LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP - Pdf 69

LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức độc lập, có tư cách pháp nhân được thành lập để
thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường vì mục tiêu tối đa hoá,
tối đa hoá giá trị doanh nghiệp và phát triển doanh nghiệp.
Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau, doanh nghiệp được phân loại theo nhiều
hình thức. Tuy nhiên trong phạm vi tài chính và các quan hệ tài chính, doanh
nghiệp được phân loại theo hình thức sở hữu. Với cách phân loại này doanh nghiệp
được phân loại thành thành các loại sau:
- Công ty cổ phần
- Công ty TNHH
- Doanh nghiệp tư nhân
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
- Doanh nghiệp liên doanh
Mỗi loại hình doanh nghiệp có các hình thức tài chính quản lý tài chính khác
nhau nhưng nội dung và bản chất của hoạt động tài chính và giá trị tài chính cơ bản
là giống nhau.
1.1.2 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính là một hệ thống các mối quan hệ tiền tệ nảy sinh trong quá trình phân
phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành và sử dụng các
quỹ tiền tệ phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh và thực hiện các chức năng
quản lý nhà nước của doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế khách quan, gắn liền với sự ra
đời của nền kinh tế hàng hóa, tiền tệ. Mức độ phát triển của tài chính trong doanh
nghiệp phụ thuộc vào tính chất và nhịp độ phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Nền
kinh tế tập trung bao cấp đã sản sinh ra cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp là
bao cấp. Nền kinh tế thị trường đã làm xuất hiện hàng loạt các quan hệ tài chính
mới. Do đó, tính chất và phạm vi của hoạt động tài chính doanh nghiệp cũng có
những thay đổi đáng kể.
Tài chính doanh nghiệp là tài chính của những tổ chức, các đơn vị sản xuất

Để thực hiện mọi quá trình kinh doanh, trước hết các doanh nghiệp phải có vốn
kinh doanh. Vai trò của tài chính doanh nghiệp được thể hiện là xác định đúng
đắn nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
Tiếp đó phải lựa chọn các phương pháp và hình thức huy động vốn để hoạt
động của doanh nghiệp được thực hiện một cách nhịp nhàng, liên tục với chi
phí huy động vốn tối ưu.
- Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả.
Việc tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả được coi là điều kiện tồn tại và
phát triển của mọi doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng
như việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư, chọn ra dự án đầu tư tối ưu, lựa
chọn và huy động vốn có lợi nhất cho hoạt động kinh doanh, bố trí cơ cấu vốn
hợp lý, sử dụng các biện pháp để tăng nhanh vòng quay của vốn, nâng cao khả
năng sinh lời của vốn kinh doanh.
- Đòn bẩy kích thích và điều tiết kinh doanh.
Vai trò này của tài chính doanh nghiệp được thể hiện thông qua việc tạo sức
mua hợp lý để thu hút vốn đầu tư, lao động, vật tư, dịch vụ, đồng thời xác định
giá bán hợp lý khi tiêu thụ hàng hóa, cung cấp dịch vụ và thông qua hoạt động
phân phối thu nhập của doanh nghiệp, phân phối quỹ khen thưởng, quỹ lương,
thực hiện các hợp đồng kinh tế.
- Giám sát, kiểm tra chặt chẽ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Tình hình tài chính của doanh nghiệp là một tấm gương phản ánh trung thực
nhất mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua các chỉ tiêu tài
chính mà các nhà quản lý doanh nghiệp dễ dàng nhận thấy thực trạng quá trình
kinh doanh của doanh nghiệp, phát hiện kịp thời những vướng mắc, tồn tại để
từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động kinh doanh nhằm đạt tời
các mục tiêu đã đinh.
Vai trò của tài chính doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hay thụ động trước hết là
phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, cơ chế tổ chức tài chính doanh nghiệp
và các nguyên tắc cần quán triệt trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
1.2 Sự cần thiết của phân tích tài chính doanh nghiệp

đầu tư lớn họ thường dựa vào các nhà chuyên môn, các chuyên gia phân tích tài
chính, các nhà nghiên cứu kinh tế tài chính để phát triển và làm dự báo về triển
vọng phát triển của doanh nghiệp, đánh giá cổ phiếu của doanh nghiệp, khả năng
đảm bảo mức lợi tức mà họ yêu cầu. Đối với các nhà đầu tư hiện tại cũng như các
nhà đầu tư tiềm năng thì mối quan tâm của họ trước hết là việc đánh giá những đặc
điểm đầu tư của doanh nghiệp. Họ quan tâm tới an toàn trong đầu tư và mức lợi tức
kỳ vọng được phản ánh thông qua điều kiện tài chính của doanh nghiệp và tình
hình hoạt động tài chính. Các nhà đầu tư này quan tâm tới phân tích tài chính để
nhận biết khả năng sinh lời của doanh nghiệp, khả năng tăng trưởng và phát triển
của doanh nghiệp, những rủi ro mà doanh nghiệp có thể phải hứng chịu. Thông qua
đó để họ đưa ra quyết định đầu tư một cách có hiệu quả nhất: có nên bỏ vốn đầu tư
vào doanh nghiệp hay không, nếu đầu tư thì với khối lượng bao nhiêu và trong thời
gian bao lâu?
1.2.3 Đối với người cho vay, nhà cung cấp vật tư, hàng hóa, dịch vụ, các cơ
quan quản lý nhà nước, và các đối tượng khác.
Người cho vay là các ngân hàng, các công ty tài chính, tổ chức tín dụng ...
họ phân tích tài chính để nhận biết khả năng vay và trả nợ của khách hàng. Khi
quyết định cho vay thì một trong những vấn đề mà người cho vay cần xem xét là
doanh nghiệp thực sự có nhu cầu hay không? khả năng trả nợ của doanh nghiệp
như thế nào?
Đối với các nhà cung cấp vật tư, hàng hóa, dịch vụ, họ phải quyết định xem
có cho phép khách hàng sắp tới được mua trả chậm hàng hóa hay không, họ cần
thiết phải nắm thông tin về khả năng thanh toán của doanh nghiệp hiện tại cũng
như trong tương lai ….
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước như cơ quan thuế, cơ quan đăng ký
kinh doanh… Họ phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát hoạt động
sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có đúng chính
sách chế độ và luật pháp không, tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước để
đề ra các biện pháp quản lý phù hợp.
Người lao động cũng quan tâm đến các thông tin về tình hình tài chính

đến doanh nghiệp.
1.3 Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Quy trình phân tích tài chính
Để có được những thông tin đầy đủ chính xác cho người sử dụng thì phân
tích tài chính cần phải tổ chức thực hiện theo một quy trình hoàn thiện với nguồn
thông tin đầy đủ, phương pháp và nội dung phân tích khoa học. Quy trình phân tích
tài chính có thể thực hiện theo 4 bước sau:
Bước 1: Lập kế hoạch phân tích:
- Nội dung phân tích: cần xác định rõ các vấn đề được phân tích: có thể là
toàn bộ hoạt động tài chính hoặc chỉ là một số vấn đề cụ thể nào đó như cơ
cấu vốn, khả năng thanh toán…. Đây là cơ sở để xây dựng đề cương cụ thể
để tiến hành phân tích.
- Phạm vi phân tích: Có thể là toàn đơn vị hoặc một số đơn vị được chọn làm
điểm để phân tích, tùy yêu cầu và thực tiễn quản lý mà xác định nội dung và
phạm vi phân tích thích hợp.
- Thời gian ấn định trong kế hoạch phân tích bao gồm cả thời gian chuẩn bị
và thời gian tiến hành công tác phân tích.
- Trong kế hoạch phân tích cần phân công trách nhiệm cho các bộ phận trực
tiếp thực hiện và bộ phận phục vụ công tác phân tích, cũng như các hình
thức hội nghị phân tích nhằm thu thập nhiều ý kiến, đánh giá đúng thực
trạng và phát hiện đầy đủ tiềm năng giúp doanh nghiệp phấn đấu đạt kết quả
cao trong kinh doanh.
Bước 2: Thu thập và xử lý thông tin:
Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn
thông tin, từ thông tin trong nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên
ngoài, từ những thông tin số lượng đến những thông tin giá trị, từ những
thông tin lượng hóa được đến những thông tin không lượng hóa được.
- Thông tin tài chính: Để có được nguồn thông tin này cần thu thập các kế
hoạch tài chính chi tiết và tổng hợp, các báo cáo tài chính, báo cáo kế toán
quản trị, các tài liệu kế toán chi tiết có liên quan.

không khí tập thể, việc thay thế nhân viên….
* Mục tiêu của nhà lãnh đạo: Mục tiêu tăng trưởng mạnh
doanh thu sẽ kéo theo tăng chi phí quảng cáo, tăng phải thu do
tăng điều kiện ưu đãi để khuyến khích bán hang, tăng lượng hàng
tồn kho để đáp ứng các đơn đặt hàng lớn….
* Sản phẩm của doanh nghiệp: Mặt hàng, chất lượng, vị trí của
sản phẩm trên thị trường, mức độ đa dạng hóa sản phẩm trong
doanh nghiệp, chu kỳ sống của sản phẩm đó.
* Thị trường của các sản phẩm trong doanh nghiệp mang tính
chất quốc tế hay nội địa, thị phần mà doanh nghiệp chiếm lĩnh
cũng như tính ổn định của thị trường….
* Chính sách của doanh nghiệp để tăng cường và bảo vệ vị trí
của mình: Chính sách dự trữ vật tư, hàng hóa, chính sách bán
hàng, chính sách giá cả, chính sách khách hàng, chính sách quảng
cáo…..
Chất lượng công tác phân tích phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của các
thông tin thu thập được. Bởi vậy, trước khi phân tích, nhà phân tích phải kiểm tra
tính hợp pháp của tài liệu chứa đựng thông tin (trình tự lập, ban hành, người lập,
cấp thẩm quyền phê duyệt…. ) cũng như độ tin cậy của nguồn thông tin thu thập
được: tính nhất trí của cùng một thông tin kế toán trên các tài liệu khác nhau, tính
trung thực hợp lý của các thông tin kế toán….
Phạm vi kiểm tra không chỉ giới hạn ở các tài liệu trực tiếp làm căn cứ phân
tích mà cả các tài liệu khác có liên quan, đặc biệt là các tài liệu gốc.
Bước 3: Xác định những biểu hiện đặc trưng:
Tính toán các tỷ số tài chính, lập các bảng biểu theo từng nội dung đã đặt ra,
so sánh với các chỉ số kỳ trước, các chỉ số của ngành, của các doanh nghiệp khác
trong cùng một lĩnh vực hoạt động. Trên cơ sở đó, đánh giá khái quát mặt mạnh,
điểm yếu của doanh nghiệp, vạch ra những vấn đề, những trọng tâm cần được phân
tích.
Bước 4: Phân tích:

nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp.
1.3.2.2 Báo cáo kết quả kinh doanh (profit and loss statement)
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính phản ánh toàn bộ kết quả
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định và những
nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện với nhà nước.
Dựa vào số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh, người sử dụng thông tin có
thể kiểm tra, phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
trong kỳ, so sánh với các kỳ trước và với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành
để nhân biết khái quát kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ và xu hướng
vận động, nhằm đưa ra các quyết định quản lý, quyết định tài chính phù hợp.
Báo cáo kết quả kinh doanh cho biết tình hình doanh thu, chi phí và lợi
nhuận của một doanh nghiệp trong một kỳ kế toán đã qua.
1.3.2.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash flow statement)
BCLCTT là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng
lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp.
Nếu BCĐKT cho biết những nguồn lực, của cải (tài sản) và nguồn hình
thành của những tài sản đó và báo cáo kết quả kinh doanh cho biết thu nhập và chi
phí phát sinh để tính được kết quả lãi, lỗ trong một kỳ kinh doanh, thì BCLCTT
được lập để trả lời các vấn đề liên quan đến các luồng tiền vào, ra trong doanh
nghiệp, tình hình tài trợ, đầu tư bằng tiền của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
Theo chuẩn mực kế toán 24 quy định: Một BCLCTT phải được chia thành
ba phần:
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính
1.3.2.3 Thuyết minh báo cáo tài chính (Descriptive financial statement)
Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống báo cáo
tài chính của doanh nghiệp, được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình
hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo
cáo mà các báo cáo tài chính khác không thể trình bày chi tiết được. Nội dung của

- So sánh giữa số liệu thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu của
doanh nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status