(Luận văn thạc sĩ) Xác định tỷ lệ mắc sốt rét và thực trạng sử dụng thuốc tự điều trị sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã Đak R Mang huyện Đăk Glong tỉnh Đăk Nông năm 2010 - Pdf 69

B GIO DC V O TO
TRNG I HC TY NGUYấN

----------------------------

NGUYN C HO

Xác định tỷ lệ mắc và thực trạng sử dụng
thuốc tự điều trị sốt rét cho ngời ngủ rẫy
tại xã Đak r măng, huyện Đak glong,
tỉnh Đak nông năm 2010

LUN VN THC S Y HC

Buụn Ma Thut, nm 2010


B GIO DC V O TO
TRNG I HC TY NGUYấN

----------------------------

NGUYN C HO

Xác định tỷ lệ mắc và thực trạng sử dụng
thuốc tự điều trị sốt rét cho ngời ngủ rẫy
tại xã Đak r măng, huyện Đak glong,
tỉnh Đak nông năm 2010

Chuyờn ngnh : Ký sinh trựng Cụn trựng
Mó s

:

Di cư tự do

DHA

:

Dihydroartemisinin

KAP

:

Knowlegde - Attitude - Practice

KST

:

Ký sinh trùng

KSTSR

:

Ký sinh trùng sốt rét

MT-TN


:

Phòng chống sốt rét

PH

:

Phối hợp (P.f +P.v)

SL

:

Số lượng

SR

:

Sốt rét

SRLH

:

Sốt rét lưu hành

SRLS


:

Xét nghiệm

YTTB

:

Y tế thôn bản


1

Biểu ñồ trong luận văn
Biểu ñồ 3.1. Tỷ lệ nhiễm KST SR ë cộng ñồng d©n ngñ rÉy
Biểu ñồ 3.2. Tỷ lệ giao bào và lách sưng qua ñiều tra tại ñiểm nghiên cứu
Biểu ñồ 3.3. Cơ cấu KST SR ở cộng ñồng dân ngủ rẫy
Biểu ñồ 3.4. Tỷ lệ biểu hiện sốt ở các trường hợp nhiễm KSTSR
Biểu ñồ 3.5. Tỷ lệ nhiễm KSTSR theo giới.
Biểu ñồ 3.6. Tỷ lệ ñến nhận thuốc tự ñiều trị của người dân ngủ rẫy
Biểu ñồ 3.7. Tỷ lệ các loại thuốc tự ñiều trị người dân nhận khi ngủ rẫy
Biểu ñồ 3.8. Tỷ lệ nam và nữ ñến nhận thuốc tự ñiều trị khi ngủ rẫy
Biểu ñồ 3.9. Nơi ñến nhận thuốc tự ñiều trị sốt rét của người dân khi ñi ngủ rẫy
Biểu ñồ 3.10. Nguyên nhân không uống thuốc tự ñiều trị ñủ liều


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các dữ
liệu và kết quả trong Luận văn là trung thực và chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.

rét tăng từ 60.426 ca mắc năm 2008 lên 60.867 ca mắc năm 2009; số chết do
sốt rét năm 2009 tăng 1 ca so với năm 2008 (từ 25 ca tăng lên 26 ca tử vong),
số ký sinh trùng sốt rét ñược xác ñịnh năm 2009 là 16.130 ca tăng 42% so với
năm 2008 (11.355). Các số liệu trên cho thấy tình hình sốt rét có chiều hướng


2

gia tăng trở lại, nguy cơ dịch sốt rét có thể xảy ra nếu không có các biện pháp
khống chế tích cực [36]
So sánh với khu vực khác, công tác phòng chống bệnh sốt rét của miền
Trung-Tây Nguyên vẫn có nhiều khó khăn hơn. Tại khu vực này, năm 2009
số bệnh nhân sốt rét tăng 14,61%, tử vong tăng 2 ca, số ký sinh trùng sốt rét
tăng 55,72% so với năm 2008. Nhiều vùng ở khu vực miền Trung-Tây
Nguyên do các khó khăn về màng lưới y tế, giao lưu biên giới, di biến ñộng
dân số, hoạt ñộng ñi rừng, ngủ rẫy ñó làm cho tình hình sốt rét một số vùng
của khu vực không ổn ñịnh, có diễn biến phức tạp [32], [33], [34].
Một số nghiên cứu về sốt rét trong thời gian gần ñây cho thấy nhóm có
nguy cơ mắc sốt rét cao là những người thường xuyên có hoạt ñộng và ngủ
trong rừng, trong rẫy. Số tử vong và mắc bệnh do sốt rét sốt rét ở những
người ngủ rừng, ngủ rẫy chiếm tỷ lệ ñáng kể trong tổng số ca tử vong và bệnh
nhân sốt rét hàng năm trên toàn quốc. Các nghiên cứu mới ñây ở miền Trung
ñã chứng minh rằng những người thường xuyên ngủ trong rừng có nguy cơ
nhiễm sốt rét cao hơn 2-4 lần so với những người khác và mức ñộ tiếp xúc
giữa người với véc tơ sốt rét trong rừng cao hơn khoảng 10-20 lần so với
trong khu dân cư [10], [13], [26], [37].
Hoạt ñộng phun tồn lưu và tẩm màn với hoá chất diệt muỗi là các biện
pháp chính ñược sử dụng ñể phòng chống véc tơ sốt rét ở Việt Nam. Cả hai
biện pháp này ñều có hiệu quả cao trong phòng chống sốt rét cho những
người sinh sống cố ñịnh ở khu vực dân cư. Ngược lại, ñể phòng chống sốt rét

nay trên thế giới có khoảng 247 triệu ca mắc bệnh sốt rét (SR) trong số 3,3 tỷ
người sống trong vùng nguy cơ mắc bệnh, nguyên nhân của 1 triệu người
chết, phần lớn là trẻ em dưới 5 tuổi. Năm 2008 có 109 nước có sốt rét lưu, 45
nước thuộc khu vực Châu Phi-WHO. Các biện pháp kiểm soát bệnh sốt rét
tổng hợp ñang triển khai hiện nay bao gồm tẩm màn với hóa chất tồn lưu kéo
dài, hóa trị liệu phối hợp kết hợp với phun tồn lưu trong nhà và ñiều trị dự
phòng cho phụ nữ có thai [50], [51].
Mặc dù ñã có sự hỗ trợ rất lớn về màn tẩm, ñặc biệt cho Châu Phi,
nhưng vẫn còn lâu nữa mới ñáp ứng ñược cho toàn thế giới.
Việc cung cấp thuốc sốt rét thông qua các dịch vụ y tế công cộng ñã
tăng ñáng kể nhưng sự tiếp cận với ñiều trị, ñặc biệt với các thuốc phối hợp
(Artemisinin based combination Therapy-ACT) vẫn còn khó khăn.
Kết quả ñiều tra hộ gia ñình tại 18 quốc gia Châu Phi cho thấy chỉ 34%
hộ có 1 màn tẩm hóa chất, 23% trẻ em và 27% phụ nữ có thai ngủ màn, 38%
trẻ em sốt ñược ñiều trị với thuốc sốt rét nhưng chỉ có 3% với các thuốc ACT;
18% phụ nữ có thai ñược ñiều trị dự phòng. Chỉ có 5 quốc gia Châu Phi báo
cáo ñộ bao phủ phun tồn lưu bảo vệ cho 70% dân số trong vùng nguy cơ.
Ngoài Châu Phi, ñộ bao phủ của can thiệp khó ñánh giá ñược bởi vì các ñiều
tra hộ gia ñình không ñược thực hiện thường xuyên, các biện pháp bảo vệ chỉ
nhằm vào ñối tượng nguy cơ cao, Chương trình phòng chống sốt rét quốc gia


5

không báo cáo ñầy ñủ về chẩn ñoán và ñiều trị ở các cơ sở y tế tư nhân [50],
[51].
Trong khi mối liên kết giữa can thiệp và tác ñộng của kiểm soát sốt rét
không rõ ràng, ít nhất có 7/45 nước ở Châu Phi nơi có giám sát tốt và ñộ bao
phủ cao ñã làm giảm 50% hoặc hơn số mắc và chết vào năm 2006/2007 so với
năm 2000.

khắp mọi nơi nhất là ở các nước ñang phát triển. Thủy lợi, nông nghiệp trồng
rừng làm thay ñổi môi trường, vi khí hậu biến ñổi những vùng trước ñây
không có SR hoặc ít nay lại quay trở lại. Sự di biến ñộng dân cư, chiến tranh,
di dân ñi khai hoang, kinh tế mới, lấn chiếm rừng, du canh du cư của ñồng
bào các dân tộc, khách du lịch, tìm trầm ñãi vàng...khi không ñược bảo vệ làm
cho tình hình SR càng thêm nghiêm trọng. Nhiều nước phải chịu chấp nhận
SR quay trở lại.
- Kinh tế của nhiều quốc gia còn nghèo, thu nhập bình quân của người
dân còn thấp, môi trường sinh thái thay ñổi do chiến tranh, di biến ñộng dân
cư, du lịch, du canh, du cư của ñồng bào các dân tộc, khai thác lâm khoáng
sản ñược ñầu tư thực hiện ở nhiều vùng, nhất là ở các nước ñang phát triển,
nhưng việc thực hiện các biện pháp PCSR chưa ñược chủ ñộng, kém hiệu quả
làm cho tình hình SR càng thêm nghiêm trọng do ñó bệnh SR ñã quay trở lại
tại nhiều vùng, lãnh thổ của nhiều quốc gia trên thế giới .
- Hệ thống y tế, ñặc biệt y tế cơ sở còn thiếu và yếu, cán bộ làm công
tác vệ sinh phòng dịch cũng như PCSR của ñịa phương không ñủ về số lượng
và chưa ñạt về chất lượng. Đối với bệnh SR, cán bộ y tế cơ sở còn nhiều khó
khăn trong chẩn ñoán và ñiều trị, chỉ dựa chủ yếu vào triệu chứng lâm sàng ñể
chẩn ñoán, không có xét nghiệm (XN) hoặc XN chưa kịp thời ñể phát hiện
KSTSR trong máu của bệnh nhân, ñặc biệt khi gặp những trường hợp bệnh


7

SR có triệu chứng lâm sàng không ñiển hình thì rất khó khăn trong việc chẩn
ñoán và ra quyết ñịnh ñiều trị [15] .
- Hiện nay, một trong những khó khăn mà chương trình phòng chống
sốt rét các nước trên thế giới trong ñó có cả Việt Nam ñang gặp khó khăn ñó
là các biện pháp can thiệp áp dụng cho dân di biến ñộng (di cư tự do, ñi rừng,
ngủ rẫy). Các biện pháp thường quy áp dụng với cộng ñồng dân ổn ñịnh hầu

vậy xây dựng, củng cố y tế cơ sở, huấn luyện cho y tế cơ sở về SR ñược xem
là một nhiệm vụ rất quan trọng ñể ñạt ñược các mục tiêu của chương trình
PCSR [23].
Trong những năm gần ñây, nhờ sự ñầu tư kinh phí và áp dụng các biện
pháp ñặc biệt là sự ra ñời của artemisinine và các dẫn xuất nên tình hình sốt
rét có xu hướng giảm xuống. Năm 2006, cả nước chỉ có 41 TVSR, khu vực
MT-TN có 25 TVSR [33], [35].
Mặc dù tình hình sốt rét giảm nhưng các số liệu thống kê và phân tích
cho thấy, số TVSR khu vực MT-TN luôn luôn cao so với các khu vực khác.
Từ năm 1997 ñến nay số TVSR khu vực này luôn chiếm tỷ lệ >70% so với
tổng số TVSR cả nước, riêng năm 2002 tỷ lệ này chiếm ñến 97,73%, năm
2003 chiếm 73,08% [32], [33], [34].
Như vậy sốt rét ở MT-TN, ñặc biệt các tỉnh Tây Nguyên vẫn là vấn ñề
ảnh hưởng ñến sức khoẻ cả người dân và sự phát triển kinh tế xã hội ở khu
vực này nếu không có các giải pháp ưu tiên.
Trong giai ñoạn 2001-2005, mặc dù có nhiều khó khăn như trên nhưng
công tác phòng chống sốt rét của khu vực MT-TN vẫn ñạt ñược các mục tiêu
ñề ra. So sánh với năm 2001, số BNSR năm 2005 giảm 62,47%; số SRAT
giảm 73,00%; TVSR giảm 82,89%, tỷ lệ KSTSR giảm 68,74%, không có dịch
sốt rét xảy ra từ 2001-2005. Đối chiếu với các chỉ số mục tiêu ñề ra năm 2001


9

thì cho ñến năm 2005, các chỉ số mục tiêu sốt rét ñều ñạt và vượt. Đặc biệt
không có dịch sốt rét xảy ra từ 2001-2005 [33].
Từ năm 2006 ñến 2007 tỷ lệ mắc bệnh và tử vong tại khu vực miền
Trung-Tây Nguyên tiếp tục giảm nhưng từ năm 2008-2009 do tác ñộng của
nhiều nguyên nhân khác nhau ñặc biệt là thiên tai, lũ lụt hạn hán kéo dài dưới
ảnh hưởng của biến ñổi khí hậu tình hình sốt rét có diễn biến phức tạp. Số

tạm bợ ñể tiện việc làm ăn hoặc thu hoạch trong thời gian từ một tuần ñến
một tháng, nên khả năng nhiễm bệnh cao.
Vấn ñề bảo vệ cho dân ngủ rẫy hết sức khó khăn vì các biện pháp phun
hóa chất diệt muỗi chỉ thực hiện ñược cho nhà ở cố ñịnh trong làng, biện pháp
tẩm màn cũng không phù hợp vì diện tích nhà rẫy quá nhỏ cho nên không thể
treo màn, biện pháp quản lý ñiều trị cũng rất khó thực hiện vì nhà rẫy rải rác
khắp nơi trong rừng sâu nên số mắc và số tử vong sốt rét ở dân ngủ rẫy chiếm
tỷ lệ cao [10], [11], [13], [16].
Những hoạt ñộng này làm gia tăng tỷ lệ nhiễm bởi vì hiệu quả bảo vệ
bằng các biện pháp cho ñối tượng này rất khó khăn:
- Phun tồn lưu hoá chất tại nhà, nhưng họ không ở nhà mà ñi ngủ trong
rẫy và trong rừng.
- Thói quen không ngủ màn tại nhà rẫy càng làm tăng thêm nguy cơ
nhiễm bệnh.
- Khi bị SRAT vận chuyển và cấp cứu rất khó khăn, nên tử vong rất cao.
Tình hình dân di biến ñộng nổi bật nhất tại khu vực miền Trung-Tây
Nguyên, số dân di cư diễn biến rất phức tạp ñã ảnh hưởng rất lớn ñến công tác
phòng chống sốt rét tại khu vực này. Từ năm 2000 ñến nay ñặc biệt năm
2003, tình hình dân di biến ñộng, rầm rộ nhất là sự DCTD của ñồng bào dân
tộc phía Bắc vào sống tại các vùng rừng núi Tây Nguyên cũng như hoạt ñộng


11

ñi rừng ngủ rẫy của người dân làm cho tình hình sốt rét càng phức tạp, ñặc
biệt số tử vong tăng cao ñáng kể [8], [9], [32]
Tình trạng dân di cư tự do ñó xảy ra nhiều năm trước nhưng rầm rộ
nhất trong những năm gần ñây. Trước ñây di biến ñộng dân thường có tổ chức
và ñược quản lý chặt chẽ trược khi ñi và khi ñến nơi ở, theo dạng dân ñi kinh
tế mới hoặc dân ñi vào các công, nông, lâm trường. Tuy nhiên thường nơi ñến

mắc bệnh và tử vong do sốt rét rất cao.
Tại các vùng biên giới (Việt-Lào, Việt-Campuchia) giao lưu biên giới
làm cho nguy cơ lan truyền sốt rét tiếp diễn và phức tạp. Việc kiểm dịch biên
giới tập trung tại các cửa khẩu, nhưng sự giao lưu và nhiễm bệnh lại chủ yếu
thông qua các ñường tiểu ngạch, nên rất khó khăn trong việc quản lý BNSR.
Phân tích số liệu BNSR nhiều năm tại huyện Hướng Hoá (Quảng Trị) nơi có
hoạt ñộng giao lưu giữa cộng ñồng người Việt và Lào cho thấy số mắc bệnh
do qua Lào là rất cao. Một số bệnh nhân mắc bệnh sau khi ñi qua Lào trở về,
một số là người Lào mắc bệnh ñược y tế xã quản lý, một số nhiễm từ các
vùng SRLH khác nhau [13], [21], [22], [34].
Tóm lại ñối với dân di biến ñộng (ñi rừng, ngủ rẫy, giao lưu biên
giới...), hệ thống y tế khó tiếp cận ñối với những ñối tượng này, giao thông ñi
lại khó khăn các biện pháp phòng chống hiện nay vẫn chưa hiệu quả, nguy cơ
gia tăng mắc và tử vong do sốt rét ở những ñối tượng này rất cao, cần nghiên
cứu những biện pháp có hiệu quả hơn.
1.3. Một số nghiên cứu sốt rét và phòng chống sốt rét cho dân di biến
ñộng, ñi rừng ngủ rẫy
Một số nghiên cứu trong những năm gần ñây cho thấy sự di biến ñộng
dân số ñó làm gia tăng nguy cơ mắc và lan truyền sốt rét trong cộng ñồng.
Báo cáo của Pim Martens and Lisbeth Hall năm 2000 về “Sốt rét ñang
di chuyển: Biến ñộng dân cư và lan truyền sốt rét “ cho thấy sốt rét ñang gia
tăng ở nhiều nước và ở một số vùng dù bệnh sốt rét ñã hết lưu hành. Một
trong những yếu tố góp phần vào sự gia tăng trở lại này là do sự di biến ñộng
dân ñến ñịnh cư ở những vùng ñất khác do nhiều lý do như: do kinh tế, do


13

xung ñột, do thiên tai....Xác ñịnh và hiểu ñược ảnh hưởng của sự di dân này
có thể cải thiện ñược các biện pháp phòng chống sốt rét. Ở các nước ñang

mới có 28 vụ (17,53%), Tây Nguyên có 25/53 vụ, miền Trung 3/102 vụ [23].
Bên cạnh nguy cơ sốt rét ở nhóm dân di cư tự do, hoạt ñộng ñi rừng ngủ
rẫy khó kiểm soát là một trong những thách thức ñối với công tác phòng
chống sốt rét trong giai ñoạn hiên nay và thời gian ñến. Mặc dù tỷ lệ mắc và
tử vong giảm, nhưng nguy cơ gia tăng sốt rét vẫn tiềm ẩn tại nhiều vùng vẫn
còn cao, ñặc biệt là tại các vùng có dân có hoạt ñộng ñi rừng ngủ rẫy. Tại
những vùng này hệ thống y tế không thể tiếp cận ñược, không ñủ khả năng
phát hiện và quản lý bệnh nhân. Trong khi ñó mầm bệnh và vectơ lan truyền
vẫn tồn tại, các biện pháp bảo vệ khó ñảm bảo hiệu quả tuyệt ñối bảo vệ cho
các cộng ñồng này.
Kết quả ñiều tra của Viện sốt rét-KST-CT Quy Nhơn tại một số cộng
ñồng dân ngủ rẫy ở xã Đak Rin, Ngọc Lây (Kon Tum); Ia O (Gia Lai); Sơn
Thái, Khánh Thượng (Khánh Hòa); xã Thanh (Quảng Trị) cho thấy tỷ lệ
nhiễm từ trên 6,80% có nơi ñến 29,77%. Tại những vùng này ñều phát hiện có
mặt các vectơ chính lan truyền bệnh như An.minimus, An.dirus [10], [13].
Một nghiên cứu khác nhằm xác ñịnh tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét
ở cộng ñồng dân ngủ rẫy và ñánh giá tỷ lệ người ngủ rẫy nhận thuốc và sử
dụng thuốc tự ñiều trị ñược tiến hành tại 3 xã (Thanh-Quảng Trị, Trà DonQuảng Nam, Ia O-Gia Lai) cho thấy tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét ở người
dân ngủ rẫy rất cao: 9,90% (95% CI: 7,66%-12,54%). Tại xã Thanh
P.falciparum chiếm 75%, xã Ia O loài P.falciparum chiếm 86,36% và tại xã
Trà Don loài P.falciparum chiếm tỷ lệ là 52,63% [13].
Như vậy cho ñến nay tỷ lệ nhiễm KSTSR ở nhóm dân ngủ rẫy là rất
cao, hơn nữa các biện pháp hiện nay ñể bảo vệ cho người ñi rừng ngủ rẫy
chưa ñược xác ñịnh rõ và cũng chưa ñược ñánh giá ñầy ñủ.


15

Nghiên cứu của Annette Erhart (2004) về sốt rét rừng ở Bình Thuận,
Việt Nam cho thấy hoạt ñộng ñi rừng và ngủ trong rừng là yếu tố nguy cơ

Từ năm 2003 ñến nay, Chương trình PCSR Việt Nam ñề nghị biện
pháp cấp thuốc tự ñiều trị cho người ñi rừng ngủ rẫy xa cơ sở y tế, biện pháp
này ñó ñược Bộ y tế ban hành trong hướng dẫn phác ñồ chẩn ñoán và ñiều trị
sốt rét năm 2003 [2], [3], [4].
Sau năm 2003 ñó có một số nghiên cứu về hiệu quả của biện pháp
này. Năm 2006-2007, một ñiều tra nhằm bước ñầu ñánh giá thực trạng sử
dụng thuốc tự ñiều trị tại một số xã thuộc khu vực miền Trung-Tây Nguyên
cho thấy tỷ lệ nhận thuốc tự ñiều trị là 58,12%. Phân tích cho thấy CV8 ñược
cấp với tỷ lệ 61,73%, artesunat ñược cấp với tỷ lệ 25,59%, chloroquin ñược
cấp với tỷ lệ 12,29% ; người dân ñi ngủ rẫy ñến nhận thuốc ở y tế thôn bản
chiếm tỷ lệ 72,07% cao hơn so với ñến Trạm y tế xã (27,93%). Tỷ lệ người
dân ngủ rẫy có uống thuốc tự ñiều trị là 37,11%. Đối với CV8 và chloroquine:
25,26% uống ñủ 3 ngày, với artesunat không có trường hợp nào uống thuốc
ñủ 7 ngày. Nguyên nhân không uống ñủ liều: 50,56% không uống tiếp do hết
sốt, 26,97% trở về nhà uống tiếp ; 14,61% không nhớ và 7,87% không muốn
uống tiếp [13], [14].
Một số nước trên thế giới có sốt rét lưu hành, biện pháp tự ñiều trị tại
nhà cũng ñược áp dụng những người khó tiếp cận y tế.
Tự ñiều trị là biện pháp quan trọng ñể quản lý sốt rét, và rất cần thiết
tại các khu vực nông thôn Ethiopia. Một ñánh giá về sử dụng thuốc tự ñiều trị
và tự quản lý bệnh sốt rét trên 630 hộ gia ñình có bệnh nhân sốt rét trong 6
tháng từ tháng 1-9 năm 1999 ñược chọn ngẫu nhiên ở huyện Butajira,
southern Ethiopia, cho thấy >97% hộ quản lý sốt rét ở nhà, 17.8% hộ sử dụng
thuốc sốt rét ở nhà, 46.7% hộ ñến cơ sở y tế sau khi uống thuốc ở nhà, 33,3%
hộ ñưa bệnh nhân ñến cơ sở y tế khi chưa có ñiều trị ở nhà. Thuốc sử dụng


17

bao gồm chloroquine (457, 73.5%) and sulfadoxine–pyrimethamine (377,

nước Anh ñề cập ở trên người ta ñề nghị nên hướng dẫn sử dụng thuốc sốt rét
cho những người ñi du lịch ñến vùng sâu, vùng xa không thể tiếp cận với cán
bộ y tế trong vòng 24 giờ. Thuốc tự ñiều trị ñược cấp cho những người ñi du
lịch ñể tự ñiều trị khi họ nghi mình bị sốt rét. Họ nên ñược thông tin ñầy ñủ
ñể ñiều chỉnh khi sử dụng thuốc tự ñiều trị sốt rét [43]
Tổ chức y tế thế giới cũng có hướng dẫn sử dụng thuốc khẩn cấp cho
những người ñi du lịch khi họ nghi mình bị nhiễm sốt rét. Trong hướng dẫn
này nếu 1 người có biểu hiện sốt 1 tuần hoặc hơn sau khi vào vùng sốt rét nên
ñược bác sỹ tư vấn hoặc xét nghiệm máu ñể có chẩn ñoán ñúng và ñiều trị an
toàn, hiệu quả.. Nhiều người ñi du lịch không thể tiếp cận ñược dịch vụ y tế,
ñặc biệt nếu họ tiếp tục ở lại (1tuần hoặc hơn sau khi vào vùng sốt rét) ở vùng
sâu, xa, trong những trường hợp như vậy, nên mang theo thuốc sốt rét ñể tự
ñiều trị. Sự lựa chọn tùy theo từng vùng có kháng hay không [43], [47], [49].
Tại Việt Nam cấp thuốc tự ñiều trị ñã ñược khuyến cáo sử dụng trong
chương trình phòng chống sốt rét từ năm 2003 ñể giảm tác hại của bệnh sốt
rét ở ñối tượng ñi rừng, ngủ rẫy. Tuy nhiên hiện nay chưa có nhiều ñánh giá
thực trạng sử dụng và hiệu quả của biện pháp này cho ñối tượng là người ñi
rừng ngủ rẫy.
Trong phác ñồ hướng dẫn năm 2003, Bộ y tế cho phép sử dụng thuốc tự
ñiều trị như là giải pháp khống chế thiệt hại và giảm số tử vong cho người
ngủ rẫy khi mắc bệnh sốt rét. Biện pháp này là “Cấp thuốc tự ñiều trị cho
người vào vùng sốt rét lưu hành và xa cơ sở y tế ñể họ tự ñiều trị khi bị sốt
nghi sốt rét (dân ñi rừng ngủ rẫy, cán bộ, bộ ñội ñi công tác vào vùng sốt rét
lưu hành...), cán bộ y tế hướng dẫn ñiều trị khi cấp thuốc, theo dõi kết quả sử
dụng khi họ trở về”. Tuy nhiên trong hướng dẫn năm 2003, chưa nêu cụ thể


19

tuyến nào ñược phép cấp thuốc, cũng như cấp loại thuốc nào chưa ñược nêu

thế giới -WHO ñã xác ñịnh tính ưu tiên hàng ñầu ñể phát triển các dẫn xuất có
tác dụng nhanh của artemisinin nhằm ñiều trị sốt rét ác tính thể não cũng như
kiểm soát các trường hợp sốt rét P. falciparum ña kháng thuốc [45], [46],
[50], [51].
Đến năm 2004, Tổ chức y tế thế giới mới chính thức công nhận
artemisinin là loại thuốc kỳ diệu, thay thế ñược nhiều loại thuốc sốt rét không
còn tác dụng chữa bệnh sốt rát ác tính. Hiện nay, artemisinin ñược sử dụng
trên toàn thế giới, ñặc biệt là Châu Phi, nơi hàng năm có gần 1 triệu người
chết vì bệnh sốt rét.
Hiện nay tình hình sốt rét kháng thuốc lan rộng với một số thuốc sốt rét
vốn lâu nay rất ñặc hiệu (mefloquine, chloroquin, quinine,…) không những
một vùng ñơn thuần mà lan rộng khắp toàn cầu; ngay cả thuốc có hiệu quả
nhất hiện nay trong ñiều trị sốt rét là artemisinine và các dẫn suất cũng ñó
sớm bắt ñầu có hiện tượng giảm nhạy, và ñó có một số báo cáo trên thế giới
về sự xuất hiện một số ca không còn ñáp ứng thuốc artesunate nữa. Trước tình
hình nguy cơ sốt rét kháng thuốc ñe dọa toàn cầu, Tổ chức y tế thế giới ñề
nghị không nên quảng cáo, sản xuất thuốc sốt rét loại artesunate dưới dạng
ñơn trị liệu nữa và chuyển sang dùng phác ñồ thuốc phối hợp dựa trên nền có
gốc artemisinin Một trong số các phối hợp ñó, Tổ chức y tế thế giới ñánh giá
cao hoặc khuyến cáo dùng loại thuốc ACT gồm thuốc artemisinine +
piperaquine hoặc dihydroartemisinin + piperaquine với các biệt dược hiện
ñang có mặt trên thị trường là Artequick, Artekin, Arterakine, CV
artecan,…[20], [44], [45], [48].
Hợp chất có artemisinin là một nhóm thuốc sốt rét mới có ñặc ñiểm
sinh ra một ñáp ứng rất nhanh trong cơ thể bệnh nhân, chống lại sốt rét do ký
sinh trùng P.falciparum ña kháng thuốc, thuốc dung nạp tốt và có tiềm năng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status