BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
PHÍ THỊ HỒNG NHUNG
PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIỂM SOÁT
ĐƯỜNG HUYẾT CỦA NGƯỜI BỆNH
ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2
NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN
NỘI TIẾT TRUNG ƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI - 2020
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
PHÍ THỊ HỒNG NHUNG
Mã sinh viên: 1501376
PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIỂM SOÁT
ĐƯỜNG HUYẾT CỦA NGƯỜI BỆNH
ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2
NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN
NỘI TIẾT TRUNG ƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:
1. PGS.TS. Nguyễn Thị Song Hà
thực hiện đề tài.
Hà Nội, ngày 22 tháng 6 năm 2020
Sinh viên
Phí Thị Hồng Nhung
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ ........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN .................................................................................... 3
1.1. Bệnh đái tháo đường típ 2 ................................................................................ 3
1.1.1. Vài nét về bệnh đái tháo đường típ 2 ............................................................... 3
1.1.2. Gánh nặng do bệnh đái tháo đường típ 2 ......................................................... 4
1.2. Kiểm soát đường huyết ở người bệnh đái tháo đường típ 2 và chỉ số HbA1c
trong kiểm soát đường huyết ................................................................................... 5
1.2.1. Vai trò của kiểm soát đường huyết trên người bệnh đái tháo đường típ 2....... 5
1.2.2. Chỉ số HbA1c trong kiểm soát đường huyết .................................................... 6
1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát đường huyết của người bệnh đái
tháo đường típ 2 ........................................................................................................ 7
1.3.1. Một số yếu tố liên quan đến đặc điểm người bệnh .......................................... 7
1.3.2. Yếu tố liên quan đến sử dụng thuốc ................................................................. 9
1.3.3. Một số yếu tố khác .........................................................................................10
1.4. Vài nét về bệnh viện Nội tiết Trung ương và điều trị đái tháo đường típ 2
tại bệnh viện ............................................................................................................10
1.4.1. Bệnh viện Nội tiết Trung ương ......................................................................10
1.4.2. Điều trị đái tháo đường típ 2 tại bệnh viện.....................................................11
1.5. Tính cấp thiết và đóng góp mới của đề tài ....................................................13
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu
Tiếng Anh
Tiếng Việt
ADA
American Diabetes Association
Hiệp hội đái tháo đường Mỹ
ADR
Adverse Drug Reactions
Phản ứng có hại của thuốc
BHYT
BMI
Bảo hiểm y tế
Body Mass Index
BYT
High densitylipoprotein
Cholesterol phân tử lượng cao
cholesterol
ICD
IDF
International Classification
Hệ thống phân loại bệnh tật
Diseases
theo quốc tế
International Diabetes Federation
Liên đoàn đái tháo đường
Quốc tế
IFG
Impaired fasting glycemia
Giảm đường huyết lúc đói
IGT
Triglyceride
Triglycerid
WHO
World Health Organization
Tổ chức Y tế thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Mục tiêu kiểm soát đường huyết cập nhật năm 2019 ................................ 6
Bảng 2.2. Các biến số nghiên cứu ............................................................................15
Bảng 3.3. Đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh ................................................21
Bảng 3.4. Đặc điểm về bệnh và chỉ số xét nghiệm ..................................................22
Bảng 3.5. Đặc điểm về sử dụng thuốc......................................................................23
Bảng 3.6. Đặc điểm chung về hoạt chất ĐTĐ phối hợp với insulin, số mũi tiêm
insulin/ngày, loại bút tiêm sử dụng ở người bệnh có sử dụng insulin .....................24
Bảng 3.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát HbA1c kém (HbA1c ≥ 7%)..........25
Bảng 3.8. Các yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát HbA1c kém (HbA1c ≥ 8%)..........27
Bảng 3.9. Các yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát HbA1c kém (HbA1c ≥ 8%) ở người
bệnh có sử dụng insulin ............................................................................................28
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1. Tỷ lệ các bệnh trong nhóm bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa tại
bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2019 ................................................................11
Hình 1.2. Số lượng người bệnh khám và điều trị ĐTĐ ngoại trú tại bệnh viện Nội tiết
(thông qua đánh giá chỉ số HbA1c) [23, 28, 31, 37]. Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa
có nhiều nghiên cứu đánh giá về ảnh hưởng của các yếu tố này đến kiểm soát đường
huyết trên người bệnh ĐTĐ típ 2 ngoại trú.
Bệnh viện Nội tiết Trung ương là bệnh viện chuyên khoa đầu ngành về bệnh
nội tiết và rối loạn chuyển hóa, với hàng chục nghìn lượt người bệnh khám và điều
trị mỗi năm. Người bệnh ĐTĐ chiếm tỷ lệ cao (34,6%) đứng hàng thứ hai về số
lượng người khám và điều trị, và có xu hướng tăng lên theo từng năm [1]. Đặc biệt
1
với số lượng người bệnh ĐTĐ ngoại trú đa dạng, việc đánh giá mối liên quan giữa
yếu tố đặc điểm người bệnh, đặc điểm sử dụng thuốc và kiểm soát đường huyết là
vấn đề quan trọng, giúp cán bộ y tế cân nhắc trong chế độ chăm sóc, lựa chọn phác
đồ điều trị phù hợp cho người bệnh.
Xuất phát từ mong muốn đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Phân tích một số yếu
tố ảnh hưởng đến kiểm soát đường huyết của người bệnh đái tháo đường típ 2
ngoại trú tại bệnh viện Nội tiết Trung ương” với hai mục tiêu sau:
1. Mô tả đặc điểm của người bệnh ĐTĐ típ 2 khám và điều trị ngoại trú tại bệnh
viện Nội tiết Trung ương
2. Phân tích mối liên quan giữa đặc điểm người bệnh và kiểm soát đường huyết
kém của người bệnh ĐTĐ típ 2 ngoại trú tại bệnh viện Nội tiết Trung ương.
2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Bệnh đái tháo đường típ 2
1.1.1. Vài nét về bệnh đái tháo đường típ 2
1.1.2. Gánh nặng do bệnh đái tháo đường típ 2
ĐTĐ là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ biến trên toàn cầu và ngày
càng có xu hướng tăng tỷ lệ người mắc. Theo IDF, năm 2019 có khoảng 463 triệu
người trưởng thành (20-79 tuổi) đang sống chung với bệnh ĐTĐ, dự đoán đến năm
2045 con số này sẽ tăng lên 700 triệu người [42]. Tại Việt Nam, vào năm 2015 đã có
3,5 triệu người mắc bệnh theo báo cáo của IDF và con số này được dự báo sẽ tăng
lên 6,1 triệu vào năm 2040. Theo kết quả điều tra năm 2015 của BYT, 68,9% người
tăng đường huyết chưa được phát hiện, chỉ có 28,9% người bệnh ĐTĐ được quản lý
tại các cơ sở y tế [39]. Đây thực sự là khoảng trống lớn về sự chênh lệch giữa nhu
cầu và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, là một thách thức lớn trong chăm sóc
và điều trị người bệnh ĐTĐ tại Việt Nam.
ĐTĐ gây ra gánh nặng lớn về bệnh tật do là nguyên nhân dẫn đến nhiều bệnh
lý khác thậm chí tử vong. ĐTĐ là nguyên nhân chính gây ra mù lòa, suy thận, đau
tim, đột quỵ và cắt cụt chi dưới. Một nghiên cứu cắt ngang về người bệnh ĐTĐ tại
Việt Nam năm 2019 cho kết quả 55% người bệnh ĐTĐ típ 2 có biến chứng và thường
gặp nhất là biến chứng tim mạch. Ngoài biến chứng rối loạn lipid máu (81,2%), tăng
huyết áp (78,4%), các biến chứng liên quan đến bệnh ĐTĐ phổ biến tiếp theo là bệnh
thần kinh ngoại biên (37,9%) và biến chứng mắt (39,5%) [18, 24]. Năm 2016 ước
tính có 1,6 triệu ca tử vong do bệnh ĐTĐ. 2,2 triệu ca tử vong khác có liên quan đến
đường huyết cao vào năm 2012. Gần một nửa số ca tử vong do đường huyết cao xảy
ra trước 70 tuổi. WHO ước tính rằng bệnh ĐTĐ là nguyên nhân gây tử vong đứng
hàng thứ bảy trong năm 2016 [43].
IDF ước tính chi phí y tế toàn cầu hàng năm cho bệnh ĐTĐ ở mức 760 tỷ USD
năm 2019 và dự kiến chi phí này sẽ đạt 825 tỷ USD vào năm 2030 và 845 tỷ USD
vào năm 2045. Chi phí điều trị biến chứng chiếm hơn 50% chi phí y tế của bệnh ĐTĐ
[40]. Phần lớn người bệnh mắc ĐTĐ sống ở các nước có thu nhập thấp và trung bình
(79%) và ở vùng nông thôn (67%). Do đó, điều này sẽ gây ra những khó khăn trong
việc chẩn đoán và điều trị [40]. Tại Việt Nam, năm 2017, một nghiên cứu trên người
bệnh ĐTĐ típ 2 chỉ ra tổng chi phí y tế trực tiếp cho người bệnh ĐTĐ là 425
chi phí y tế trong điều trị. Đặc biệt là các chi phí điều trị biến chứng ở người bệnh
[18].
Tuy nhiên, kiểm soát đường huyết ở người bệnh ĐTĐ típ 2 trên thế giới và tại
Việt Nam vẫn còn là thách thức lớn. Tại Việt Nam, trong nghiên cứu năm 2017 của
Trần Ngọc Phương tại bệnh viện Nội tiết Trung ương, tỷ lệ người bệnh có chỉ số
HbA1c kiểm soát không đạt mục tiêu ( ≥ 6,5%) là 78,9% [11]. Một nghiên cứu khác
5
cho kết quả chỉ số HbA1c trung bình của người bệnh ĐTĐ điều trị ngoại trú nằm
trong vùng kiểm soát kém (HbA1c > 7,5%) [7]. Những kết quả này cho thấy mức độ
kiểm soát đường huyết của người bệnh ĐTĐ tại Việt Nam là chưa tốt.
1.2.2. Chỉ số HbA1c trong kiểm soát đường huyết
HbA1c là một loại hemoglobin (Hb) đặc biệt kết hợp giữa hemoglobin và đường
glucose, đại diện cho tình trạng gắn kết của đường trên Hb hồng cầu. Xét nghiệm
HbA1c được thực hiện bằng cách lấy một mẫu máu nhỏ, mẫu máu sẽ được đo chỉ số
tại phòng xét nghiệm, kết quả được tính theo tỷ lệ phần trăm hemoglobin của máu.
Sự hình thành HbA1c xảy ra chậm 0,05% trong ngày, và tồn tại trong đời sống hồng
cầu 120 ngày, thay đổi sớm nhất trong vòng 4 tuần lễ. Do đó, xét nghiệm HbA1c cho
biết tình trạng kiểm soát glucose máu trong 12 tuần gần nhất [6]. Người bệnh chỉ cần
thay đổi chế độ ăn trong một vài ngày đã có thể giảm glucose máu, nhưng HbA1c
chỉ giảm khi họ tuân thủ chế độ điều trị trong cả quá trình. Chính vì vậy, HbA1c
được coi là chỉ số quan trọng trong chẩn đoán và đánh giá kết quả điều trị của người
bệnh ĐTĐ. Chỉ số HbA1c càng cao thì lượng đường trong máu sẽ càng cao [16].
Theo khuyến nghị của Hiệp hội đái tháo đường Mỹ (American Diabetes
Association - ADA) năm 2019, xét nghiệm HbA1c nên được thực hiện ít nhất 2
lần/năm ở những người bệnh đáp ứng mục tiêu điều trị (và có kiểm soát đường huyết
ổn định), thực hiện xét nghiệm HbA1c hàng quý (4 lần/năm) ở những người bệnh có
điều trị thay đổi hoặc không đạt mục tiêu đường huyết [16]. Tại Việt Nam, xét
nghiệm HbA1c được thực hiện tối thiểu mỗi 3 tháng (4 lần/năm) tại cơ sở khám và
< 8%
Mục tiêu chỉ số HbA1c ở các cá nhân có thể khác nhau tùy tình trạng của người
bệnh ĐTĐ, có thể nghiêm ngặt hơn: HbA1c < 6,5% (48 mmol/mol) nếu có thể đạt
được và không có dấu hiệu đáng kể của hạ đường huyết và những tác dụng có hại
của thuốc. Ngược lại, mục tiêu điều trị có thể ít nghiêm ngặt (nới lỏng hơn): HbA1c
6
< 8% (64 mmol/mol) phù hợp với những người bệnh có tiền sử hạ đường huyết trầm
trọng, lớn tuổi, các biến chứng mạch máu nhỏ hoặc mạch máu lớn, có nhiều bệnh lý
đi kèm hoặc bệnh ĐTĐ trong thời gian dài và khó đạt mục tiêu điều trị [3]. Chỉ số
HbA1c < 7% được khuyến cáo làm mục tiêu điều trị trong các hướng dẫn điều trị [3,
15, 16]. Áp dụng kiểm soát đường huyết nhằm mục tiêu HbA1c < 7% đã được chứng
minh làm chậm và ngăn ngừa sự phát triển các biến chứng về mắt, thận, tim mạch và
thần kinh do bệnh ĐTĐ gây ra [15, 16].
1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát đường huyết của người bệnh đái
tháo đường típ 2
Xác định được các yếu tố nguy cơ hay các yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát
đường huyết ở người bệnh ĐTĐ típ 2 là rất quan trọng giúp dự báo trước vấn đề kiểm
soát đường huyết, từ đó có những can thiệp phù hợp. Nhiều nghiên cứu trên thế giới
đã thực hiện nhằm xác định các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến kiểm soát đường huyết
kém ở người bệnh ĐTĐ ngoại trú [23, 28, 31]. Tại Việt Nam, mới chỉ có nghiên cứu
về các yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát đường huyết trên người bệnh ĐTĐ típ 2 nội
trú thuộc về người bệnh (chế độ luyện tập thể dục của người bệnh, chế độ ăn của
người bệnh, tần suất theo dõi đường huyết trên người bệnh có tiêm insulin, chế độ
tái khám, chế độ dùng thuốc) [9].
1.3.1. Một số yếu tố liên quan đến đặc điểm người bệnh
Giới: Yếu tố giới tính có liên quan đến kiểm soát đường huyết đã được chỉ ra
theo kết quả của một số nghiên cứu. Nghiên cứu tại Malaysia năm 2015 cho thấy
thói quen rèn luyện thể lực và duy trì cân nặng hợp lý.
Chỉ số Triglycerid (TG) tăng, LDL cholesterol (LDL) cao, HDL cholesterol
(HDL) thấp: Nghiên cứu năm 2019 tại Nepal cho kết quả chỉ số TG tăng đáng kể ở
nhóm kiểm soát đường huyết kém (HbA1c ≥ 7%) so với nhóm kiểm soát tốt [31].
Chỉ số LDL cao và HDL thấp được đánh giá có ảnh hưởng đến vấn đề kiểm soát
đường huyết kém. Trong nghiên cứu tại Hy Lạp, chỉ số LDL cao có liên quan làm
tăng 1,53 lần kiểm soát đường huyết kém (p = 0,024), HDL thấp có liên quan làm
tăng 2,12 lần kiểm soát đường huyết kém (p < 0,001). Chỉ số HDL thấp ở người bệnh
kiểm soát HbA1c kém được cho là có thể do hậu quả của tăng đường huyết hơn là
yếu tố gây bệnh [23]. Những người bệnh ĐTĐ có đặc điểm của yếu tố này sẽ gặp
nguy cơ cao rối loạn lipid máu và bệnh tim mạch. Do đó, mục tiêu điều trị của các
hiệp hội cho người bệnh ĐTĐ bên cạnh chỉ số HbA1c còn bao gồm cả các chỉ số cận
lâm sàng về lipid máu là: TG < 150 mg/dL, HDL > 40 mg/dL (1,0 mmol/L) ở nam
8
và > 50 mg/dL (1,3 mmol/L) ở nữ, LDL < 100 mg/dL (2,6 mmol/L) nếu chưa có biến
chứng tim mạch [3].
Bệnh mắc kèm: Người bệnh ĐTĐ thường mắc kèm một số bệnh khác. Đã có
nghiên cứu về kiểm soát đường huyết ở người bệnh ĐTĐ típ 2 có bệnh thận mắc kèm
cho kết quả > 80% người bệnh kiểm soát kém (HbA1c > 7%). Bên cạnh đó, các bệnh
tăng huyết áp, rối loạn lipid máu cũng là các bệnh mắc kèm có tỷ lệ cao ở người bệnh
ĐTĐ típ 2 [8].
Trong các yếu tố trên, các yếu tố không thay đổi được là: giới, tuổi, thời gian
mắc bệnh, bệnh mắc kèm. Khi theo dõi điều trị, cán bộ y tế nên cân nhắc các yếu tố
này để có chế độ chăm sóc và lựa chọn điều trị phù hợp cho người bệnh ĐTĐ điều
trị ngoại trú. Các yếu tố có thể thay đổi được là: chỉ số BMI cao, chỉ số HDL thấp,
chỉ số LDL cao, chỉ số TG cao. Đối với người bệnh có các yếu tố nguy cơ này, cán
bộ y tế và người bệnh cần theo dõi cả kiểm soát đường huyết cùng với kiểm soát các
[36]. Nghiên cứu tại Nepal năm 2019 chỉ ra số lượng thuốc sử dụng < 3 thuốc có liên
quan làm giảm kiểm soát đường huyết kém ở người bệnh ĐTĐ típ 2 [31].
1.3.3. Một số yếu tố khác
Thực hiện chế độ dinh dưỡng và luyện tập thể dục phù hợp là điều trị bắt buộc
đối với người bệnh ĐTĐ ngay cả khi chưa cần sử dụng thuốc. Đây cũng là yếu tố
được đánh giá là có ảnh hưởng đến kiểm soát chỉ số đường huyết HbA1c [9, 21, 27].
Chế độ ăn thực phẩm ít đường cho hiệu quả nhất trong việc kiểm soát chỉ số đường
huyết [27]. Bài tập thể dục nhịp điệu (đi bộ, chạy bộ, đi xe đạp, bơi lội) đan xen với
bài tập rèn luyện cơ bắp (tập tạ) hàng tuần sẽ là phù hợp đối với người bệnh ĐTĐ.
Người bệnh nên tham khảo ý kiến của bác sỹ điều trị và có chế độ ăn, luyện tập phù
hợp để mang lại hiệu quả cho việc kiểm soát đường huyết của bản thân.
Song song với chế độ ăn hợp lý và tăng cường tập thể dục, việc tuân thủ dùng
thuốc từ người bệnh ĐTĐ cũng đóng vai trò quan trọng giúp đạt được mục đích kiểm
soát đường huyết. Trên thực tế mối liên hệ giữa việc tuân thủ dùng thuốc và chỉ số
HbA1c đã chỉ ra rằng: khi tuân thủ sẽ làm giảm chỉ số HbA1c và sự tuân thủ cao hơn
dẫn đến hiệu quả điều trị tốt hơn [14, 35].
1.4. Vài nét về bệnh viện Nội tiết Trung ương và điều trị đái tháo đường típ 2
tại bệnh viện
1.4.1. Bệnh viện Nội tiết Trung ương
Bệnh viện Nội tiết Trung ương là cơ sở đầu ngành về khám và điều trị tuyến
giáp, ĐTĐ, các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa. Mô hình bệnh tật tại bệnh viện
10
luôn đa dạng với hàng chục triệu lượt người bệnh khám và điều trị mỗi năm. Tại
bệnh viện Nội tiết Trung ương, mô hình bệnh tật tập trung vào nhóm bệnh nội tiết,
dinh dưỡng và chuyển hóa chiếm 73,4%. Trong đó, người bệnh ĐTĐ chiếm tỷ lệ cao
(34,6%) - đứng hàng thứ hai về số lượng người khám và điều trị (năm 2019) [1].
12,2%
0
12.645
11.424
12.750
9.404
7.583
4.451 5.171
1.166
2014
4.921
2.883
2.034
2015
2016
2017
2018
2.784
2019
Năm
1.5. Tính cấp thiết và đóng góp mới của đề tài
ĐTĐ là một gánh nặng bệnh tật đang gia tăng tại Việt Nam. Vấn đề kiểm soát
đường huyết kém của người bệnh ĐTĐ đã được chỉ ra ở kết quả của nhiều nghiên
cứu. Ở Việt Nam, đa số các nghiên cứu chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh ĐTĐ,
một số nghiên cứu về thực trạng kiểm soát đường huyết của người bệnh ĐTĐ típ 2
ngoại trú [7, 24]. Theo hiểu biết của chúng tôi, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào
đánh giá về ảnh hưởng của yếu tố đặc điểm người bệnh và đặc điểm sử dụng thuốc
đến kiểm soát đường huyết HbA1c trên người bệnh ĐTĐ típ 2 ngoại trú. Do đó,
nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện với mong muốn đánh giá mối liên quan của
các yếu tố này và kiểm soát đường huyết của người bệnh ĐTĐ típ 2 tại bệnh viện
Nội tiết Trung ương. Việc xác định các yếu tố ảnh hưởng này để làm căn cứ giúp cán
bộ y tế dự đoán được nhóm đối tượng nào có nguy cơ kiểm soát đường huyết kém,
từ đó có chú ý hơn trong quản lý điều trị và lựa chọn phác đồ điều trị cho người bệnh.
13
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh ĐTĐ khám và điều trị ngoại trú tại bệnh viện Nội tiết Trung ương
cơ sở 2. Người bệnh được lựa chọn vào nghiên cứu thỏa mãn các tiêu chuẩn lựa chọn
và loại trừ sau:
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
Người bệnh khám BHYT tại bệnh viện Nội tiết Trung ương cơ sở 2
Người bệnh được lưu thông tin trên bệnh án ngoại trú điện tử trong khoảng thời
gian từ 1/10/2019 đến 31/12/2019
Người bệnh được chẩn đoán bệnh ĐTĐ típ 2 (ĐTĐ không phụ thuộc insulin) có ghi mã E11 trong cột dữ liệu ICD chính.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
Giới tính
Mô tả biến
Giá trị biến
Theo ghi nhận trên cột giới
Phân loại:
tính trong cơ sở dữ liệu
1: Nam
2: Nữ
2
Tuổi
Theo ghi nhận trên cột tuổi
Số
trong cơ sở dữ liệu
3
Nghề nghiệp
Căn cứ trên cột nghề nghiệp
Chỉ số
Theo ghi nhận trên cột kết
Phân loại:
HbA1c
quả HbA1c trong cơ sở dữ
2: ≥ 7 mmol/L
liệu tiến hành phân loại
1: < 7 mmol/L
thành 2 nhóm: ≥ 7 mmol/L
và < 7 mmol/L
6
Chỉ số
Theo ghi nhận trên cột kết
Phân loại:
Triglycerid
quả Triglycerid trong cơ sở
loại thành 2 nhóm: ≤ 1,03
mmol/L và > 1,03 mmol/L)
8
Chỉ số LDL-
Theo ghi nhận trên cột kết
Phân loại:
cholesterol
quả LDL-cholesterol trong
2: ≥ 2,6 mmol/L
cơ sở dữ liệu tiến hành phân
1: < 2,6 mmol/L
loại thành 2 nhóm: ≥ 2,6
mmol/L và < 2,6 mmol/L
9
Có bệnh mắc Căn cứ trên cột ICD phụ
kèm
Phân loại:
trong cơ sở dữ liệu, tiến hành 0: Không
trong cơ sở dữ liệu, tiến hành 0: Không
kèm
phân loại thành 2 nhóm: có
Số
Phân loại:
1: Có
và không có bệnh thận mạn
mắc kèm
12
Tăng huyết
Căn cứ trên cột ICD phụ
áp mắc kèm
trong cơ sở dữ liệu, tiến hành 0: Không
phân loại thành 2 nhóm: có
Phân loại:
1: Có
và không có bệnh tăng huyết
áp mắc kèm
Phân loại:
vành mắc
trong cơ sở dữ liệu, tiến hành 0: Không
kèm
phân loại thành 2 nhóm: có
1: Có
và không có bệnh mạch vành
mắc kèm
15
Bệnh mạch
Căn cứ trên cột ICD phụ
Phân loại
máu ngoại
trong cơ sở dữ liệu, tiến hành 0: Không
biên mắc
phân loại thành 2 nhóm: có
thuốc ĐTĐ
cơ sở dữ liệu, tiến hành phân
1: 1 thuốc
loại số lượng thuốc ĐTĐ
2: 2 thuốc
thành nhóm sử dụng 1, 2, ≥ 3 3: ≥ 3 thuốc
thuốc
18
Thuốc điều
Căn cứ trên cột thuốc trong
Phân loại:
trị ĐTĐ
cơ sở dữ liệu, tiến hành phân
1: Chỉ dùng thuốc hạ đường
loại thuốc điều trị ĐTĐ
huyết đường uống