Lý thuyết về quản trị - Pdf 69

CHƯƠNG 1
BẢN CHẤT CỦA QUẢN TRỊ
(THE NATURE OF MANAGEMENT)
Mục tiêu của bài giảng :
• Giúp cho sinh viên nắm được hoàn toàn cảnh ra đời và phát triển của khoa học quản
trò.
• Nắm được thế nào là Quản Trò, chức năng, vai trò, mục đích và hiệu quả của nó
trong đời sống KTXH.
• Hiều được các quan điểm khác nhau trong việc nghiên cứu Quản trò học.
I- KHÁI NIỆM :
1-/ Hoàn cảnh ra đời và phát triển của Quản trò học :
Vấn đề được đặt ra là các hoạt động Quản Trò có từ lúc nào?
Hoạt động QT có từ thời rất xa xưa :
! Do yêu cầu của cuộc sống và lao động, con người thời xưa phải sống thành Đoàn, Đội
Nhóm, Bộ Lạc…
! Do yêu cầu của việc phân công lao động để tạo ra sản lượng nhiều hơn.
! Một số ví dụ được nêu lên để cho thấy rằng các nhà nước cổ đại và phong kiến cũng
đã biết dùng nghệ thuật “cai trò” để quản lý XH và xây dựng KT thời bấy giờ.
Vd : việc xây dựng Vạn Lý Trường Thành, Kim Tự Tháp, Các đền đài, lăng tẩm…
− Nói một cách ngắn gọn là hoạt động QT xuất hiện khi có ít nhất là 2 người cùng làm
việc với nhau vì khi 2 người cùng làm 1 công việc gì đó thì cũng đã phải bàn với nhau
cách làm như thế nào cho tốt, làm cái gì trước, làm cái gì sau, phải bắt đầu từ đâu và
mục đích cuối cùng là gì?
− Và từ những thực tiển LĐSX và quản lý KTXH như vậy, các nhà hoạt động QT mới suy
nghó trăn trở, tìm tòi và đúc kết, hệ thống hoá lại các khái niệm để đưa ra được những
nguyên tắc chung nhất về quan niệm QT.
 Do đó có thể nói Khoa học QT hay QT học chỉ thật sự xuất hiện vào những thập niên
đầu của thế kỷ 20.
Người đầu tiên đưa ra lý thuyết về QT là Frederick Winslow Taylor với tác phẩm
nổi tiếng là “Những nguyên tắc của QT Khoa học ” (The principles of scientific
management) được xuất bản vào năm 1911. Với tác phẩm này ông được coi là cha đẻ của lý

mục tiêu chung của tổ chức.
Người Pháp thì nói đơn giản hơn : “Administrer, c’est prévoir” (QT là tiên liệu).
Trong sách giáo khoa cũng có 1 đònh nghóa tương tự :
“QT là 1 tiến trình làm vòệc với con người và thông qua con người để hoàn thành mục
tiêu của tổ chức trong 1 môi trường luôn luôn thay đổi.”
Qua ĐN này ta thấy, về mặt ý nghóa thì ĐN này có thể được giải thích như sau :
1. Làm việc với và thông qua người khác.
2. Khai thác tối đa nguồn tài nguyên có hạn.
3. Luôn luôn xem xét đến kết quả và hiệu quả.
4. Hoàn thành những mục tiêu của tổ chức.
5. Biết đối phó và thích nghi với môi trường luôn luôn biến động, thay đổi.
(Xem hình 1.1)
QT còn được coi như 1 hệ thống trong đó bao gồm chủ thể QT và đối tượng QT.
Giữa 2 hệ thống này bao giờ cũng có 1 mối liên hệ với nhau bằng những dòng thông tin. Khi
hệ thống QT truyền đi những dòng thông tin chỉ huy, điều khiển thì nó sẽ nhận lại được
những thông tin phản hồi. Nếu như chủ thể QT không nhận được những thông tin phản hồi,
điều đó cũng có nghóa là nó mất khả năng QT.
Ngoài ra, đứng trên phương diện tỉnh (static) thì QT được xem như là cơ cấu, là bộ
máy tức là cơ quan QT, còn ở góc độ động (dynamic) thì nó được coi là 1 quá trình hay tiến
trình (process) hoạt động của các cơ quan QT thông qua các chức năng với các phương pháp
và nguyên tắc QT khác nhau.
(xem hình)
Theo Stoner và Robbins : “QT là lãnh đạo hệ thống trên cơ sở hoạch đònh, tổ chức,
nhân sự, điều khiển (lãnh đạo) và kiểm tra công việc nhằm đạt được các mục tiêu đã vạch
ra”. ( POSLC ) (xem hình).
II-/ SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG VIỆC QT HAY VAI TRÒ CỦA QT :
Ai cần đến QT?
QT giữ 1 vai trò cực kỳ quan trọng trong mọi hoạt động của đời sống XH, đặc biệt là
trong kinh tế.
2

K : kết quả
C : chi phí
Hiệu quả được căn cứ trên kết quả đạt được so với chi phí đã bỏ ra nghóa là nếu kết
quả đạt được thật lớn mà chi phí bỏ ra cũng cao thì hiệu quả sinh ra cũng thấp, còn ngược lại
nếu kết quả đạt được lớn mà chi phí bỏ ra rất thấp thì hiệu quả sẽ rất lớn.
IV/ QT LÀ MỘT KHOA HỌC HAY NGHỆ THUẬT ?
 QT là một khoa học :
1. QT là một khoa học vì nó sử dụng nhiều thành tựu của các ngành khoa học tự
nhiên, kỷ thuật, công nghệ và KHXH trong việc N/C những vấn đề của thực
tiển QT, nó vận dụng nhiều luận điểm và kết quả N/C của các ngành triết
học, kinh tế học, tâm lý học, XH học, luật học .., vì vậy nó được coi là một
khoa học liên ngành. (interdisciplinary)
2. Nó N/C và phân tích những công việc QT trong các tổ chức , tức là những
hoạt động nhằm duy trì và tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức hoạt động và
phát triển còn gọi là những hoạt động thực chất (substantial Management)
nhằm nâng cao hiệu quả QT.
3
3
3. Nó khái quát hóa những kinh nghiệm tốt thành những nguyên tắc và lý
thuyết áp dụng cho mọi hình thức QT tương tự.
4. Nó cũng giải thích các hiện tượng và đề xuất những giải pháp cùng những kỷ
thuật cần áp dụng đối với các nhà QT để qua đó giúp các tổ chức hoàn thành
mục tiêu.
 QT là một nghệ thuật :
Bản thân QT là môn khoa học song khi thực hành nó lại là một nghệ thuật (art)
nghóa là nhà QT không chỉ am hiểu lý thuyết QT mà còn phải biết linh hoạt vận dụng những
lý thuyết đó vào những hoàn cảnh, điều kiện, tình huống cụ thể …
Bởi vì khoa học là việc hiểu biết kiến thức một cách có hệ thống còn nghệ thuật là
việc vận dụng những kiến thức đó một cách khéo léo và sáng tạo nhất. Nó là những “bí
quyết”, những “cái mẹo”, những cái “biết cách làm” (know-how) (savoir-faire) dẫn dắt

O rganizing (tổ chức)
L eading (lãnh đạo) or (commanding)
POLCOC
C oordinating (phối hợp)
C ontroling (kiểm tra)
James Stoner thì cho rằng có 4 chức năng
P lannning (lập kế hoạch)
O rganizing (tổ chức)
POLC
L eading (lãnh đạo) or (commanding)
C ontroling (kiểm tra)
VI/ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU QT HỌC :
Như đã nói ở phần trên, QT học là môn khoa học có tính liên ngành do nó vận dụng
những thành tựu cũng như những luận điểm của các ngành khoa học khác nhau để giải
quyết nhiều vấn đế thuộc về lý luận và thực tiển QT.
Do đó việc sử dụng các phương pháp luận đúng sẽ làm cho việc NC và ứng dụng QT
học đi đến kết quả mỹ mãn, phát triển ngày càng sâu rộng trong đời sống kinh tế XH, chính
trò, văn hoá, luật pháp … Mà để làm được điều này, các nhà NC cần phải đứng trên 3 quan
điểm sau đây
1/- Quan điểm lòch sử :
Phải đứng trên quan điểm tồn tại xã hội, tồn tại lòch sử cụ thể của phương pháp sản
xuất ở một thời đại cụ thể mà lý giải các vấn đề của QT và khi XH phát triển, nhiệm vụ
kinh tế chính trò thay đổi thì hình thức và phương pháp QT cũng thay đổi theo (mỗi hình thái
KTXH, thì có một nhiệm vụ KTCT riêng, từ đó phương pháp QT cũng rất khác nhau).
2/- Quan điểm tổng hợp :
Như đã nói ở trên, vì QTđọng chạm đến nhiều lãnh vực của đời sống KTXH, cho
nên khi N/C về QT, các nhà N/C phải đứng trên quan điểm tổng hợp để có cái nhìn toàn
diện về các sự vật hiện tượng trong mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau, nghóa là phải tính
đến các tác động của môi trường bên trong và bên ngoài.
3/- Quan điểm hệ thống :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status