BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM NGỌC QUỲNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐIVỚIKINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRÊN
ĐỊA BÀN VÙNG DUYÊN HẢIBẮC BỘ THEO HƯỚNG CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG
Hà Nội – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM NGỌC QUỲNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐIVỚI KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN VÙNG DUYÊN HẢIBẮC BỘ THEO HƯỚNG
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Chuyên ngành: Quản lý công
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân với
sự giúp đỡ của các giáo viên hướng dẫn. Những thông tin, dữ liệu, số liệu đưa
ra trong luận án được trích dẫn rõ ràng, đầy đủ về nguồn gốc. Những số liệu
thu thập và tổng hợp của cá nhân đảm bảo tính khách quan và trung thực.
Tác giả
Phạm Ngọc Quỳnh
Dan
Dan
Dan
Chương 1
1.1.
1.1.1.
1.1.2.
1.1.3.
1.2.
PH
TỔ
QU
Tổn
2.2.
Lý
hướ
2.2.1. Khá
CNH
2.2.2. Sự c
CNH
2.2.3. Chứ
CNH
2.2.4. Nội
CNH
2.2.5. Nhữ
ngh
2.3.
Kin
kin
có t
2.3.1. Kin
hướ
2.3.2. Bài
theo
Tiểu
Chương 3 TH
NG
3.1.
Đặc
triể
sản
3.4.
Đán
theo
3.4.1. Nhữ
tế n
3.4.2. Nhữ
nôn
3.4.3. Ngu
Chương 4
4.1.
4.1.1.
4.1.2.
4.1.3.
4.2.
4.2.1.
4.2.2.
4.2.3.
Tiểu
PH
QL
HƯ
Phư
ngh
Bối
nôn
4.3.3. Phát triển kết cấu hạ tầ
4.4.
Một số kiến nghị đối v
4.4.1. Khắc phục những bất c
4.4.2. Ban hành Luật Nông n
chuyên ngành trong lĩn
Tiểu kết chương 4
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU
DANHMỤCCÁCCÔNG
PHỤLỤC1+2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATVSTP
An toàn vệ sinh thực phẩm
CNH-HĐH
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
ĐBSCL
NN&PTNT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NSLĐ
Năng suất lao động
NSNN
Ngân sách nhà nước
OECD
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
ODA
Viện trợ phát triển chính thức
PPP
Hợp tác giữa Nhà nước và tư nhân
QLNN
Quản lý nhà nước
VAC
Bảng 3.16
Bảng 3.17
Hình 3.1
Hình 3.2
Hình 3.3
Hình 3.4
Hình 3.5
Hình 3.6
Hình 3.7
Hình 3.8
Hình 3.9
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do lựa chọn đề tài
Nhìn lại lịch sử phát triển của xã hội loài người, nông nghiệp luôn luôn
giữ một vai trò quan trọng, là ngành sản xuất lương thực, thực phẩm cho xã
hội, cung cấp nhiều nguyên liệu cho công nghiệp, nhiều hàng cho xuất khẩu.
Bước vào thế kỷ XXI, với những thách thức về an ninh lương thực, dân số, môi
trường sinh thái,… nông nghiệp vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng ấy. Trong
suốt thế kỷ XX, nông nghiệp thế giới đã có những bước tiến vượt bậc, phát
triển từ giai đoạn sản xuất nông nghiệp truyền thống sang giai đoạn hiện đại
hoá nông nghiệp, nhờ vậy kinh tế nông thôn và đời sống của người dân nông
thôn cũng có nhiều chuyển biến. Đặc biệt, trong vài thập kỷ trở lại đây, với sự
tiến triển nhanh chóng của những xu thế lớn trên thế giới, như cách mạng khoa
học và công nghệ, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế thị trường
hiện đại, kinh tế tri thức,… nhận thức về nông nghiệp, nông thôn và nông dân
đã có những sự thay đổi.
dịch vụ khác. Chí phí sản xuất ngày càng cao cũng bắt đầu làm giảm khả năng
cạnh tranh của các sản phẩm của nông nghiệp Việt Nam với vị thế là nước sản
xuất có chi phí thấp so với các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Vùng duyên hải Bắc Bộ (VDHBB) là một vùng kinh tế quan trọng của
Việt Nam, nằm ven vịnh Bắc Bộ. VDHBB bao gồm 5 tỉnh ven biển phía Bắc
Việt Nam là Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình. Theo
Quyết định số 865/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ban hành năm
2008, Vùng Duyên hải Bắc Bộ được định hướng sẽ trở thành vùng kinh tế quan
trọng tầm quốc gia và quốc tế. Vùng duyên hải Bắc Bộ có tiềm năng rất lớn về
phát triển kinh tế nông nghiệp với vị trí là trung tâm của vùng Đồng bằng Sông
Hồng – vựa lúa phía bắc, với tiềm năng về thủy hải sản và khí hậu nhiệt đới
thuận lợi cho trồng trọt, chăn nuôi.
Không nằm ngoài tình hình chung của cả nước, kinh tế nông nghiệp
VDHBB hiện nay có nhiều hạn chế. Thành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt là
các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất, chế biến nông sản được đưa vào ứng dụng
sản xuất chưa nhiều nên năng suất, chất lượng hiệu quả trồng trọt, chăn nuôi,
nuôi trồng, khai thác hải sản còn thấp. Công nghiệp chế biến nông sản vẫn còn
kém phát triển. Rõ ràng, CNH-HĐH nông nghiệp chính là hướng đi duy nhất
để nâng cao giá trị gia tăng của nông sản hàng hóa, khi mà các động lực khác
cho phát triển như đất đai, lao động đều bị giới hạn. Giải pháp quan trọng cho
phát triển nông nghiệp vùng là đẩy mạnh nghiên cứu khoa học công nghệ trong
nông nghiệp; tích cực chuyển giao công nghệ, đào tạo và dạy nghề cho nông
dân nhằm phát huy tài nguyên con người và áp dụng khoa học - công nghệ có
hiệu quả.
Những hạn chế, yếu kém trên có nhiều nguyên nhân, cả khách quan và
chủ quan, nhưng nguyên nhân cơ bản nhất là công tác QLNN đối với kinh tế
2
nông nghiệp VDHBB còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Chưa có một cơ quan
3
- Khảo cứu kinh nghiệm QLNN đối với kinh tế nông nghiệp ở một số
vùng trong cả nước và một số quốc gia khác trên thế giới và rút ra những bài
học có thể vận dụng vào VDHBB.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động QLNN đối với kinh tế nông
nghiệp trên địa bàn các tỉnh VDHBB, chỉ ra những hạn chế còn tồn tại trong
công tác QLNN và xác định những nguyên nhân khách quan và chủ quan của
những hạn chế đó.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện QLNN về kinh tế
nông nghiệp có giá trị thực tiễn nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp
theo hướng CNH-HĐH trên địa bàn các tỉnh VDHBB.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động QLNN đối với kinh tế
nông nghiệp trên phạm vi một vùng lãnh thổ, gắn với quá trình CNH-HĐH
nông nghiệp.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
3.2.1. Phạm vi về nội dung:
Thứ nhất, luận án nghiên cứu và đánh giá thực trạng QLNN theo các nội
dung của quá trình quản lý bao gồm: tổ chức bộ máy; xây dựng hệ thống pháp
luật; xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch; ban hành chính sách;
thanh kiểm tra giám sát…
Thứ hai, kinh tế nông nghiệp nghiên cứu trong luận án này bao gồm:
trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản. Luận án không nghiên cứu tiểu ngành lâm
nghiệp. Sở dĩ như vậy vì lâm nghiệp không phải là thế mạnh của các địa
phương trong VDHBB, trừ tỉnh Quảng Ninh; tuy vậy, lâm nghiệp của Quảng
Ninh nếu so với các vùng khác trong cả nước cũng không đáng kể.
trạng QLNN đối với kinh tế nông nghiệp của VDHBB trong chương 3 của luận
án. Nguồn số liệu được thu thập, tổng hợp, xử lý dựa vào kết quả các cuộc tổng
điều tra nông nghiệp, nông dân và nông thôn của Tổng cục Thống kê, các số
liệu từ Cục thống kê của 5 địa phương nằm trong vùng Duyên hải Bắc Bộ.
+ Phương pháp so sánh, tổng hợp
Phương pháp này được vận dụng trong luận án khi tổng hợp kinh nghiệm
trong QLNN đối với kinh tế nông nghiệp của một số vùng, địa phương và một
số quốc gia khác, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho công tác QLNN đối với
kinh tế nông nghiệp của VDHBB. Đồng thời, phương pháp so sánh cũng được
sử dụng để chỉ ra sự thay đổi về số lượng và giá trị của các mặt hàng chủ yếu
trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản qua các năm; giữa các địa
phương trong vùng. Từ đó, luận án rút ra xu hướng phát
5
triển cũng như tiềm năng phát triển của hoạt động kinh tế nông nghiệp
VDHBB.
+ Phương pháp chuyên gia:
Để có thêm tư liệu và ý kiến về các vấn đề trong QLNN đối với kinh tế
nông nghiệp của VDHBB, luận án đã tiến hành phỏng vấn 5 chuyên gia trong
lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn, trong đó có 3 nhà quản lý cấp cao trong các
vụ, cục và trung tâm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 1 nghiên
cứu viên chính đến từ Viện Nghiên cứu chính sách và chiến lược phát triển
nông nghiệp; và 1 người là cán bộ làm công tác giảng dạy ở Viện trên. Danh
sách những người tham gia phỏng vấn cũng như thông tin cơ bản và nội dung
các câu hỏi và trả lời phỏng vấn được mô tả cụ thể trong Phụ lục 1 của luận án.
Các quan điểm, nhận định của các chuyên gia về chính sách, quản lý đối với
kinh tế nông nghiệp nói chung và VDHBB đều rất hữu ích và đã được NCS bổ
sung vào một số nội dung của luận án.
+ Nhóm phương pháp kỹ thuật khác
ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả của QLNN đối với kinh tế nông nghiệp
nói chung và ở các tỉnh, thành phố VDHBB nói riêng.
- Luận án đã phân tích và đánh giá thực trạng QLNN đối với kinh tế
nông nghiệp ở VDHBB theo các nội dung của QLNN. Từ đó, luận án đã chỉ ra
được những hạn chế, yếu kém trong công tác QLNN đối với kinh tế nông
nghiệp; xác định các nguyên nhân dẫn tới những hạn chế còn tồn tại trong
QLNN đã cản trở sự phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH-HĐH ở
VDHBB.
- Luận án đã đề xuất một hệ thống giải pháp về QLNN mang tính khả
thi nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế nông nghiệp ở các địa phương thuộc
VDHBB theo hướng CNH-HĐH.
7. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án có
kết cấu 4 chương như sau:
-
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
luận án
- Chương 2:Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước đối với kinh tế
nông
nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với kinh tế nông nghiệp
trên địa bàn Vùng Duyên Hải Bắc Bộ
- Chương 4: Phương hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện quản lý
nhà nước đối với kinh tế nông nghiệp trên địa bàn Vùng Duyên Hải Bắc Bộ
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
7
thực trạng đến chính sách, quản lý của Nhà nước. Đồng thời, tác giả cũng chỉ
ra những nội dung phục vụ cho việc nghiên cứu luận án này cũng như những
8
điểm khác biệt của các công trình khoa học đã công bố trước đó so với luận án
của tác giả.
1.1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp và các nhân
tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp
Công trình nghiên cứu “Effects of Trade Liberalisation on Agriculture
in Vietnam: Institutional and Structural Aspects” (Ảnh hưởng của Tự do hóa
thương mại đến nông nghiệp ở Việt Nam: xem xét khía cạnh thể chế và cơ cấu
kinh tế)được thực hiện bởi tác giả Nguyen Trung Que 12/2008 – Trung tâm
Điều phối vùng về Nghiên cứu và Phát triển khu vực Châu Á – Thái Bình
Dương của Liên Hợp Quốc (CGPRT). Nghiên cứu này đã chỉ ra vai trò rất
quan trọng của nền nông nghiệp đối với kinh tế của Việt Nam cũng như những
biến chuyển trong nước và quốc tế tác động đến nông nghiệp Việt Nam. Theo
tác giả Nguyễn Trung Quế, trong bối cảnh đó, Chính phủ Việt Nam đã nhận
thức một cách rõ ràng vấn đề này, từ đó, rất nhiều định hướng, giải pháp cũng
như chiến lược đã được thực thi, khuyến khích nông dân và đại lý nông sản
tăng cường sản xuất nông nghiệp, tạo khả năng cho việc mở rộng thị trường.
Nghiên cứu này cũng khẳng định rằng, những thành tựu mà Việt Nam có được
trong nông nghiệp chủ yếu và quan trọng nhất là do Việt Nam đã định hướng
sự phát triển của nông nghiệp theo kinh tế thị trường. Chính phủ đã ban hành
nhiều chính sách khuyến khích hộ gia đình và doanh nghiệp sản xuất hàng hóa,
tự do lưu thông hàng hóa trong nước và xuất khẩu sang khu vực cũng như thị
trường thế giới. Các chính sách về thuế, đầu tư, vốn, cơ sở hạ tầng v.v… đã dần
từng bước vững chắc bắt kịp với tình hình phát triển kinh tế... Mặc dù, nghiên
cứu này cho biết bức tranh tương đối toàn diện về tình hình sản xuất nông
nghiệp cũng như xuất khẩu nông sản ở nước ta cùng với những hạn chế cốt lõi
Châu Á (The Asia Foundation) tháng 1/2010. Đây là công trình nghiên cứu
nằm trong khuôn khổ thực hiện “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt
Nam 2011-2020”. Cũng như những nghiên cứu khác, tài liệu này trước hết
cũng trình bày tổng quan về phát triển nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam
như nông nghiệp với tăng trưởng kinh tế, gia tăng thu nhập cho nông thôn. Có
một điểm khác biệt trong nghiên cứu này là có đề cập đến việc phát triển nông
nghiệp ở một số nền kinh tế Châu Á như: Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Thái
Lan, Indonesia, Phillippines… và đồng thời có sự so sánh với nông nghiệp Việt
Nam trên các mặt: GDP trong nông nghiệp, lao động nông nghiệp, đất nông
nghiệp bình quân đầu người… Phần nội dung này rất hữu ích cho tác giả trong
việc nghiên cứu những kinh nghiệm quốc tế trong QLNN đối với kinh tế nông
nghiệp để rút ra các bài học có thể vận dụng vào luận án. Phần cuối của nghiên
cứu, các tác giả đã dành 6 trang để phân tích lựa chọn chính sách phát triển
nông nghiệp mang tính gợi mở cho Chính phủ Việt Nam trong giai đoạn 20112020. [78]
10
Báo cáo nghiên cứu Vietnam country Programming Framework 20122016 (Chương trình Quốc gia Việt Nam) của Tổ chức Lương thực và Nông
nghiệp của Liên Hợp quốc (FAO) (6/2013). Trong báo cáo này, phần đầu đề
cập đến hiện trạng phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam giai đoạn
2012-2016. Báo cáo nhấn mạnh đến những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được
trong suốt 25 năm đổi mới trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản như tốc độ tăng
trưởng 5,22% mỗi năm, cơ cấu nông nghiệp đã và đang thay đổi mạnh mẽ theo
hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và tăng trưởng hướng ra thị
trường, đáp ứng nhu cầu… Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, báo
cáo cũng chỉ ra những hạn chế trong khu vực nông nghiệp ở nước ta. Cụ thể là,
tăng trưởng nông nghiệp bị chững lại do các yếu tố như đất đai, phân bón,
thuốc trừ sâu cũng như hệ thống tưới tiêu đã đạt ngưỡng giới hạn. Việc chia cắt
đất đai, công nghệ lạc hậu, hiệu quả sản xuất thấp và chất lượng sản phẩm
vụ và gia công sản xuất, nghiên cứu cũng đã chỉ ra sự di chuyển nhân công từ
các hộ gia đình sang các hãng trong khu vực doanh nghiệp, và sự phân phối lại
công nhân từ doanh nghiệp Nhà nước sang khu vực tư nhân trong nước và có
vốn đầu tư nước ngoài. Những thay đổi trong chính sách thương mại, gia tăng
lao động trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và giảm vai trò của
DNNN đã đóng góp mạnh mẽ vào thay đổi cơ cấu lao động trong các ngành
kinh tế ở Việt Nam. Như vậy, nghiên cứu này chủ yếu giải thích quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam nói chung và trong nông nghiệp nói
riêng, trong đó đi kèm với sự di chuyển lao động từ nông nghiệp sang các
ngành khác. Tuy nhiên, phần về chính sách và giải pháp của nhà nước trong
nghiên cứu này chưa có nhiều và cũng chưa tập trung vào khu vực nông nghiệp
– là nội dung nghiên cứu chính của luận án.[74]
Kết quả nghiên cứu đề tài khoa học “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững trong bối cảnh
mới” (2014) – Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương. Báo cáo nghiên
cứu này tập trung nghiên cứu về vấn đề tái cơ cấu nông nghiệp, thực hiện theo
Đề án Tái cơ cấu nông nghiệp năm 2013 của Thủ tướng Chinh phủ. Cũng như
các nghiên cứu khác, báo cáo này cũng cũng phân tích những cơ hội và thách
thức đối với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, theo đó báo cáo đã chỉ ra những
khó khăn trong nông nghiệp bao gồm: Quy mô sản xuất của hộ nông dân quá
nhỏ, manh mún, kết cấu hạ tầng nghèo nàn, trình độ áp dụng các tiến bộ kỹ
thuật thấp, các hình thức tổ chức dựa trên hợp tác, liên kết như: tổ hợp tác, hợp
tác xã, liên hiệp, hiệp hội…chưa phát triển tương xứng với đòi hỏi của nông
dân;Trình độ, kỹ năng của người lao động nông nghiệp Việt Nam thấp, cùng
với quy mô sản xuất nhỏ, kỹ thuật canh tác truyền thống, lạc hậu đã dẫn tới
năng suất lao động thấp hơn nhiều so với năng suất lao động nông nghiệp ở các
nước trong khu vực. Tình trạng nông dân bỏ hoang ruộng hoặc sản xuất cầm
chừng (không đầu tư lớn vào sản xuất) đã diễn ra trong những năm gần đây ở
các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng và miền Trung; Ngoài ra, ngành nông
nghiệp còn phải đối mặt với những thách thức lớn khác từ: việc cắt giảm
dịch vụ rất thấp từ 1,3 đến 2,2%. Trong chuyên ngành thủy sản, tỷ trọng nuôi
trồng chiếm cao hơn khai thác khoảng 67% giá trị chuyên ngành, tuy vậy có xu
hướng giảm; tiểu ngành khai thác chiếm tỷ trọng thấp hơn song lại có xu
hướng tăng. Từ các số liệu phân tích đó, đề tài đã khẳng định rằng nền nông
nghiệp Việt Nam vẫn nặng về sản xuất lúa gạo, cây công nghiệp và một số cây
ăn quả khác, chăn nuôi chưa trở thành ngành sản xuất chính, mức
13
độ áp dụng KHCN và các phương pháp tiên tiến còn ít nên chưa khai thác đầy
đủ tiềm năng đất đai, nguồn nước, khí hậu và các điều kiện tự nhiên tại các
vùng sản xuất. Tư liệu này đã giúp cho tác giả có cái nhìn tổng quan về quá
trình chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp của Việt Nam cũng như những hạn
chế còn tồn tại và nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó. Căn cứ vào đó, tác
giả nhận thấy rằng tình hình sản xuất nông nghiệp của VDHBB cũng đang
trong tình trạng chung của cả nước. Tuy nhiên, có điều đáng tiếc, đề tài đã
không đề cập đến các giải pháp, đặc biệt là các giải pháp từ phía Nhà nước để
khắc phục các hạn chế này nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành
nông nghiệp theo hướng hợp lý hơn.[52]
Nghiên cứu phân tích “Vietnam drought and saltwater intrusion:
Transitioning from Emergency to Recovery”(Hạn hán và xâm nhập mặn ở
Việt Nam: quá trình chuyển đổi từ Khẩn cấp sang Phục hồi) của UNDP –
Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (2016). Khác với các nghiên cứu
trước, nghiên cứu này tập trung vào một yếu tố bất lợi về tự nhiên đối với phát
triển nông nghiệp ở Việt Nam: đó là vấn đề hạn hán và xâm nhập mặn. Kể từ
cuối năm 2015, Việt Nam đã trải qua đợt hạn hán và xâm nhập mặn dài nhất và
mạnh nhất trong lịch sử do hiện tượng El Nino gây ra, đã ảnh hưởng nghiêm
trọng đến hơn 18 tỉnh thuộc 3 vùng sản xuất nông nghiệp chính và đảm bảo an
ninh lương thực, bao gồm cả Đồng bằng sông Mekong, Trung Nam Bộ và Tây
Nguyên… Báo cáo này đã tập trung đưa ra các hàm ý chính sách để phục hồi,