Giải pháp thu hút đầu tư tư nhân trong phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị - Pdf 69

: Giải pháp thu hút đầu tư tư nhân trong phát triển cơ sở hạ
tầng cấp nước đô thị
3.1. Phương hướng, mục tiêu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô
thị
3.1.1. Cơ sở xác định phương hướng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước
đô thị
3.1.1.1. Quan điểm phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị.
Để đáp ứng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, khả năng cung cấp nước
sạch cần phải đáp ứng đủ cả về số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu nước
sinh hoạt và sản xuất ngày càng tăng của nhân dân.
Hệ thống cấp nước đô thị chủ yếu là cấp nước cục bộ cho từng địa
phương. Trong thời gian tới cần phải có các giải pháp cấp nước khác nhau để
phù hợp với tính chất phát triển theo vùng, liên vùng. Nghiên cứu phương án
xây dựng các công trình cấp nước quy mô lớn cấp vùng. Tuỳ theo tình hình
nguồn nước từng địa phương có phương án sử dụng nguồn nước ngầm,nguồn
nước mặt hợp lý.
Ngoài các công trình cấp nước ( tiếp nguồn ) đã có cần xây dựng thêm
các công trình hồ chứa nước, các công trình đập tràn để tận dụng giữ và điều tiết
nước đảm bảo nguồn nước cấp cho nhu cầu phát triển đô thị, công nghiệp, du
lịc.
Khai thác hợp lý các công trình cấp nước hiện có; mở rộng, nâng cấp và
đầu tư xây dựng mới các công trình phù hợp với sự phát triển của các đô thị
trong giai đoạn đến năm 2010 và có định hướng cho năm 2015.
3.1.1.2. Phương hướng, quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị:
Ngày 18/03/1998 Thủ tướng Chính Phủ đã phê duyệt Định hướng phát
triển cấp nước đô thị quốc gia đến năm 2015 với các nội dung chủ yếu như sau:
Định hướng cho việc phát triển ngành cấp nước đô thị phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; từ đó, lập kế hoạch đầu tư phù hợp để
phát triển hệ thống cấp nước các đô thị một cách ổn định và bền vững trong
từng giai đoạn.
Điều tra, khảo sát, khai thác đi đôi với bảo vệ tài nguyên nước quôc gia;

triển của các đô thị
Tập trung thu hút nguồn vốn trong dân cư, nguồn vốn tư nhân để đầu tư
phát triển mạng lưới, tránh dựa dẫm vào Ngân sách Nhà nước, vốn ODA.
3.1.1.3. Dự báo nhu cầu nguồn vốn đến năm 2015 cho việc cung cấp dịch vụ cấp
nước đô thị
Dựa trên quan điểm phát triển cũng như phương hướng quy hoạch và
mục tiêu phát triển ngành cấp nước đô thị , NHTG và Chính phủ Việt Nam đã
có ước tính nhu cầu vốn để đạt được các mục tiêu về phát triển cơ sở hạ tầng
cấp nước đô thị, nhu cầu đó được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3.1 : Dự báo nhu cầu nguồn vốn tới năm 2015 cho việc cung cấp dịch
vụ cấp nước cho 100% các khu vực đô thị (Tỷ USD)
Đơn vị: Triệu dân, Tỷ USD
Ước tính của WB năm 2000 năm 2010 năm 2015
Tổng số dân đô thị 19 32 46
Số dân cần nước máy 9,88 22,88 36,88
Nhu cầu về vốn cho 100% cấp nước đô thị 1,6302 4,57502 5,58502
Nguồn : Chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng Việt Nam
( Tỷ giá quy đổi: 1 USD = 16.000 VNĐ)
Theo dự báo trên đến năm 2015, tổng số dân đô thị là 46 triệu người số
dân có nhu cầu sử dụng nước máy là gần 37 triệu người và tổng số vốn để đầu
tư để phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị đến năm 2015 là hơn 5,5 tỷ USD.
Như vậy ta thấy, năm 2015 tỷ lệ số dân cần nước máy trên tổng số dân là
80,17% so với năm 2010 là 71,5% tăng 8,67%, so với năm 2000 là 52% tăng
19,5%. Điều đó cho thấy tỷ lệ số dân cần nước máy trên tổng số dân đô thị ngày
càng tăng, kèm theo đó nhu cầu về vốn cho cấp nước đô thị cũng tăng dần theo
các năm, cụ thể là năm 2015 nhu cầu về vốn tăng hơn 1 tỷ USD so với năm
2010, và tăng gần 4 tỷ USD so với năm 2000. Điều này hòan tòan hợp lý với
nhu cầu tiêu dùng của người dân và xu hướng phát triển của xã hội.
Bảng 3.2 : Dự kiến nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô
thị giai đoạn 2008-2015

yếu sau:
3.2. Giải pháp thu hút đầu tư tư nhân phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô
thị
3.2.1. Hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến việc thu hút đầu tư tư nhân
tham gia phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị.
Đến nay, ngòai các văn bản quy phạm pháp luật có tính chất điều chỉnh
chung thì hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng
cấp nước đô thị đang ngày càng hoàn thiện hơn trước. Tuy nhiên, cơ chế chính
sách về việc thu hút đầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị vẫn chưa
thực sự hấp dẫn. Trong việc thu hút đầu tư tư nhân tham gia vào việc đầu tư
phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị thì các nhà đầu tư tư nhân thường đánh
giá các khỏan thu từ đầu tư như cước phí sử dụng nước sạch, chính sách tính
giá…Nếu các vấn đề này không mang lại lợi nhuận cho các nhà đầu tư tư nhân
thì rất khó thu hút họ tham gia. Chính phủ vẫn chưa có một cơ sở pháp lý chi
tiết để tạo môi trường thông thoáng cho tư nhân tham gia đầu tư vào lĩnh vực
này. Chính vì vậy cần có một cơ chế, chính sách cần được nghiên cứu làm rõ
hơn:
3.2.1.1. Chính sách giá nước :
Thực trạng hoạt động của các công ty cấp nước hiện nay về hình thức thì
có vẻ như đang hoạt động kinh doanh, bởi vì sản phẩm nước sạch vẫn bán cho
các hộ tiêu dùng theo hợp đồng; các chi phí đầu vào vẫn được hạch toán theo
định mức kinh tế kỹ thuật nội bộ hoặc cấp tỉnh ban hành. Tuy nhiên, giá nước
sạch do Uỷ ban Nhân dân, Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh quy định, giá bán bình
quân thấp hơn giá thành sản xuất.
Vì vậy tỉnh phải chấp nhận để doanh nghiệp cấp nước chưa tính đủ hoặc
có nơi chưa tính khấu hao tài sản cố định vào giá thành. Việc sửa chữa lớn, bảo
dưỡng hệ thống cấp nước nhiều nơi phải dựa vào ngân sách cấp phát. Doanh
nghiệp cấp nước chưa tự chủ về tài chính.
Để xây dựng giá nước đảm bảo được kinh doanh và khả năng chi trả của
người dân thì trước hết cần nghiên cứu cách thức thống nhất đánh giá lại tài sản

động vốn bằng nhiều cách khác nhau như thông qua phát hành trái phiếu công
ty hay bán cổ phần. Hơn nữa, Nhà nước nên cho các ngân hàng nước ngòai
quyền lớn hơn trong quản lý và chuyển nhượng các dự án BOT. Một khi lợi
nhuận dự kiến của công ty BOT không đạt mức mà các ngân hàng mong đợi thì
các ngân hàng cần có quyền tiếp nhận và bán cho bên thứ ba. Hiện nay, bên thứ
ba này cần nhận được sự chấp thuận từ phía đối tác Việt Nam (Bộ ký hợp đồng
BOT như Bộ GTVT, Bộ CN). Tuy nhiên các Bộ này chắc chắn sẽ không chấp
thuận trước khi biết chính xác đối tác đầu tư mới là ai. Đây cũng đang là một
cản trở cho vấn đề tài trợ dự án BOT.
Hầu hết các công ty BOT quan tâm nhiều nhất đến quyền được khai thác
dịch vụ gia tăng - đây là vấn đề chưa được đề cập trong dự thảo nghị định BOT.
Thay vì không chấp nhận các dịch vụ gia tăng này, Chính phủ có thể đàm phán
để tìm mô hình cùng các nhà đầu tư khai thác các dịch vụ gia tăng đó. Hiện nay
các cơ quan chức năng xem xét và duyệt từng dự án cụ thể; hậu quả là các nhà
đầu tư phải xin phép nhiều cấp, nhiều tầng, rất mất thời gian và chi phí giao
dịch.
Đàm phán hợp đồng BOT thực ra là việc đàm phán giữa lợi ích Nhà nước
và lợi nhuận của tư nhân, vì vậy cần một đội ngũ chuyên gia giỏi và dày dạn
kinh nghiệm trong việc đàm phán và soạn thảo hợp đồng BOT để đảm bảo vừa
đáp ứng được các yêu cầu của các nhà đầu tư tư nhân vừa mang lại lợi ích cho
quốc gia. Do đó, cần phân quyền cấp phép các dự án BOT xuống địa phương,
tùy theo tính chất và quy mô của từng dự án để tiết kiệm thời gian và chi phí
cấp phép cho nhà đầu tư.
3.2.1.3. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính:
Theo hướng “một cửa, một đầu mối” để tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư
tư nhân trong cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị. Các giải pháp chủ yếu là:
- Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước
trong hoạt động quản lý đầu tư; phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng
cơ quan trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh; duy trì thường xuyên việc
tiếp xúc trực tiếp giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các doanh nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status