BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…………/…………
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN SUNG
BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC
VĂN PHÒNG - THỐNG KÊ CẤP XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN SUNG
Để hoàn thành luận văn này, em xin gửi lời cảm ơn đến:
Quý Thầy Cô phụ trách giảng dạy đã tận tình truyền đạt kiến
thức trong suốt khóa học, đối với em những kiến thức được lĩnh
hội trong khóa học này không chỉ quan trọng đối với công việc mà
còn bổ sung vào nhận thức thực tiễn cuộc sống.
Quý Thầy Cô phụ trách quản lý lớp đã hỗ trợ cho em rất nhiều
về tất cả các thông tin liên quan đến khóa học, chương trình học
để em có thể hoàn thành chương trình học đúng hạn.
Tất cả các anh chị em học viên cùng lớp, đồng nghiệp tại cơ quan,
gia đình và bạn bè đã luôn giúp đỡ, động viên em trong thời gian qua.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS. Nguyễn Hữu
Hải đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình em thực hiện luận văn.
Do vốn kiến thức còn hạn chế nên luận văn chắc chắn còn nhiều
thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của Quý Thầy Cô.
Kính chúc Quý Thầy, Cô cùng tất cả mọi người dồi dào sức
khỏe, thành công trong cuộc sống.
Trân trọng
Nguyễn Sung
MỤC LỤC
Trang bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU....................................................................................................................................... 1
Tiểu kết chương 3............................................................................................................. 91
KẾT LUẬN............................................................................................................................... 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Danh sách các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Quảng Trị 51
Bảng 2.2. Dân số và diện tích của các đơn vị hành chính ở Quảng Trị
......................................................................................................................................................... 54
Bảng 2.3.Số liệu công chức văn phòng- thống kê cấp xã của tỉnh Quang Trị. 63
Bảng 2.4. Các loại hình lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý nhà nước cho công
chức............................................................................................................................................ 65
Bảng 2.5. Số lượng và tỷ lệ công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
được bồi dưỡng................................................................................................................. 66
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở, trực tiếp tiếp xúc và
giải quyết các công việc hàng ngày của nhân dân. Trong hệ thống chính trị của
nước ta, chính quyền cấp cơ sở có một vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp
của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân, thực hiện hoạt động quản lý
nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh trật tự, an toàn xã hội
ở địa phương theo thẩm quyền được phân cấp, đảm bảo cho các chủ trương,
thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo
việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không
ức hiếp dân, trẻ hoá đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải
quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cơ sở.[20, tr. 167- 168].
Trước tình hình thực tế nêu trên, tôi đã chọn nội dung “Bồi dưỡng
công chức văn phòng - thống kê cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Trị”
cho đề tài luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành quản lý công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn:
Từ trước đến nay, đã có nhiều đề tài nghiên cứu, khảo sát về
đội ngũ công chức các cấp; xây dựng và nâng cao chất lượng đội
ngũ công chức các cấp; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức
các cấp. Có thể kể đến một số công trình có đề cập gần với nội
dung bồi dưỡng công chức văn phòng- thống kê cấp xã như sau:
-
TS. Ngô Thành Can: Đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực
trong khu vực công, Nxb Lao động, Hà Nội, 2014. Cuốn sách đã trình bày
những kiến thức, kỹ năng cơ bản trong đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn
nhân lực trong khu vực công; năng lực làm việc, năng lực thực thi công vụ
của cán bộ, công chức, viên chức, phát triển năng lực thực hiện công việc và
2
một số năng lực cần thiết đối với cán bộ, công chức, viên chức ở nước ta.
-
Đào tạo, bồi dưỡng công chức các cơ quan hành chính nhà
nước cấp huyện tỉnh Quảng Bình- Đề tài luận văn thạc sĩ của tác
giả Đàm Anh Tuấn-năm 2015.
-
Đào tạo, bồi dưỡng công chức xã là người dân tộc thiểu số
trên địa bàn các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam- Đề tài luận văn
thạc sĩ của tác giả Nguyễn Phước Sơn- năm 2015.
3
-
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Ủy ban nhân dân
cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam- Đề tài luận văn thạc sĩ của
tác giả Văn Thị Nghĩa-năm 2015.
-
Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị,
Nguyễn Thị Khởi (2014), Luận văn Thạc sĩ Quản lý Hành chính công, Học viện
Hành chính. Luận văn này đã tập trung vào nội dung: xác định nhu cầu, nội
dung chương trình, phương pháp đào tạo, chế độ hỗ trợ và đánh giá sau đào
tạo; đề xuất nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng
công chức cấp xã trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
Tuy nhiên, cho đến nay có thể nói chưa có công trình nào nghiên cứu một
cách tập trung, toàn diện và hệ thống về công tác bồi dưỡng đội ngũ công
trống cần tiếp tục nghiên cứu và sự không trùng lặp trong nội dung
-
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về bồi dưỡng công chức văn
phòng- thống kê cấp xã, những yếu tố ảnh hưởng đến công tác
bồi dưỡng đội ngũ công chức văn phòng- thống kê cấp xã.
-
Phân tích, làm rõ thực trạng bồi dưỡng đội ngũ công chức văn
phòng-thống kê cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, qua đó chỉ ra
những bất cập cần phải xử lý, nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng
đội ngũ công chức văn phòng- thống kê cấp xã ở tỉnh Quảng Trị.
-
Đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng bồi dưỡng đội ngũ công
chức văn phòng- thống kê cấp xã, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách hành
chính và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là công tác tổ chức và hoạt động bồi
dưỡng đội ngũ công chức chuyên môn văn phòng- thống kê cấp
xã trên địa bàn của 141 xã, phường, thị trấn của tỉnh Quảng Trị.
-
Tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng cán bộ, công chức.
5.2.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể
-
Phương pháp phân tích, tổng hợp thống kê,
-
Phương pháp so sánh
-
Phương pháp điều tra xã hội học
-
Phương pháp chuyên gia.....
6.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về lý luận
Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận về bồi dưỡng công chức chuyên
môn văn phòng- thống kê cấp xã làm cơ sở khoa học để nâng cao chất lượng,
dưỡng công chức văn phòng- thống kê cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
7
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC
VĂN PHÒNG - THỐNG KÊ CẤP XÃ
1.1 Khái quát chung về chính quyền cấp xã và công chức văn
phòng-thống kê
1.1.1. Khái niệm và vai trò của chính quyền cấp xã
1.1.1.1 Khái niệm về chính quyền cấp xã
Xã, phường, thị trấn (gọi tắt là cấp xã) là cấp cuối cùng trong hệ thống
hành chính bốn cấp của Nhà nước ta. Đây là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện
đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng
thời cũng là nơi kiểm tra, đánh giá đường lối, chủ trương của Đảng; chính
sách, pháp luật của Nhà nước; là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Trong thực tế cuộc sống, khi cần có sự can thiệp của chính quyền, thì nơi
người dân tìm đến đầu tiên chính là chính quyền cấp xã. Chính quyền cấp xã
cũng là nơi trực tiếp đưa ra các giải pháp cần thiết theo thẩm quyền để giải
quyết những yêu cầu chính đáng của người dân, tạo điều kiện cho người dân
có cuộc sống bình yên, thực hiện có hiệu quả các quyền và nghĩa vụ của mình
trước Nhà nước và cộng đồng. Ngay từ những ngày đầu khi mới khai sinh ra
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “ Về
hành chính: Cấp xã là gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp
xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi…” [22, tr.273].
Cấp xã là đơn vị hành chính thấp nhất trong hệ thống tổ chức hành chính
- lãnh thổ nước ta nhưng có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ trong
thấu tình, đạt lý trong quan hệ xóm làng. Mọi cử chỉ, hành vi, lời ăn tiếng nói,
phong cách, lề lối, năng lực thực thi nhiệm vụ... của đội ngũ công chức thể
9
hiện bộ mặt của Nhà nước ta. Người dân nhìn vào đội ngũ công chức
này để có thể đánh giá được Nhà nước, để có thể gởi gắm niềm tin.
Thực tiễn cho thấy ở đâu chính quyền cấp xã vững mạnh, ở đó mọi chủ
trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh,
hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được tăng cường, quyền làm chủ của
nhân dân được bảo đảm và phát huy; còn ở đâu chính quyền cấp xã yếu kém
thì ở đó phong trào quần chúng kém phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều
khó khăn, hoạt động quản lý nhà nước luôn sa vào những bất cập, thiếu sót.
Vai trò của chính quyền xã thể hiện tính chất đặc thù của hệ thống
chính quyền ở cơ sở xã; đồng thời, phải phản ánh tính chất tự quản khá
cao của nó, nhất là trong bối cảnh xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa với sự tác động của kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế hiện nay.
1.1.1.2. Vai trò của chính quyền cấp xã
-
Chính quyền cấp xã là cầu nối giữa Nhà nước, các tổ chức
và cá nhân trong xã.
-
Là đại diện cho Nhà nước và nhân danh Nhà nước để thực
truyền thống và điều kiện của mỗi địa phương, mỗi tộc người).
Về mặt pháp lý, theo quy định của Điều 110- Hiến pháp năm
2013, các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam được phân định như sau:
Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam được phân định như sau:
Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành
phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn
vị hành chính tương đương;
Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh
chia thành phường và xã; quận chia thành phường.
Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập.
Việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn
vị hành chính phải lấy ý kiến Nhân dân địa phương và theo trình
tự, thủ tục do luật định [28, Điều 110].
11
Như vậy, xã, phường, thị trấn (gọi tắt là xã) là cấp hành chính
thứ tư (cấp cơ sở) trong tổ chức hành chính 4 cấp ở nước ta.
1.1.2. Đặc điểm của chính quyền cấp xã
Trên cơ sở pháp lý và thực tiễn nêu trên, có thể rút ra những
đặc điểm của chính quyền cấp xã như sau:
Một là, chính quyền cấp xã là cấp cơ sở, là cấp chính quyền xa Trung
ương nhất nhưng lại là cấp gần dân nhất, cấp trực tiếp tiếp xúc với nhân
dân, ở ngay trong nhân dân. Đây là cấp chính quyền có số lượng lớn nhất
và có đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội đa dạng nhất trong các loại hình
đơn vị hành chính với 9.085 xã, chiếm trên 80% tổng số đơn vị hành chính
môn như phòng, ban. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan
trực tiếp thực hiện công việc quản lý địa phương. Là nơi giải quyết hàng ngày các
vấn đề liên quan đến đời sống, sinh hoạt của nhân dân như: dân quyền, dân sinh,
dân trí. Một mặt chính quyền cấp xã phải đảm bảo thực hiện đúng chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nước ở địa phương, mặt khác chính quyền phải đi sát
với nhân dân, nắm được tình hình thực tế xã hội ở địa phương và giải quyết thấu
tình, đạt lý trong các mối quan hệ giữa chính quyền với người dân; quan hệ hàng
xóm láng giềng. Chính quyền cấp xã là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền
nhà nước với nhân dân, là người thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về chính
trị, kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương theo thẩm
quyền quy định, đảm bảo cho các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước đi vào cuộc sống.
Bốn là, trong phạm vi xã thường có các đơn vị dân cư nhỏ hơn là
thôn/làng (xóm, bản, buôn, ấp,...). Hầu hết đơn vị thôn/làng (xóm, bản, buôn,
ấp,...) là những cộng đồng dân cư tồn tại đã lâu đời, có sự gắn bó chặt chẽ với
nhau về nhiều phương diện như kinh tế, văn hóa, xã hội, huyết thống, phong
tục, tập quán, cách thức sản xuất - kinh doanh...; do vậy có tính tự quản trên
nhiều phương diện của đời sống xã hội. Điều này liên quan mật thiết đến việc
13
chính quyền cấp xã thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền
gắn liền với phương châm “ dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra”, đồng thời cũng là chủ thể quan trọng ở cơ sở bảo đảm cho
việc thực hiện phương châm này một cách có hiệu quả nhất.
1.1.3 Công chức cấp xã
Thuật ngữ “công chức” thường được hiểu một cách khái quát là những
người được nhà nước tuyển dụng, nhận một công việc hoặc một nhiệm vụ
ký. Trước đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh 188/SL Quy định
về các hạng công chức, đó cũng được coi như văn bản pháp lý khởi đầu
cho việc xây dựng đội ngũ công chức sau này của Nhà nước ta.
Tại Điều 1 của Sắc lệnh 76/SL quy định: “Những công dân Việt Nam được
chính quyền nhân dân tuyển dụng để giữ chức vụ thường xuyên trong cơ
quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này,
trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”. Theo quan niệm này
thì công chức ở đây là những: Công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa; do chính quyền nhân dân tuyển dụng; giữ chức vụ thường xuyên trong
cơ quan Chính phủ. Như vậy, những người làm việc trong các cơ quan nhà
nước khác không gọi là công chức. Quan niệm này cũng giống quan niệm của
một số nước, chỉ coi những người giữ những công việc thường xuyên trong
các cơ quan hành chính nhà nước mới là công chức.
-
Khái niệm công chức cấp xã: Theo Luật Cán bộ công chức, Luật
số 22/2008/QH12: công chức cấp xã được định nghĩa như sau: Công
chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh
chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế
và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[29, Khoản 3, Điều 4].
-
Và theo quy định Thông tư 06/2012/TT-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,
ngày 30/10/2012 Hướng dẫn “Về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và
tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn” Điều 1 quy định : “Công chức xã,
phường, thị trấn (xã, phường, thị trấn sau đây gọi chung là cấp xã) làm công
tác chuyên môn thuộc biên chế của Ủy ban nhân dân cấp xã, có trách nhiệm
16
Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù
hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe
để hoàn thành nhiệm vụ được giao;
Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng
dân cư trên địa bàn công tác.[8, Điều 3, 4].
Đối với công chức Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã và Trưởng
Công an xã: ngoài những tiêu chuẩn quy định tại Khoản 1- Điều này còn
phải có khả năng phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an
nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc
phòng toàn dân và thực hiện một số nhiệm vụ phòng thủ dân sự; giữ
gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền,
bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước.
Tiêu chuẩn cụ thể của công chức xã: Theo quy định tại Thông tư
Số: 06/2012/TT-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, ngày 30/10/2012
quy định tiêu chuẩn cụ thể của công chức xã như sau:
Độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên; Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung học phổ
thông; Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên của
ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức được
đảm nhiệm; Trình độ tin học: Có chứng chỉ tin học văn phòng trình độ A trở
lên; Tiếng dân tộc thiểu số: Ở địa bàn công tác phải sử dụng tiếng dân tộc
thiểu số trong hoạt động công vụ thì phải biết thành thạo tiếng dân tộc thiểu
số phù hợp với địa bàn công tác đó; nếu khi tuyển dụng mà chưa biết tiếng
dân tộc thiểu số thì sau khi tuyển dụng phải hoàn thành lớp học tiếng dân tộc
thiểu số phù hợp với địa bàn công tác được phân công; Sau khi được tuyển
dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước và