một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong kinh
doanh Tín dụng tại các NHTMCP
I. Định hớng hoạt động của NHTM Việt nam trong thời kỳ phát
triển mới:
Tập trung nâng cao chất lợng tín dụng, đảm bảo an toàn hệ
thống ngân hàng, lành mạnh hoá hệ thống tổ chức tín dụng, tổ chức
các NHTM đặc biệt là các NHTMCP. Phải xây dựng đề án sắp xếp
lại các NHTMCP với yêu cầu phải đạt đợc các mục tiêu : đảm bảo
tiền gửi của dân, đảm bảo sự ổn định về chính trị, đảm bảo và tăng
khả năng kinh doanh của các NHTMCP, không xâm phạm và ảnh h-
ởng tới những ngời đóng góp cổ phần.(Trích 10 nhiệm vụ của ngành
ngân hàng trong năm 2000 - Thời báo ngân hàng số 05(471)ngày
15/1/2000)
Mục tiêu xuyên suốt trong chiến lợc phát triển hệ thống ngân hàng đến
năm 2000 là phải tạo lập đợc một hệ thống ngân hàng đủ mạnh cả về năng lực
hoạch định và thực thi chính sách, năng lực quản lý, năng lực điều hành kinh
doanh, đủ mạnh về trình độ công nghệ và kỹ thuật hoạt động để thích ứng với cơ
chế thị trờng trở thành công cụ phục vụ đắc lực cho mục tiêu phát triển kinh tế của
đất nớc và sớm hội nhập vào cộng đồng tài chính quốc tế.
Do vậy nhiệm vụ đặt ra cho toàn ngành phải triển khai theo bốn định hớng
lớn :
* Huy động và đáp ứng vốn một cách có hiệu quả cho nền kinh tế theo
nguyên tắc của kinh tế thị trờng trong môi trờng pháp luật hoàn chỉnh hơn. Tập
trung mở rộng nguồn vốn trung và dài hạn phục vụ tăng trởng kinh tế theo chơng
trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc.
*Cải tiến công tác thanh toán, đa ra áp dụng công cụ thanh toán mới để sử
dụng có hiệu quả nguồn vốn trong nền kinh tế...
*Tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ. Tiến hành điều tra khảo sát theo một nội
dung kiểm tra thanh tra để đánh giá đội ngũ cán bộ, tiến hành xử lý cán bộ không
đáp ứng đợc yêu cầu, đào tạo những cán bộ có khả năng, từng bớc bố trí lại đội
ngũ cán bộ.
Đây phải đợc coi là sự sống còn của hoạt động ngân hàng đợc thể hiện
bằng những chiến lợc phát triển dài hạn
Tuy nhiên , chúng ta phải thấy rằng, về mặt lý thuyết cũng nh thực tế, nếu
nh thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ tạo công ăn việc làm, thúc đẩy tăng tr-
ởng kinh tế. Ngành Ngân hàng, trong những năm vừa qua, với tổng phơng tiện
thanh toán và tổng d nợ cho vay nền kinh tế tăng 20-25% rõ ràng là đã thúc đẩy
tăng trởng kinh tế, tạo việc làm, kích thích đầu t phát triển... song gánh nặng
đang đè lên vai ngân hàng .
Do vậy, chúng ta cũng rất đồng tình rằng bây giờ không phải là lúc lôi
ngân hàng ra mà mổ xẻ, mà cần phải mổ xẻ cả nền kinh tế, từ thực trạng các
doanh nghiệp, môi trờng pháp lý, cơ chế và cơ quan quản lý, để từ đó có biện
pháp tổng hợp và đồng bộ giúp đỡ ngành ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt
động và sức mạnh trong kinh doanh.
II.Giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng đối với các nhTMCP:
Rủi ro tín dụng là một vấn đề hết sức phức tạp vì nó chịu sự tác động của
rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Vì vậy, trong kinh doanh không thể có
giải pháp loại trừ đợc rủi ro, mà chúng ta chỉ có thể đa ra giải pháp hạn chế rủi ro.
1. Những giải pháp ở tầm vĩ mô :
1.1. Về phía nhà nớc:
1.1.1. Tạo dựng đợc môi trờng pháp lý hoàn chỉnh, đồng bộ cho kinh doanh tín
dụng ngân hàng :
1.1.1.1.Một số văn bản pháp lý có liên quan tới việc cấp giấy phép, về thuế còn
có những điểm bất hợp lý:
-Địa vị pháp lý của NHTMCP đợc quy định trong Luật công ty và Luật các
TCTD. Tại điều 14 Luật công ty quy định việc cấp phép hoạt động cho NHTMCP
là do UBND Tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ. Nhng tại điều 21 Luật các TCTD
NHNN là cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho tổ
chức tín dụng .. ; ở đây có sự cha thống nhất giữa Luật Công ty và Luật các
TCTD.
1.1.1.2.Một số văn bản pháp lý có liên quan tới vấn đề thế chấp vốn vay của ngân
thi hành nghĩa vụ về tài sản của ngời đó, tiền bán thu đợc sẽ thanh toán lần lợt:
tiền cấp dỡng; tiền bồi thờng thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ; tiền công lao động;
các khoản phải trả cho nhà nớc; các khoản phải trả khác. Nếu tài sản đó chính là
tài sản đợc đem cầm cố thế chấp thì ngời đợc cầm cố thế chấp đợc u tiên ở hàng
nào trong số thứ tự kể trên ?
-Về phát mại tài sản thế chấp: cả Bộ luật dân s và luật DNNN đều mới quy
định chung về cơ quan có thẩm quyền tổ chức đấu giá tài sản, cha có những quy
định cụ thể về xử lý tài sản thế chấp trong trờng hợp bên vay thiếu khả năng chi
trả.
1.1.1.3. Cha có các văn bản dới luật lu thông thơng phiếu trong khi tín dụng thơng
mại (mua bán chịu hàng hoá) ngày càng trở nên phổ biến trong giao dịch kinh
doanh trên thị trờng làm cản trở việc theo dõi kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay
của khách hàng, xảy ra tình trạng chiếm dụng vốn, công nợ dây da, lừa đảo, chốn
lậu thuế sử dụng vốn sai mục đích mà pháp luật không kiểm soát đợc.
1.1.1.4.Hiệu lực của các cơ quan hành pháp cha đáp ứng đợc yêu cầu giải quyết
các tranh chấp, tố tụng hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự, phát mại tài sản thế
chấp, bảo lãnh... Nhiều trờng hợp tranh chấp hợp đồng kinh tế đã đợc toà án xét
xử nhng các bên không thực hiện mà cơ quan pháp luật không cỡng chế đợc.
1.1.1.5.Pháp lệnh kế toán thống kê cha đủ hiệu lực bắt buộc các doanh nghiệp
thực hiện chế độ hạch toán thống kê chính xác, kịp thời. Các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh không hạch toán quyết toán theo quy định. Các số liệu quyết toán báo
các tài chính của doanh nghiệp (quốc doanh và ngoài quốc doanh) cha thực hiện
chế độ kiểm toán bắt buộc, số liệu không phản ánh chính xác thực trạng tình hình
sản xuất kinh doanh, tài chính của doanh nghiệp.
1.1.1.6 Cha tạo lập môi trờng pháp lý bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong
và ngoài quốc doanh : tại khoản 3 điều 13 Quy chế Quản lý tài chính và hạch toán
kinh doanh đối với doanh nghiệp nhà nớc ban hành theo Nghị định 59CP ngày
3/10/96 quy định các tổ chức kinh tế quốc doanh đợc hạch toán vào chi phí kinh
doanh các khoản dự phòng tổn thất là không hợp lý vì thực tế cho thấy các
NHTMQD và NHTMCP đều phải chịu rủi ro nh nhau trong hoạt động kinh doanh,
nhanh chóng và hoạt động tự do dới nhiều hình thức nh cho vay nặng lãi, cho vay
nóng, chủ đề... mà thủ đoạn chính là lừa đảo, móc nối với khách hàng để vay tiền
ngân hàng về cho vay đã gây thêm khó khăn cho hoạt động tín dụng.
1.1.7. Tăng cờng công tác quy hoạch định hớng phát triển kinh tế xã hội tổng thể
trong các vùng kinh tế: hiện nay còn thiêú sự chỉ đạo chung của nhà nớc, thiếu sự
gắn kết, tính toán dựa trên thế mạnh của từng vùng, ... đa đến tình trạng phát triển
nghành nghề hoặc các dự án phát triển trùng lặp, hoặc nghành nào cũng đợc coi là
mũi nhọn, phát triển toàn diện trong quá trình phát triển của từng địa phơng; sản
xuất theo kiểu phong trào không tính đến khả năng của thị trờng để có bớc đi
thích hợp, và một khi những bài học từ xi măng lò đứng, sản xuất giấy, nuôi hơu,
nuôi gà công nghiệp... cha đợc rút kinh nghiệm thì đầu t xã hội chắc chắn sẽ bị
lãng phí và vốn đầu t của ngân hàng đạt hiệu quả không cao.
1.2. Về phía ngân hàng nhà nớc:
1.2.1. Cần đợc chỉnh sửa các quy chế hiện hành có liên quan đến quy định bảo
đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh của các TCTD, về chế độ cổ phần cổ
phiếu...:
-Về Quy chế cổ đông, cổ phần, cổ phiếu... ban hành theo quyết định
275/QĐ-NH5 quy định phải có cổ đông là doanh nghiệp nhà nớc sở hữu ít
nhất10% vốn điều lệ của NHTMCP là cha hợp lý và không có tính thực tế vì sự
hiện diện ( thông qua việc góp vốn cổ phần) của DNNN tại một NHCP không phải
là điều kiện cần và đủ để đảm bảo cho sự vận hành lành mạnh, an toàn của ngân
hàng đó. Và chất lợng, kết quả hoạt động kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị
trờng phụ thuộc vào trình độ quản lý, điều hành chứ không phụ thuộc vào tính
chất vốn sở hữu. Hơn nữa, thực tế cho thấy hoạt động của các doanh nghiệp phần
lớn dựa vào vốn vay ngân hàng, nên việc tham gia góp vốn vào NHTMCP là
không có khả năng thực thi. Ngoài ra, DNNN không thể tự ý dùng vốn ngân sách
để tham gia cổ phần vào một ngân hàng mà phải đợc phép của Bộ Tài chính.
Đây là vấn đề cần có chủ trơng thống nhất của các nghành có liên quan,
chứ bản thân NHTMCP và DNNN không đơn phơng thực hiện đợc...
Cơ sở quy định số lợng cổ đông tối thiểu là 35 cổ đông cũng cần phải đợc
thời, độ tin cậy thấp, không đầy đủ nên không đủ cơ sở để đánh giá đúng thực
trạng tài chính của doanh nghiệp. Hơn nữa, cần phải có một quy chế đối với các
NHTM quy định về việc buộc phải cung cấp thông tin, xác nhận d nợ của doanh
nghiệp cũng nh việc buộc phải sử dụng thông tin do Trung tâm thông tin tín dụng
cung cấp.
2. Những giải pháp ở tầm vi mô :
2.1.Về phía các tổ chức kinh tế có quan hệ tín dụng với NH:
2.1.1. Tốc độ tăng vốn điều lệ, vốn tự có của đa số các doanh nghiệp đã không
theo kịp tốc độ phát triển của nền kinh tế nói chung và tốc độ phát triển của doanh
nghiệp nói riêng. Do vậy theo số liệu ớc tính của các chuyên gia, tính đến hết
31/12/1996, tổng d nợ vốn huy động, vốn vay của hơn 6000 DNNN đã gấp 1,7 lần
vốn ngành tài chính giao. Trong đó, các DNNN ngành khách sạn đã vay gấp 10,8
lần vốn điều lệ; ngành vận tải bu điện gấp 10,7 lần; kinh doanh bất động sản gấp
8,8 lần; xây dựng gấp 3,6 lần; nông nghiệp gấp 2,5 lần và ngành thuỷ sản đã vay
gấp 2 lần vốn điều lệ. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng không nằm
ngoài tình trạng này.
Tỷ lệ vay vốn cao kích thích tăng trởng nhng cũng làm cho doanh nghiệp
trở nên không ổn định về mặt tài chính và các doanh nghiệp trở nên rất dễ bị th-
ơng tổn khi tình hình kinh doanh có biến động. Tình trạng này làm cho các ngân
hàng gặp khó khăn trong việc thẩm định, chọn lọc các dự án để tiến hành cho vay,
trong việc giám sát khách hàng về việc họ có sử dụng khoản vay đúng mục đích
hay không và trên thực tế, các doanh nghiệp cũng có khuynh hớng sử dụng sai
mục đích các khoản vay để đắp chỗ này bù chỗ kia.
Ngoài ra, các doanh nghiệp còn phải đơng đầu với tình trạng trình độ công
nghệ kỹ thuật sản xuất lạc hậu, thiếu thị trờng tiêu thụ, thiếu máy móc
thiết bị tiên tiến...
2.1.2. Nâng cao trình độ năng lực quản lý của ngời điều hành:
Hầu hết các quản trị viên của các doanh nghiệp đều không qua đào tạo cơ bản,
năng lực, trình độ và kinh nghiệm quản lý sản xuất kinh doanh thấp và bất cập.
Các nhà quản lý doanh nghiệp quốc doanh thì thờng trởng thành trong thực tiễn