Một số vấn đề về thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế giá trị gia tăng - Pdf 69

Một số vấn đề về thuế giá trị gia tăng và quản
lý thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế giá trị
gia tăng
I. Một số vấn đề cơ bản về thuế.
1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò và bản chất của thuế.
1.1. Khái niệm và đặc điểm của thuế.
Nghiên cứu về mặt lịch sử tồn tại và phát triển của Nhà nớc qua các triều đại,
các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của
mình, Nhà nớc chỉ có thể và cần phải dùng quyền lực để bắt buộc các thành viên
trong xã hội có nghĩa vụ đóng góp một phần sản phẩm, một phần thu nhập cho
Nhà nớc. Hình hệ thức đóng góp ấy chính là thuế. Ngay từ khi Nhà nớc ra đời thì
thuế cũng xuất hiện, thuế là sản phẩm tất yếu từ sự xuất hiện hệ thống bộ máy
Nhà nớc. Ngợc lại, đến lợt nó, thuế là công cụ đảm bảo cung cấp phơng tiện vật
chất cần thiết cho sự tồn tại và hoạt động của hệ thống bộ máy Nhà nớc. Bàn về
mối liên hệ giữa thuế và Nhà nớc, Mác viết: Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy
Nhà nớc, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu đợc tiền hay tài sản của ngời dân để
dùng vào việc chi tiêu của Nhà nớc (Mác, Ăng-ghen tuyển tập NXB sự thật, Hà
Nội 1961, tập 2). Ăng ghen cũng đã viết: Để duy trì quyền lực công cộng, cần
phải có sự đóng góp của công dân cho Nhà nớc, đó là thuế má (Ăngghen, nguồn
gốc gia đình, của chế độ t hữu và Nhà nớc- NXB sự thật Hà Nội, 1962).
Ra đời và tồn tại cùng Nhà nớc, từ đó đến nay thuế đã trải qua quá trình phát
triển và hoàn thiện lâu dài, đồng thời ngời ta đã đa ra không ít các khái niệm về
thuế trên các góc độ khác nhau.
- Các nhà kinh điển cho rằng: Thuế là cái mà Nhà nớc thu của dân nhng
không bù lại và thuế cấu thành nên phần thu của Chính Phủ, nó đợc lấy ra từ
sản phẩm của đất đai và lao động trong nớc, xét cho cùng thì thuế đợc lấy ra từ t
bản hay thu nhập của ngời chịu thuế (Lênin toàn tập Tập 15)
- Hiện nay, trong một số tài liệu, các tác giả viết: Thuế là khoản đóng góp
theo quy định của pháp luật mà Nhà nớc bắt buộc mọi tổ chức, cá nhân phải có
nghĩa vụ nộp vào NSNN.
Trên góc độ phân phối thu nhập, ngời ta đa ra các khái niệm thuế nh sau:

- Về mặt tài chính: Thuế là công cụ tập trung đảm bảo nguồn thu chủ yếu
của NSNN. Tỷ trọng thu bằng thuế thờng chiếm phần lớn trong các tổng thu nhập
của NSNN, hầu hết các nớc trên thế giới sau khi thực hiện cải cách hệ thống thuế,
số thu bằng thuế, phí chiếm tới trên 90% tổng số thu NSNN. Một ngân sách quốc
gia lành mạnh phải dựa trớc hết vào các nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân.
Mức động viên về thuế bao giờ cũng từ tổng sản phẩm quốc nội, từ thu nhập quốc
dân. Vì vậy nguồn thu chủ yếu của ngân sách là thuế, góp phần khuyến khích thực
hiện tốt chính sách, tiết kiệm cả trong sản xuất, tiêu dùng và khơi dậy đợc ý thức
giác ngộ của dân về nghĩa vụ nộp thuế.
Về mặt kinh tế: Thuế là công cụ có hiệu lực góp phần quản lý và điều tiết vĩ
mô nền kinh tế. Cùng với việc đổi mới công tác kế hoạch, giá cả và các đòn bẩy
kinh tế khác thuế đóng vai trò quan trọng hàng đầu của nn để thực hiện yêu cầu
quản lý và điều tiết vĩ mô mọi hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành
phần kinh tế, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, góp phần thực hiện cân đối lớn
trong nền kinh tế quốc dân, giữa tích luỹ và tiêu dùng, xuất khẩu và nhập khẩu.
Tiền và hàng, cung và cầu..., thông qua chính sách phân phối và phân phối lại thu
nhập quốc dân giữa các ngành nghề, các tầng lớp dân c.
Vai trò điều tiết của thuế thể hiện thông qua hai mặt. Một mặt khuyến khích
những ngành nghề, những đơn vị, những mặt hàng cần thiết cho sản xuất, đời
sống, xã hội. Một mặt hạn chế, sản xuất, tiêu dùng những mặt hàng, dịch vụ mang
tính chất xa xỉ, cao cấp.
Nhà nớc còn sử dụng công cụ thuế phục vụ yêu cầu kiểm kê, kiểm soát và h-
ớng dẫn mọi hoạt động kinh tế phát triển theo định hớng của kế hoạch nn và theo
chính sách quản lý tài chính kinh tế chung của cả nớc và riêng trên từng địa
bàn lãnh thổ.
- Về mặt xã hội: Thuế góp phần thực hiện tínhcông bằng xã hội. Trong nền
kinh tế nhiều thành phần, sự bình đẳng và công bằng xã hội về thuế đợc thể hiện
thông qua chính sách động viên bằng nhau giữa các thanhf phần kinh tế, giữa các
tổ chức, cá nhân có điều kiện sản xuất, kinh doanh và môi trờng hoạt động giống
nhau, tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh về uy tín, năng suất, chất lợng và hiệu quả.

của đất nớc đòi hỏi chính sách thuế cũng phải có những thay đổi đất nớc đòi hỏi
chính sách thuế cũng phải có những thay đổi mang tính cải cách góp phần thực
hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nớc đề ra.
Có thể nói bản chất của thuế là thể hiện tính quyền lực của Nhà nớc dựa trên
các văn bản quy phạm pháp luật có tính pháp lý và cỡng chế cao.
2. Hệ thống thuế Việt Nam.
Nhằm bao quát đợc các nguồn thu và đảm bảo yêu cầu công bằng trong
chính sách động viên, hệ thống thuế không thể quá phức tạp, nhng cũng không
phảI gồm một số sắc thuế phảI đảm nhiệm một số chức năng nhất định và tránh đ-
ợc sự trùng lặp trong tuừng sắc thuế.
Hệ thống chính sách thuế mới phảI đảm bảo đợc mối quan hệ hợp lý về cơ
cấu giữa thuế trực thu và thuế gián thu, cùng với sự phát triển của trình độ sản
xuất và trình độ quản lý trong hoàn cảnh thu nhập dân c nớc ta còn thấp, thu nhập
kinh doanh phổ biến cha cao, việc thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ còn
yếu kém. Từ tình hình kinh tế xã hội nớc ta và vận dụng có chọn lọc kinh nghiệm
trong chính sách thuế trên thế giới tại thời đIểm đó, trong cảI cách thuế bớc I
(1990- 1996): Ngày 28/12/1989, Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 6 đã có Nghị
quyết giao cho Hội đồng Nhà nớc nghiên cứu xem xét, ban hành hệ thống thuế
mới ở nớc ta bao gồm 9 sắc thuế:
+ Bằng hình thức luật:
- Thuế doanh thu
( 30-06-1990)
- Thuế tiêu thụ đặc biệt
(30-06-1990)
- Thuế lợi tức
(30-06-1990)
- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
(26-12-1991)
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp
(10-03-1993)

- Pháp lệnh thuế tàI nguyên
- Pháp lệnh phí và lệ phí
NgoàI ra còn có thuế môn bàI và sử dụng vốn ngân sách đợc ban hành dới dạng
Nghị định.
Hệ thống chính sách thuế và phí chủ yếu của Việt nam đến năm 2010 bao gồm:
- Thuế GTGT.
- Thuế tiêu thu đặc biệt.
- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các công cụ bảo hộ khác.
- Thuế thu nhập doanh nghiệp .
- Thuế thu nhập cá nhân.
- Thuế sử dụng đất.
- Thuế tàI nguyên .
- Thuế tàI sản.
- Thuế bảo vệ môI trờng.
- Các nkhoản phí vầ lệ phí.
Các loại thuế: thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế XNK là các thuế gián thu có mối
quan hệ với nhau trong việc đIều tiết thu nhập của ngời tiêu dùng hàng hóa, dịch
vụ. Trong đIều kiện cắt giảm thuế nhập khẩu để mở cửa chủ động hội nhập thì
thuế GTGT và thuế TTĐB có vai trò thay thế thuế nhập khẩu để ổn định nguồn
thu cho NSNN, bảo hộ sản xuất trong nớc, đảm bảo nguyên tắc không phân biệt
đối xử giữa hàng hóa sản xuất trong nớc và nhập khẩu theo thông lệ quốc tế.
Thuế bảo vệ môI trờng và thuế tàI sản là loại thuế mới cha từng áp dung tại Việt
nam , thuế bảo vệ môI trờng là loại thuế thu vào các đối tợng gây ô nhiễm môI tr-
ờng nhằm bảo vệ môI trờng sinh tháI, chống chuyển dịch công nghệ bẩn vào
Việt namvà tạo lập qũy để cảI tạo môI trờng.Dự kiến năm 2004 sẽ ban hành loại
thuế này.
Thuế tàI sản là loại thuế đIều tiết một phần thu nhập của những cá nhân có quyền
sở hữu, quyền sử dụng tàI sản: nhà, ô tô, tàu thuyền. Dự kiến 2006-2010 sẽ ban
hành loại thuế này.


- Đợc sản xuất và tiêu dùng trong nớc.
- Đợc nhập khẩu và tiêu dùng trong nớc
- Đợc tiêu dùng nội bộ.
- Đợc mua, bán dới mọi hình thức, bao gồm cả trao đổi bằng hiện vật (không
thanh toán bằng tiền)
* Đối tợng nộp thuế GTGT: Tất cả các tổ chức, cá nhân, có sản xuất, kinh
doanh hoặc nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu VAT là đối tợng nộp
VAT. Cụ thể đối tợng nộp VAT gồm:
- Các tổ chức kinh doanh, không phân biệt thành phần kinh tế, là dn trong n-
ớc hay dn có vốn đấu tranh nớc ngoài, là dn Nhà nớc hoặc dn ngoài quốc doanh,
là hợp tác xã hay bất cứ một đơn vị kinh tế trực thuộc bất kỳ tổ chức nào có hoạt
động sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ hàng hoá, cung cấp dịch vụ chịu VAT.
- Các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác có sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch
vụ thuộc diện chịu VAT.
* Đối tợng không chịu VAT, bao gồm 26 nhóm, mặt hàng và dịch vụ nh: sản
phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản cha qua chế biến thành sản phẩm
khác của các tổ chức, cá nhân tự sản xuất và bán ra, hàng hoá phuc vụ cho đời
sống con ngời, một số sản phẩm, dịch vụ mang tính chất công cộng, các dịch vụ
nhập khẩu...
* Căn cứ tính thuế: VAT đợc xác định trên 2 căn cứ là giá tính thuế và thuế
suất.
- Giá tính thuế: Theo quy định điều 7 luật VAT, giá tính thuế của hàng hoá,
dịch vụ là giá ghi trên hoá đơn cha tính thuế
- Đối với hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nớc thì giá tính thuế là giá thanh
toán (hoặc giá bán ra) cha có thuế.
- Đối với hàng hoá nhập khẩu, giá tính thuế là giá nhập khẩu tại cửa khẩu n-
ớc nhập cộng với thuế nhập khẩu (giá CIF + thuế nhập khẩu).
- Hàng hoá dùng để biếu tặng, tiêu dùng nội bộ thì giá tính thuế là giá hàng
hoá tơng đơng từng loại trên thị trờng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status