xác định tỉ lệ mắc và thực trạng sử dụng thuốc sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã đăkrmăng, huyện đăk glong, tỉnh đăk nông - Pdf 14

B GIO DC V O TO
TRNG I HC TY NGUYấN NGUYN C HO

Xác định tỷ lệ mắc và thực trạng sử dụng
thuốc tự điều trị sốt rét cho ngời ngủ rẫy

tại xã Đak r măng, huyện Đak glong,
tỉnh Đak nông năm 2010
LUN VN THC S Y HC




LUN VN THC S Y HC NGI HNG DN KHOA HC : TS. H VN HONG Buụn Ma Thut, nm 2010

Những chữ viết tắt trong luận văn
ACT : Trị liệu artemisin phối hợp
(Artemisinin based combination Therapy)
BNSR : Bệnh nhân sốt rét
CI 95% : Khoảng tin cậy 95% (Confidence Interval 95%)
DCTD : Di cư tự do
DHA : Dihydroartemisinin
KAP : Knowlegde - Attitude - Practice
KST : Ký sinh trùng
KSTSR : Ký sinh trùng sốt rét
MT-TN : Miền Trung-Tây Nguyên
NVYT : Nhân viên y tế
PPQ : Piperaquin
P.f : Plasmodium falciparum
P.v : Plasmodium vivax
PCSR : Phòng chống sốt rét
PH : Phối hợp (P.f +P.v)
SL : Số lượng


Ký tên Nguyễn Đức Hảo

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sốt rét vẫn là một bệnh xã hội phổ biến ở nhiều nước trên thế giới
và những vùng nhiệt ñới như Việt Nam, ảnh hưởng lớn ñến sức khỏe con
người và thiệt hại to lớn về kinh tế, xã hội [23], [34], [36], [50], [51].
Hiện nay tình hình sốt rét nhiều vùng trên thế giới giảm, nhưng nguy cơ
mắc sốt rét ở một số khu vực có ảnh hưởng của xung ñột, ñói nghèo, ñặc biệt
tại các vùng có dân giao lưu với rừng hoặc có hoạt ñộng ñi rừng, ngủ rẫy là
rất ñáng quan tâm [8], [12], [30], [36], [39] .
Chương trình phòng chống sốt rét ở Việt Nam từ 1991 ñến nay mặc dù
có những thành công ñáng kể trong việc khống chế sự gia tăng cũng như giảm
thiệt hại do ảnh hưởng của bệnh sốt rét ñến sức khỏe con người, nhưng công
tác phòng chống sốt rét vẫn tiếp tục ñối mặt với một số khó khăn và thách
thức [23], [34], [36].
Trong những năm qua, tỷ lệ mắc sốt rét và tử vong do sốt rét ở Việt
Nam ñã giảm ñáng kể. Tuy vậy, kết quả phòng chống sốt rét là chưa bền vững
và bệnh sốt rét vẫn còn là vấn ñề y tế quan trọng và ñe doạ sức khỏe của
người dân vùng rừng núi, ñặc biệt ở vùng có dân di biến ñộng, ñi rừng, ngủ
rẫy. Di biến ñộng dân cư kết hợp với các yếu tố tự nhiên khác góp phần làm
cho sự lan truyền sốt rét vẫn tiếp tục duy trì một cách dai dẵng ở nhiều nơi,
ñồng thời làm cho sốt rét quay trở lại ở một số ñịa phương mà trước ñó không
còn sốt rét [24], [34], [36].
Theo thống kê của Viện Sốt rét KST-CT Trung ương, số bệnh nhân sốt
rét tăng từ 60.426 ca mắc năm 2008 lên 60.867 ca mắc năm 2009; số chết do

ngủ rẫy.
3
Cấp thuốc tự ñiều trị sốt rét ñã ñược chương trình Quốc gia phòng
chống sốt rét ñề xuất từ năm 2003 nhằm hạn chế tử vong do sốt rét khi người
dân ở xa cơ sở y tế không có khả năng tiếp với hệ thống ñiều trị [2], [3], [4].
Tuy nhiên, cho ñến nay thực trạng sử dụng thuốc tự ñiều trị như thế nào
thì chưa ñược ñánh giá ñầy ñủ. Đề tài : “Xác ñịnh tỷ lệ mắc sốt rét và thực
trạng sử dụng thuốc tự ñiều trị sốt rét cho người ngủ rẫy tại xã Đak R
Mang, huyện Đak Glong, tỉnh Đak Nông năm 2010” là rất cần thiết trong
giai ñoạn hiện nay nhằm 2 mục tiêu:
1. Xác ñịnh tỷ lệ mắc sốt rét của người dân ngủ rẫy tại xã Đak R Mang,
huyện Đak Glong, tỉnh Đak Nông năm 2010.
2. Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc tự ñiều trị sốt rét cho người ngủ
rẫy tại xã Đak R Mang, huyện Đak Glong, tỉnh Đak Nông năm 2010.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình sốt rét và những khó khăn của công tác PCSR trên thế giới

hơn 50% trong khoảng thời gian 2000-2006. Tuy nhiên cần có các ñiều tra cụ
thể hơn nữa ñể xác nhận tại 29 quốc gia này có các biện pháp kiểm soát bệnh
hiệu quả ñể giảm gánh nặng bệnh vào năm 2010 [51]
Mặc dù chương trình tiêu diệt sốt rét (TDSR) trong những năm ñầu có
những thành công ñáng kể, nhưng công cuộc chống bệnh SR ñã gặp những
thách thức và những khó khăn mới cản trở chương trình này. Chiến lược
phòng chống sốt rét (PCSR) mặc dù ñó khống chế số mắc và tử vong do sốt
rét nhưng hiện nay vẫn gặp nhiều khó khăn.
Các khó khăn trong PCSR hiện nay là :
- Khó khăn về chuyên môn kỹ thuật: P.falciparum kháng chloroquin và
ña kháng với hóa liệu pháp chống SR [19], [20], [23], [44], [48]. Muỗi
Anopheles kháng hóa chất diệt, thay ñổi sinh lý sinh thái, trú ẩn ngoài nhà,
nhưng ñốt máu trong nhà. Kể từ 1960 khi P.falciparum kháng chloroquin
ñược công bố tại Nam Mỹ (Brasil), Đông Dương (Thái Lan, Việt Nam) thì
hiện tượng kháng lan rộng ngày càng nhanh. Về kháng hóa chất của muỗi
Anopheles, 1946 chỉ có 2 loài Anopheles kháng DDT nhưng 1991 có 55 loài
kháng hóa chất. Trong số 55 loài kháng có 53 loài kháng với DDT, 27 loài
kháng với phospho hữu cơ, 17 loài kháng carbamate và 10 loài với
6
pyrethroides, 16 loài cho thấy kháng với 3 hoặc 4 loại hóa chất. Hiện tượng
kháng của Anopheles xuất hiện ở cả Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ.
- Khó khăn về kinh tế, xã hội, tài chính: Do thiên tai, dịch bệnh, chiến
tranh, và nền sản xuất chậm phát triển ở những quốc gia có SR, ñặc biệt là ở
các nước chậm phát triển và ñang phát triển ñã khiến thu nhập của nhiều quốc
gia còn rất thấp, thiếu kinh phí cho PCSR. Tình hình kinh tế, xã hội bất ổn,
thay ñổi môi trường sinh thái với những phương án phát triển kinh tế phổ biến
khắp mọi nơi nhất là ở các nước ñang phát triển. Thủy lợi, nông nghiệp trồng
rừng làm thay ñổi môi trường, vi khí hậu biến ñổi những vùng trước ñây
không có SR hoặc ít nay lại quay trở lại. Sự di biến ñộng dân cư, chiến tranh,
di dân ñi khai hoang, kinh tế mới, lấn chiếm rừng, du canh du cư của ñồng

ña số diện tích là rừng, núi ñồi có ñiều kiện thuân lợi cho bệnh SR phát triển,
có nhiều ñịa phương ở trong vùng sốt rét lưu hành (SRLH). Trong chiến lược
tiêu diệt sốt rét toàn cầu, chương trình TDSR ñã ñược tiến hành ở miền Bắc
và diệt trừ SR tại miền Nam từ 1958-1975. Sau ngày miền Nam ñược giải
phóng, cả nước thống nhất tiến hành thanh toán SR từ 1976-1990 và chuyển
sang chiến lựơc PCSR từ năm 1991 cho ñến nay [23].
So với các khu vực khác, miền Trung - Tây Nguyên (MT-TN) là khu
vực có sốt rét lưu hành nặng nhất so với các khu vực khác của cả nước, số
BNSR và TVSR của khu vực này thường chiếm tỷ lệ rất cao. Năm 1990,
thống kê cho thấy tại khu vực MT-TN có 137.435 bệnh nhân sốt rét (BNSR),
1.334 tử vong do sốt rét (TVSR). Số liệu thống kê cho thấy mặc dù BNSR,
TVSR giảm từ 1990 ñến nay nhưng tỷ lệ mắc và chết của khu vực này luôn
cao nhất so với các khu vực khác [23].
8
Trong giai ñoạn sau 1991 do tình hình SR quay trở lại và tăng cao trong
cả nước, ñặc biệt ở khu vực MT-TN, chiến lược PCSR ñược thực hiện ở Việt
Nam với mục tiêu là giảm mắc, giảm chết và khống chế dịch SR xảy ra.
Trong giai ñoạn này việc tích cực tổ chức thực hiện các biện pháp phát hiện,
chẩn ñoán và ñiều trị ñược xem là yếu tố quan trọng ñể giảm tử vong, thì
PCSR ñược xem là 1 nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban ñầu của y tế cơ sở, vì
vậy xây dựng, củng cố y tế cơ sở, huấn luyện cho y tế cơ sở về SR ñược xem
là một nhiệm vụ rất quan trọng ñể ñạt ñược các mục tiêu của chương trình
PCSR [23].
Trong những năm gần ñây, nhờ sự ñầu tư kinh phí và áp dụng các biện
pháp ñặc biệt là sự ra ñời của artemisinine và các dẫn xuất nên tình hình sốt
rét có xu hướng giảm xuống. Năm 2006, cả nước chỉ có 41 TVSR, khu vực
MT-TN có 25 TVSR [33], [35].
Mặc dù tình hình sốt rét giảm nhưng các số liệu thống kê và phân tích
cho thấy, số TVSR khu vực MT-TN luôn luôn cao so với các khu vực khác.
Từ năm 1997 ñến nay số TVSR khu vực này luôn chiếm tỷ lệ >70% so với

rẫy và ñi rừng dài ngày), vùng kinh tế khó khăn. Tại những vùng này hệ thống
y tế thiếu về số lượng và yếu về chất lượng không ñủ khả năng phát hiện và
quản lý bệnh nhân. Trong khi ñó mầm bệnh và vectơ lan truyền vẫn tồn tại,
các biện pháp bảo vệ khó ñảm bảo hiệu quả tuyệt ñối bảo vệ cho các cộng
ñồng này [7], [8], [9], [10], [11].
Đây là một trong những khó khăn mà công tác PCSR ñang phải tìm các
giải pháp hiệu quả. Nhiều cộng ñồng người dân tộc của các tỉnh Bình Định,
Khánh Hoà, Quảng Nam, Gia Lai, Kon Tum, Đak Lak, Đak Nông vẫn còn
10
hoạt ñộng làm nương rẫy, làm nhà rẫy và ngủ lại ñó trong thời gian mùa vụ.
Một số lớn người dân do nhiều khó khăn khác nhau nên ñi vào rừng khai thác
lâm thổ sản, chặt cây, tìm vàng [32], [31], [32].
Ngủ rẫy là thói quen canh tác phổ biến hiện nay của ñồng bào dân tộc
thiểu số các tỉnh Tây Nguyên và các huyện miền núi Trung Bộ trong các dịp
mùa vụ, trong mùa rẫy ñồng bào thường kéo cả nhà lên chòi rẫy chỉ ñược làm
tạm bợ ñể tiện việc làm ăn hoặc thu hoạch trong thời gian từ một tuần ñến
một tháng, nên khả năng nhiễm bệnh cao.
Vấn ñề bảo vệ cho dân ngủ rẫy hết sức khó khăn vì các biện pháp phun
hóa chất diệt muỗi chỉ thực hiện ñược cho nhà ở cố ñịnh trong làng, biện pháp
tẩm màn cũng không phù hợp vì diện tích nhà rẫy quá nhỏ cho nên không thể
treo màn, biện pháp quản lý ñiều trị cũng rất khó thực hiện vì nhà rẫy rải rác
khắp nơi trong rừng sâu nên số mắc và số tử vong sốt rét ở dân ngủ rẫy chiếm
tỷ lệ cao [10], [11], [13], [16].
Những hoạt ñộng này làm gia tăng tỷ lệ nhiễm bởi vì hiệu quả bảo vệ
bằng các biện pháp cho ñối tượng này rất khó khăn:
- Phun tồn lưu hoá chất tại nhà, nhưng họ không ở nhà mà ñi ngủ trong
rẫy và trong rừng.
- Thói quen không ngủ màn tại nhà rẫy càng làm tăng thêm nguy cơ
nhiễm bệnh.
- Khi bị SRAT vận chuyển và cấp cứu rất khó khăn, nên tử vong rất cao.

tướng Nguyễn Công Tạn tại Hội nghị bàn biện pháp giải quyết tình trạng dân
DCTD ñến các tỉnh Tây Nguyên nếu ñể dân DCTD sau thời ñiểm 13/3/2002
thì tỉnh phải ñến nhận về [8], [9], [10], [28].
12
Với lý do ñó hầu hết dân di cư tự do sống lẩn tránh trong rừng sâu nơi
có sốt rét lưu hành nặng, không thể tiếp cận với hệ thống y tế, nên nguy cơ
mắc bệnh và tử vong do sốt rét rất cao.
Tại các vùng biên giới (Việt-Lào, Việt-Campuchia) giao lưu biên giới
làm cho nguy cơ lan truyền sốt rét tiếp diễn và phức tạp. Việc kiểm dịch biên
giới tập trung tại các cửa khẩu, nhưng sự giao lưu và nhiễm bệnh lại chủ yếu
thông qua các ñường tiểu ngạch, nên rất khó khăn trong việc quản lý BNSR.
Phân tích số liệu BNSR nhiều năm tại huyện Hướng Hoá (Quảng Trị) nơi có
hoạt ñộng giao lưu giữa cộng ñồng người Việt và Lào cho thấy số mắc bệnh
do qua Lào là rất cao. Một số bệnh nhân mắc bệnh sau khi ñi qua Lào trở về,
một số là người Lào mắc bệnh ñược y tế xã quản lý, một số nhiễm từ các
vùng SRLH khác nhau [13], [21], [22], [34].
Tóm lại ñối với dân di biến ñộng (ñi rừng, ngủ rẫy, giao lưu biên
giới ), hệ thống y tế khó tiếp cận ñối với những ñối tượng này, giao thông ñi
lại khó khăn các biện pháp phòng chống hiện nay vẫn chưa hiệu quả, nguy cơ
gia tăng mắc và tử vong do sốt rét ở những ñối tượng này rất cao, cần nghiên
cứu những biện pháp có hiệu quả hơn.
1.3. Một số nghiên cứu sốt rét và phòng chống sốt rét cho dân di biến
ñộng, ñi rừng ngủ rẫy
Một số nghiên cứu trong những năm gần ñây cho thấy sự di biến ñộng
dân số ñó làm gia tăng nguy cơ mắc và lan truyền sốt rét trong cộng ñồng.
Báo cáo của Pim Martens and Lisbeth Hall năm 2000 về “Sốt rét ñang
di chuyển: Biến ñộng dân cư và lan truyền sốt rét “ cho thấy sốt rét ñang gia
tăng ở nhiều nước và ở một số vùng dù bệnh sốt rét ñã hết lưu hành. Một
trong những yếu tố góp phần vào sự gia tăng trở lại này là do sự di biến ñộng
dân ñến ñịnh cư ở những vùng ñất khác do nhiều lý do như: do kinh tế, do

mới có 28 vụ (17,53%), Tây Nguyên có 25/53 vụ, miền Trung 3/102 vụ [23].
Bên cạnh nguy cơ sốt rét ở nhóm dân di cư tự do, hoạt ñộng ñi rừng ngủ
rẫy khó kiểm soát là một trong những thách thức ñối với công tác phòng
chống sốt rét trong giai ñoạn hiên nay và thời gian ñến. Mặc dù tỷ lệ mắc và
tử vong giảm, nhưng nguy cơ gia tăng sốt rét vẫn tiềm ẩn tại nhiều vùng vẫn
còn cao, ñặc biệt là tại các vùng có dân có hoạt ñộng ñi rừng ngủ rẫy. Tại
những vùng này hệ thống y tế không thể tiếp cận ñược, không ñủ khả năng
phát hiện và quản lý bệnh nhân. Trong khi ñó mầm bệnh và vectơ lan truyền
vẫn tồn tại, các biện pháp bảo vệ khó ñảm bảo hiệu quả tuyệt ñối bảo vệ cho
các cộng ñồng này.
Kết quả ñiều tra của Viện sốt rét-KST-CT Quy Nhơn tại một số cộng
ñồng dân ngủ rẫy ở xã Đak Rin, Ngọc Lây (Kon Tum); Ia O (Gia Lai); Sơn
Thái, Khánh Thượng (Khánh Hòa); xã Thanh (Quảng Trị) cho thấy tỷ lệ
nhiễm từ trên 6,80% có nơi ñến 29,77%. Tại những vùng này ñều phát hiện có
mặt các vectơ chính lan truyền bệnh như An.minimus, An.dirus [10], [13].
Một nghiên cứu khác nhằm xác ñịnh tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét
ở cộng ñồng dân ngủ rẫy và ñánh giá tỷ lệ người ngủ rẫy nhận thuốc và sử
dụng thuốc tự ñiều trị ñược tiến hành tại 3 xã (Thanh-Quảng Trị, Trà Don-
Quảng Nam, Ia O-Gia Lai) cho thấy tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét ở người
dân ngủ rẫy rất cao: 9,90% (95% CI: 7,66%-12,54%). Tại xã Thanh
P.falciparum chiếm 75%, xã Ia O loài P.falciparum chiếm 86,36% và tại xã
Trà Don loài P.falciparum chiếm tỷ lệ là 52,63% [13].
Như vậy cho ñến nay tỷ lệ nhiễm KSTSR ở nhóm dân ngủ rẫy là rất
cao, hơn nữa các biện pháp hiện nay ñể bảo vệ cho người ñi rừng ngủ rẫy
chưa ñược xác ñịnh rõ và cũng chưa ñược ñánh giá ñầy ñủ.
15
Nghiên cứu của Annette Erhart (2004) về sốt rét rừng ở Bình Thuận,
Việt Nam cho thấy hoạt ñộng ñi rừng và ngủ trong rừng là yếu tố nguy cơ
chính của nhiễm bệnh sốt rét. Sử dụng màn ñể ngủ (kể cả màn chưa tẩm hóa
chất) có thể bảo vệ 60% dân bảo vệ mắc sốt rét [37].

này. Năm 2006-2007, một ñiều tra nhằm bước ñầu ñánh giá thực trạng sử
dụng thuốc tự ñiều trị tại một số xã thuộc khu vực miền Trung-Tây Nguyên
cho thấy tỷ lệ nhận thuốc tự ñiều trị là 58,12%. Phân tích cho thấy CV8 ñược
cấp với tỷ lệ 61,73%, artesunat ñược cấp với tỷ lệ 25,59%, chloroquin ñược
cấp với tỷ lệ 12,29% ; người dân ñi ngủ rẫy ñến nhận thuốc ở y tế thôn bản
chiếm tỷ lệ 72,07% cao hơn so với ñến Trạm y tế xã (27,93%). Tỷ lệ người
dân ngủ rẫy có uống thuốc tự ñiều trị là 37,11%. Đối với CV8 và chloroquine:
25,26% uống ñủ 3 ngày, với artesunat không có trường hợp nào uống thuốc
ñủ 7 ngày. Nguyên nhân không uống ñủ liều: 50,56% không uống tiếp do hết
sốt, 26,97% trở về nhà uống tiếp ; 14,61% không nhớ và 7,87% không muốn
uống tiếp [13], [14].
Một số nước trên thế giới có sốt rét lưu hành, biện pháp tự ñiều trị tại
nhà cũng ñược áp dụng những người khó tiếp cận y tế.
Tự ñiều trị là biện pháp quan trọng ñể quản lý sốt rét, và rất cần thiết
tại các khu vực nông thôn Ethiopia. Một ñánh giá về sử dụng thuốc tự ñiều trị
và tự quản lý bệnh sốt rét trên 630 hộ gia ñình có bệnh nhân sốt rét trong 6
tháng từ tháng 1-9 năm 1999 ñược chọn ngẫu nhiên ở huyện Butajira,
southern Ethiopia, cho thấy >97% hộ quản lý sốt rét ở nhà, 17.8% hộ sử dụng
thuốc sốt rét ở nhà, 46.7% hộ ñến cơ sở y tế sau khi uống thuốc ở nhà, 33,3%
hộ ñưa bệnh nhân ñến cơ sở y tế khi chưa có ñiều trị ở nhà. Thuốc sử dụng
17
bao gồm chloroquine (457, 73.5%) and sulfadoxine–pyrimethamine (377,
60.6%). Thuốc từ chương trình PCSR là chủ yếu, trong ñó chloroquine và
sulfadoxine-pyrimethamine chiếm 60.6% thông qua cán bộ y tế cộng ñồng,
hợp tác của các bà mẹ, người bán thuốc. Khảo sát ñó ñưa ra kết luận tự ñiều
trị là biện pháp chủ yếu, nhưng cần cải thiện việc cung cấp thuốc ñến các
vùng nông thôn có sốt rét, ñặc biệt thông qua nhân viên y tế cộng ñồng, hợp
tác của các bà mẹ, người bán thuốc, chủ hiệu thuốc [38].
Tự ñiều trị là rất phổ biến ở Tây Kenya. Một báo cáo kết quả nghiên
cứu kiến thức người dân về sốt rét, sử dụng thuốc sốt rét và thói quen tìm ñến

sâu, xa, trong những trường hợp như vậy, nên mang theo thuốc sốt rét ñể tự
ñiều trị. Sự lựa chọn tùy theo từng vùng có kháng hay không [43], [47], [49].
Tại Việt Nam cấp thuốc tự ñiều trị ñã ñược khuyến cáo sử dụng trong
chương trình phòng chống sốt rét từ năm 2003 ñể giảm tác hại của bệnh sốt
rét ở ñối tượng ñi rừng, ngủ rẫy. Tuy nhiên hiện nay chưa có nhiều ñánh giá
thực trạng sử dụng và hiệu quả của biện pháp này cho ñối tượng là người ñi
rừng ngủ rẫy.
Trong phác ñồ hướng dẫn năm 2003, Bộ y tế cho phép sử dụng thuốc tự
ñiều trị như là giải pháp khống chế thiệt hại và giảm số tử vong cho người
ngủ rẫy khi mắc bệnh sốt rét. Biện pháp này là “Cấp thuốc tự ñiều trị cho
người vào vùng sốt rét lưu hành và xa cơ sở y tế ñể họ tự ñiều trị khi bị sốt
nghi sốt rét (dân ñi rừng ngủ rẫy, cán bộ, bộ ñội ñi công tác vào vùng sốt rét
lưu hành ), cán bộ y tế hướng dẫn ñiều trị khi cấp thuốc, theo dõi kết quả sử
dụng khi họ trở về”. Tuy nhiên trong hướng dẫn năm 2003, chưa nêu cụ thể
19
tuyến nào ñược phép cấp thuốc, cũng như cấp loại thuốc nào chưa ñược nêu
lên rõ ràng [2], [3], [4].
Đến năm 2007, Bộ y tế có mở rộng ñịnh nghĩa “ Cấp thuốc cho phụ nữ
có thai vào vùng SRLH., khách du lịch, người ñi vào vùng sốt rét trong vòng 6
tháng. Đi rừng, ngủ rẫy, qua lại biên giới”. Mặc dù có mở rộng ñối tượng
nhưng cũng như năm 2003, hướng dẫn năm 2007 chưa nêu cụ thể tuyến nào
ñược phép cấp thuốc, cũng như cấp loại thuốc nào cũng chưa ñược nêu lên rõ
ràng.
Năm 2009, Bộ y tế hướng dẫn cấp thuốc tự ñiều cụ thể hơn. Hướng dẫn
nêu rỏ: “Cán bộ y tế từ tuyến xã trở lên mới ñược cấp thuốc tự ñiều trị cho
các ñối tượng ñi vào vùng sốt rét lưu hành nặng trên 1 tuần (khách du lịch,
người ñi rừng, ngủ rẫy, người qua lại biên giới vùng sốt rét lưu hành) và phải
hướng dẫn cho họ biết cách tự chẩn ñoán, tự ñiều trị, theo dõi sau khi trở
về”. Thuốc sốt rét ñược cấp ñể tự ñiều trị là dihydroartemisinin-piperaquine,
liều theo tuổi trong 3 ngày [4].

ñơn trị liệu nữa và chuyển sang dùng phác ñồ thuốc phối hợp dựa trên nền có
gốc artemisinin Một trong số các phối hợp ñó, Tổ chức y tế thế giới ñánh giá
cao hoặc khuyến cáo dùng loại thuốc ACT gồm thuốc artemisinine +
piperaquine hoặc dihydroartemisinin + piperaquine với các biệt dược hiện
ñang có mặt trên thị trường là Artequick, Artekin, Arterakine, CV
artecan,…[20], [44], [45], [48].
Hợp chất có artemisinin là một nhóm thuốc sốt rét mới có ñặc ñiểm
sinh ra một ñáp ứng rất nhanh trong cơ thể bệnh nhân, chống lại sốt rét do ký
sinh trùng P.falciparum ña kháng thuốc, thuốc dung nạp tốt và có tiềm năng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status