá học, kế hoạch đào tạo, lịch trình giảng dạy.
Tiếp cận hệ thống cho phép thiết kế và xây dựng các chương trình có tính hệ
thống, chặt chẽ và logic cao, làm rõ vai trò, vị trí, tác dụng của từng khâu, từng
nội dung chương trình đồng thời đảm bảo mối liên hệ, tác động qua lại giữa
các thành tố của chương trình.
Cách tiếp cận hệ thống chịu ảnh hưởng của lý thuyết hệ thống, phân tích
hệ thống và kỹ thuật hệ thống. Những khái niệm này được các nhà khoa học xã
hội phát triển vào những năm 1950 – 1960 và được các nhà quản lý giáo dục
sử dụng như một phần của lý thuyết hành chính và tổ chức. Cách tiếp cận hệ
thống xem các đơn vị trong nhà trường là yếu tố có quan hệ qua lại và tác động
lẫn nhau. Các yếu tố như nhân sự, thiết bị, lịch trình giảng dạy là các công cụ
nhằm thay đổi hành vi của các cá thể tham gia vào hoạt động của nhà trường.
Các chuyên gia thiết kế chương trình theo cách tiếp cận hệ thống thường
có cách nhìn vĩ mô hơn về chương trình và đề cập tới các vấn đề của chương
trình liên quan tới toàn bộ hệ thống nhà trường. Vấn đề cần xem xét là chương

16


trình chi phối toàn bộ nội dung đào tạo các kế hoạch đào tạo như thế nào,
chương trình ảnh hưởng như thế nào tới cơ cấu tổ chức của nhà trường, tới nhu
cầu và quá trình đào tạo của người học, các phương thức điều phối và đánh giá
kết quả học tập.
- Cách tiếp cận nhân văn (The humanistic approach)


- Cách tiếp cận phát triển (The development approach)
Cách tiếp cận phát triển (còn gọi là cách tiếp cận quá trình coi giáo dục
và đào tạo là quá trình phát triển với nghĩa là phát triển con người, phát triển
một cách tối đa mọi tiềm năng tiềm ẩn trong mỗi con người, tạo ra những con
người có khả năng làm chủ tình huống, sẵn sàng đương đầu với mọi thách thức
sẽ gặp phải trong cuộc sống một cách chủ động và sáng tạo. Theo cách tiếp cận
này, người ta chú trọng đến phát triển sự hiểu biết ở sinh viên hơn là truyền thụ
kiến thức đã được xác định sẵn hay chú trọng đến sự thay đổi về hành vi ở
người học. Giáo dục là quá trình nhờ đó mức độ làm chủ bản thân tiềm ẩn ở
mỗi người, làm chủ vận mệnh mình được phát triển một cách tối đa. Giáo dục
và đào tạo phải phát triển tư duy hợp lý, năng lực suy nghĩ khoa học, sáng tạo,
phát triển tri thức về các mặt hơn là chỉ thu được một lượng kiến thức nhất
định. Những người xây dựng và đánh giá chương trình theo cách tiếp cận phát
triển lập luận rằng: người ta không thể học tất cả những gì cần thiết trong quá
trình đào tạo chính khoá, vì vậy chương trình phải được xây dựng sao cho sản
phẩm đào tạo có thể thích ứng với những đòi hỏi của nghề nghiệp không
ngừng thay đổi, với một thế giới không ngừng biến động. Cách tiếp cận phát
triển chú trọng đến việc dạy sinh viên cách học nhiều hơn là chú trọng đến nội
dung kiến thức. Cách tiếp cận này coi giáo dục là quá trình nên không có mục
đích cuối cùng, và mục tiêu không phải là thuộc tính của nó – con người muốn
liên tục phát triển phù hợp với sự phát triển của xã hội thì phải được giáo dục
và đào tạo liên tục suốt đời.
Vì vậy, thiết kế chương trình theo cách tiếp cận phát triển cần phải thực
hiện các hoạt động cần thiết sao cho có thể giúp người học phát triển tối đa các tố
chất sẵn có, nhằm đáp ứng được mục đích phát triển con người nói trên. Như vậy
sản phẩm của quá trình đào tạo ở mức độ nào đó đa dạng chứ không gò bó theo
một khuôn mẫu đã được định trước như cách tiếp cận mục tiêu. Có thể nói rằng,
theo cách tiếp cận phát triển với quan điểm giáo dục là quá trình phát triển thì
người xây dựng chú trọng nhiều đến khía cạnh nhân văn của chương trình. Có

trình giáo dục phải được thiết kế và tổ chức sao cho mọi người có thể được tiếp
cận ở mọi lúc, mọi nơi thuận lợi nhất cho họ.
Một trong những cách tiếp cận để thiết kế kiểu chương trình giáo dục
như vậy là cách thiết kế theo modun và được tổ chức thực thi theo phương
thức tích luỹ (tín chỉ).
Modun là một đơn vị kiến thức tương đối hoàn chỉnh, hướng tới một đầu
ra nhất định và có thể lắp ghép với một hoặc vài modun khác thành một đơn vị
kiến thức lớn hơn, hướng tới một đầu ra lớn hơn. Trong học chế tín chỉ, modun
có những đặc điểm sau:
- Modun có giá trị bằng một số tín chỉ chuẩn.
- Mỗi modun có nội dung và mục tiêu xác định.
- Các modun có giá trị lớn hơn có số tín chỉ là bội số của modun
chuẩn.
- Được kiểm tra đánh giá sau khi kết thúc.

19


- Được dạy - học trong một học kì.
-

Sinh viên có thể học tập, tích luỹ số tín chỉ của modun bằng nhiều cách: Lên lớp

lí thuyết; Thực hành, thí nghiệm; Xeminar; Trợ giảng; Lập hồ sơ; Tự học, tự nghiên cứu

- Có 3 loại modun:Modun cốt lõi; Modun tự chọn; Modun tuỳ ý.
Chương trình giáo dục được thiết kế dưới dạng modun thường có hai
loại như sau:
- Số modun cốt lõi (bắt buộc)
- Số modun tự chọn (bắt buộc và tuỳ ý).

Chương trình giáo dục có đạt mục tiêu đã xác định của nó hay không?
(kiến thức, kỹ năng, thái độ.)
Làm thế nào để cải tiến chương trình giáo dục ?
Trả lời 2 câu hỏi này chính là quá trình phát triển CTGD trong các Nhà
trường nói chung và trường Đại học, Cao đẳng nói riêng.
Hiện có một số mô hình về phát triển CTGD được trình bày các kiểu
khác nhau. Như mô hình hỗn hợp Hybrid, mô hình Tyler, mô hình Taba và mô
hình Oliva. 1.2.3.1. Mô hình hỗn hợp Hybrid
Okebukola (1997) cho rằng, mô hình hỗn hợp bao gồm các bước sau đây:

1. Chẩn
đoán nhu
cầu
11. Thẩm
định thường
kỳ

2. Hình thành
mục đích

3. Chọn nội
dung

10. Sử dụng
CTGD

4. Tổ chức nội
dung

9.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status