VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CẢNG BIỂN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ - Pdf 69

VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CẢNG BIỂN ĐỐI VỚI PHÁT
TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ
I-Một số vấn đề về hệ thống cảng biển
1. Khái niệm cảng biển
Sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới, Việt Nam đã từng bước
chuyển mình nhằm đưa nền kinh tế quốc gia phát triển đi lên cùng thế giới. Một
trong những điểm mạnh của kinh tế Việt Nam là kinh tế biển với hệ thống cảng
trải dọc suốt chiều dài đất nước. Nằm trên bán đảo Đông Dương, Việt Nam là
một quốc gia biển, toàn bộ lãnh thổ Việt Nam có thể xem như " vùng duyên
hải". Biển thực sự gắn liền và ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội
của đất nước.
Kinh tế biển theo nghĩa hẹp là những hoạt động trên vùng biển nhằm khai
thác nguồn tài nguyên biển. Như vậy, kinh tế biển bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt
động như : khai thác dầu khí trên biển, đánh bắt hải sản, khai thác thác muối,
vận tải biển...
Kinh tế biển theo nghĩa rộng bao gồm khoáng sản biển khơi, đánh bắt và
nuôi trồng, vận tải tàu biển, quốc phòng, du lịch và giải trí biển, các dịch vụ
biển, nghiên cứu và giáo dục, chế tạo. Các nhà nghiên cứu biển đã thống nhất
coi kinh tế biển là một nền kinh tế hoàn chỉnh gồm 6 lĩnh vực kinh tế thành
phần: kinh tế cảng, kinh tế đóng tàu, kinh tế du lịch biển đảo, kinh tế thuỷ sản,
kinh tế khai thác mỏ và kinh tế lấn biển. Trong đó kinh tế cảng giữ vai trò chủ
đạo.
Cảng biển là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được
xây dựng kết cấu hạ tầng và lắp đặt trang thiết bị cho tàu biển ra, vào hoạt động
để bốc dỡ hàng hoá, đón trả hành khách và thực hiện các dịch vụ khác.
Vùng đất cảng là vùng đất được giới hạn để xây dựng cầu cảng, kho, bãi, nhà
xưởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước,
các công trình phụ trợ khác và lắp đặt trang thiết bị.
Vùng nước cảng là vùng nước được giới hạn để thiết lập vùng nước trước
cầu cảng, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh bão, vùng

Nguồn: sinh viên tự điều tra
Cảng biển là những công trình vật chất được xây dựng nhằm mục đích
phục vụ cho các hoạt động sản xuất- kinh doanh trong một hệ thống kinh tế xã
hội. Cảng biển là các công trình không trực tiếp tham gia vào một hoạt động sản
xuất kinh doanh cụ thể nào mà chỉ có vai trò hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất,
kinh doanh có điều kiện diễn ra thuận lợi, nhưng thiếu chúng thì sản xuất, kinh
doanh khó phát triển được.
Theo quan điểm truyền thống, cảng biển là đầu mối giao thông là nơi
thực hiện các thao tác xếp dỡ hàng hóa từ phương thức vận tải biển sang các
phương thức vận tải khác và ngược lại. Vai trò cơ bản của cảng là xếp dỡ hàng
hóa, hỗ trợ cho công tác xuất nhập khẩu với tư cách là một bộ phận cơ sở hạ
tầng quan trọng của quốc gia. Theo quan điểm hiện đại, cảng biển muốn hoạt
động tốt, phát huy hết khả năng của mình cần phải có mặt bằng, cơ sở vật chất
lớn để phục vụ cho tất cả các hoạt động của các doanh nghiệp. Như vậy, ngoài
vai trò xếp dỡ hàng hóa, trung chuyển đơn giản và logistic tạo giá trị gia tăng,
cảng còn có vai trò của chuỗi kinh doanh nên hoạt động của nó gắn liền với hoạt
động của các khu kinh tế mở, khu thương mại tự do, khu công nghiệp, khu chế
xuất...
Các đặc trưng cơ bản của hệ thống cảng biển và hệ thống hạ tầng phục vụ
kinh tế biển:
Tính hệ thống: thể hiện ở chỗ nó tác động lên hoạt động sản xuất xã hội
trên quy mô cả nước hoặc trên những vùng lãnh thổ rộng lớn. Sự trục trặc về hạ
tầng ở một khâu, mắt xích nào đó có thể gây ra ách tắc toàn hệ thống sản xuất,
ảnh hưởng đến nhiều tác nhân tham gia khác.
Tính đồng bộ: các bộ phận cấu thành của hệ thống cảng biển có sự liên
kết đồng bộ, cân đối trong tổng thể hợp lý. Sự thiếu đồng bộ có thể sẽ dẫn đến
làm tê liệt cả hệ thống công trình hoặc làm cho công trình không phát huy được
hết tác dụng.
Tính tiên phong, định hướng: muốn phát triển sản xuất và các hoạt động
xã hội thì hệ thống cảng biển phải được đi trước một bước, nghĩa là phải được

môi trường sinh thái tốt hơn. Đây là lợi ích lâu dài và cơ bản đối với một nước
đang phát triển như nước ta.
Như chúng ta đã biết cảng biển là ngành sản xuất vật chất đặc biệt, mang
tính phục vụ tạo điều kiện cho các ngành kinh tế phát triển. Cảng biển là yếu tố
động lực , tạo thị trường, là đầu nối kinh tế giữa các nước, kích thích thị trường
phát triển, chủ động lôi cuốn hấp dẫn các nhà đầu tư, các thương gia, các nhà
sản xuất đến hoạt động kinh doanh.
Trên phạm vi thế giới, xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập khu vực đang
trở thành một xu thế của thời đại. Bất kỳ nền kinh tế nào, nếu không vận hành
theo xu thế này thì chắc chắn sớm muộn cũng bị đào thải ra khỏi sự phát triển.
Trong các con đường vận chuyển trao đổi hàng hoá bằng đường bộ, đường hàng
không và đường biển có thể nói đường biển đáp ứng được nhiều nhất nhu cầu
vận chuyển bởi nó góp phần phát triển giao thông nối liền với nhiều quốc gia
nhất và có chi phí thấp nhất nhưng lại có thể đáp ứng khối lượng vận tải lớn
nhất. chính vì thế trong nhiều năm qua các nước trên thế giới có khả năng phát
triển đường biển họ đều tập trung phát triển rất mạnh hệ thống cảng biển.
Cảng biển giữ vai trò quan trọng trong việc trao đổi hàng hoá ngoại
thương, đảm nhận trao đổi trên 90% khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu giữa
các nước. Cảng là đầu mối để phục vụ nhập nguyên, nhiên liệu sản xuất và xuất
sản phẩm cho các nhà máy trong khu công nghiệp. Các khu công nghiệp ngược
lại sẽ là nguồn cung cấp hàng hóa cho hoạt động của cảng. Hệ thống cảng và
các khu công nghiệp trở thành hai yếu tố không thể tách rời của một tổ hợp,
cùng thúc đẩy nhau phát triển.
2. Đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là tiêu thức phản ánh sự thay đổi về chất, là dấu hiệu đánh
giá, so sánh các giai đoạn phát triển nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế biểu hiện dưới
nhiều dạng khác nhau như: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế, cơ cấu
thành phần kinh tế, cơ cấu khu vực thể chế ...Trong đó, cơ cấu ngành kinh tế là
quan trọng nhất vì nó phản ánh sự phát triển của phân công lao động xã hội và
sự phát triển của lực lượng sản xuất. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành chính

Phát triển cảng biển sẽ tạo ra nhiều dịch vụ khai thác tiềm năng của vùng miền
và phát triển giao thông vận tải mở mang nhiều nghành sản xuất dịch vụ cho
cảng biển, tăng thu hút đầu tư, thúc đẩy sản xuất và xuất nhập khẩu, tạo thuận
lợi cho mở rộng du lịch.
Cảng biển phát triển đã thúc đẩy thương mại các quốc gia, ngày càng trở
lên có hiệu quả. Phát triển cảng biển thúc đẩy quá trình xuất nhập khẩu hàng
hóa, là động lực thúc đẩy phát triển công nghiệp.
Trong sản xuất công nghiệp, chi phí cho vận tải nguyên vật liệu, hàng hoá
chiếm tỷ trọng lớn, nhất là khi phải vận chuyển xa từ quốc gia này đến quốc gia
khác, thậm chí từ châu lục này tới châu lục khác. Vận tải bằng đường biển hầu
như không phải làm đường mà chỉ xây dựng cảng và mua sắm phương tiện vận
tải. Cảng biển là các công trình không trực tiếp tham gia vào một hoạt động
kinh doanh cụ thể nào mà chỉ có vai trò hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất, kinh
doanh diễn ra thuận lợi, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status