VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CẢNG BIỂN ĐỐI VỚI PHÁT
TRIỂN KINH TẾ -XÃ HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ
I-Một số vấn đề về hệ thống cảng biển
1. Khái niệm cảng biển
Sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới, Việt Nam đã từng bước
chuyển mình nhằm đưa nền kinh tế quốc gia phát triển đi lên cùng thế giới. Một
trong những điểm mạnh của kinh tế Việt Nam là kinh tế biển với hệ thống cảng
trải dọc suốt chiều dài đất nước. Nằm trên bán đảo Đông Dương, Việt Nam là
một quốc gia biển, toàn bộ lãnh thổ Việt Nam có thể xem như " vùng duyên
hải". Biển thực sự gắn liền và ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội
của đất nước.
Kinh tế biển theo nghĩa hẹp là những hoạt động trên vùng biển nhằm khai
thác nguồn tài nguyên biển. Như vậy, kinh tế biển bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt
động như : khai thác dầu khí trên biển, đánh bắt hải sản, khai thác thác muối,
vận tải biển...
Kinh tế biển theo nghĩa rộng bao gồm khoáng sản biển khơi, đánh bắt và
nuôi trồng, vận tải tàu biển, quốc phòng, du lịch và giải trí biển, các dịch vụ
biển, nghiên cứu và giáo dục, chế tạo. Các nhà nghiên cứu biển đã thống nhất
coi kinh tế biển là một nền kinh tế hoàn chỉnh gồm 6 lĩnh vực kinh tế thành
phần: kinh tế cảng, kinh tế đóng tàu, kinh tế du lịch biển đảo, kinh tế thuỷ sản,
kinh tế khai thác mỏ và kinh tế lấn biển. Trong đó kinh tế cảng giữ vai trò chủ
đạo.
Cảng biển là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được
xây dựng kết cấu hạ tầng và lắp đặt trang thiết bị cho tàu biển ra, vào hoạt động
để bốc dỡ hàng hoá, đón trả hành khách và thực hiện các dịch vụ khác.
Vùng đất cảng là vùng đất được giới hạn để xây dựng cầu cảng, kho, bãi, nhà
xưởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước,
các công trình phụ trợ khác và lắp đặt trang thiết bị.
Vùng nước cảng là vùng nước được giới hạn để thiết lập vùng nước trước
cầu cảng, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh bão, vùng
b
i
ể
n
Khu công nghiệp
Khu thương mại mới tự do
Khu kinh tế mới
Nguồn: sinh viên tự điều tra
Cảng biển là những công trình vật chất được xây dựng nhằm mục đích
phục vụ cho các hoạt động sản xuất- kinh doanh trong một hệ thống kinh tế xã
hội. Cảng biển là các công trình không trực tiếp tham gia vào một hoạt động sản
xuất kinh doanh cụ thể nào mà chỉ có vai trò hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất,
kinh doanh có điều kiện diễn ra thuận lợi, nhưng thiếu chúng thì sản xuất, kinh
doanh khó phát triển được.
Theo quan điểm truyền thống, cảng biển là đầu mối giao thông là nơi
thực hiện các thao tác xếp dỡ hàng hóa từ phương thức vận tải biển sang các
phương thức vận tải khác và ngược lại. Vai trò cơ bản của cảng là xếp dỡ hàng
hóa, hỗ trợ cho công tác xuất nhập khẩu với tư cách là một bộ phận cơ sở hạ
tầng quan trọng của quốc gia. Theo quan điểm hiện đại, cảng biển muốn hoạt
động tốt, phát huy hết khả năng của mình cần phải có mặt bằng, cơ sở vật chất
lớn để phục vụ cho tất cả các hoạt động của các doanh nghiệp. Như vậy, ngoài
vai trò xếp dỡ hàng hóa, trung chuyển đơn giản và logistic tạo giá trị gia tăng,
cảng còn có vai trò của chuỗi kinh doanh nên hoạt động của nó gắn liền với hoạt
động của các khu kinh tế mở, khu thương mại tự do, khu công nghiệp, khu chế
xuất...
Các đặc trưng cơ bản của hệ thống cảng biển và hệ thống hạ tầng phục vụ
kinh tế biển:
Tính hệ thống: thể hiện ở chỗ nó tác động lên hoạt động sản xuất xã hội
mình nhiều quốc gia trên thế giới đã xác định, thế kỷ 21 là thế kỷ của đại
dương, hướng mạnh sự phát triển ra biển đảo, đặc biệt chú trọng đến việc khai
thác biển ( kể cả những quốc gia không có biển ). Các nhà nghiên cứu biển cũng
đã khẳng định kinh tế cảng giữ vai trò chủ đạo. Trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của nước ta trong thời gian tới, phát triển công nghiệp được xác định
đóng vai trò then chốt, trong đó phát triển các khu chế xuất, khu công nghiệp
tập trung đóng vai trò hết sức quan trọng. Các khu công nghiệp trước hết tác
động đến đầu tư, đến sản xuất công nghiệp để xuất khẩu và phục vụ tiêu dùng
trong nước, làm tăng trưởng kinh tế nhanh và vững chắc GDP, mặt khác bảo vệ
môi trường sinh thái tốt hơn. Đây là lợi ích lâu dài và cơ bản đối với một nước
đang phát triển như nước ta.
Như chúng ta đã biết cảng biển là ngành sản xuất vật chất đặc biệt, mang
tính phục vụ tạo điều kiện cho các ngành kinh tế phát triển. Cảng biển là yếu tố
động lực , tạo thị trường, là đầu nối kinh tế giữa các nước, kích thích thị trường
phát triển, chủ động lôi cuốn hấp dẫn các nhà đầu tư, các thương gia, các nhà
sản xuất đến hoạt động kinh doanh.
Trên phạm vi thế giới, xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập khu vực đang
trở thành một xu thế của thời đại. Bất kỳ nền kinh tế nào, nếu không vận hành
theo xu thế này thì chắc chắn sớm muộn cũng bị đào thải ra khỏi sự phát triển.
Trong các con đường vận chuyển trao đổi hàng hoá bằng đường bộ, đường hàng
không và đường biển có thể nói đường biển đáp ứng được nhiều nhất nhu cầu
vận chuyển bởi nó góp phần phát triển giao thông nối liền với nhiều quốc gia
nhất và có chi phí thấp nhất nhưng lại có thể đáp ứng khối lượng vận tải lớn
nhất. chính vì thế trong nhiều năm qua các nước trên thế giới có khả năng phát
triển đường biển họ đều tập trung phát triển rất mạnh hệ thống cảng biển.
Cảng biển giữ vai trò quan trọng trong việc trao đổi hàng hoá ngoại
thương, đảm nhận trao đổi trên 90% khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu giữa
các nước. Cảng là đầu mối để phục vụ nhập nguyên, nhiên liệu sản xuất và xuất
sản phẩm cho các nhà máy trong khu công nghiệp. Các khu công nghiệp ngược
lại sẽ là nguồn cung cấp hàng hóa cho hoạt động của cảng. Hệ thống cảng và
đó là các trung tâm thương mại tài chính, dịch vụ hàng hải... được hình thành và
phát triển xung quanh hệ thống cảng.
Những hàng hoá xuất khẩu hầu như là như là những hàng hoá nông
nghiệp đã qua chế biến, hàng công nghiệp, hàng tiêu dùng....từ đó thúc đẩy công