ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ HIỀN
ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN
LÃNH ĐẠO BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ
DI SẢN VĂN HÓA TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Thái Nguyên, năm 2020
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ HIỀN
ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN
LÃNH ĐẠO BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ
DI SẢN VĂN HÓA TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2019
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 8229015
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐOÀN THỊ YẾN
1.1.3. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về công tác bảo tồn và phát
huy giá trị các di sản văn hóa (2010 - 2015) ................................................... 26
1.2. Chỉ đạo thực hiện bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa từ năm 2010
- 2015 ............................................................................................................... 30
ii
1.2.1. Chỉ đạo công tác bảo tồn di sản văn hóa ....................................................... 30
1.2.2. Công tác phát huy các giá trị di sản văn hóa ................................................. 40
Chương 2. ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH
CÔNG TÁC BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI SẢN VĂN
HÓA TỪ NĂM 2015 ĐẾN NĂM 2019......................................................... 47
2.1. Yêu cầu mới đối với công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa và
những chủ trương mới của Đảng bộ ................................................................ 47
2.1.1. Những yêu cầu mới đối với công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản
văn hóa ............................................................................................................. 47
2.1.2. Chủ trương mới của Đảng bộ đối với công tác bảo tồn, phát huy giá trị các
di sản văn hóa .................................................................................................. 51
2.2. Chỉ đạo hiện thực hóa chủ trương của Đảng bộ về công tác bảo tồn và phát
huy giá trị các di sản văn hóa từ năm 2015 - 2019.......................................... 56
2.2.1.Chỉ đạo công tác bảo tồn di sản văn hóa ........................................................ 56
2.2.2. Chỉ đạo công tác phát huy các giá trị di sản văn hóa..................................... 72
Chương 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM.................................... 86
3.1. Nhận xét ............................................................................................................ 86
3.1.1.Ưu điểm .......................................................................................................... 86
3.1.2. Hạn chế .......................................................................................................... 94
3.2. Một số kinh nghiệm .......................................................................................... 97
KẾT LUẬN........................................................................................................... 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................. 107
PHỤ LỤC .............................................................................................................. 112
cổ học viện nhiệm vụ bảo tồn tất cả các cổ tích trong toàn cõi Việt Nam. Sắc
lệnh nêu rõ: “Việc bảo tồn cổ tích là việc rất cần thiết trong công cuộc kiến
thiết nước Việt Nam” .
Trong giai đoạn hiện nay, nhận thức sâu sắc vị trí, tầm quan trọng của
việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, Đảng, Nhà nước và nhân dân hết
sức quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc,
coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm không chỉ của ngành văn hóa
mà còn là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc.
Di sản văn hóa dân tộc được Đảng xác định là “tài sản vô giá, gắn kết
cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá
trị mới và giao lưu văn hóa” . Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016)
của Đảng khẳng định: Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát
huy giá trị các di sản văn hóa truyền thống, cách mạng. Tiếp tục phát triển
nền văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu chất
nhân văn, dân chủ, vươn lên hiện đại, phản ánh chân thật, sâu sắc lịch sử dân
tộc và công cuộc đổi mới đất nước; cổ vũ, khẳng định cái đúng, cái đẹp,
đồng thời, lên án cái xấu, cái ác. Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy
định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, về bảo tồn, phát huy các giá trị di sản
văn hóa vật
thể và phi vật thể của dân tộc.
Thái Nguyên là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, nơi giao lưu,
hội tụ giữa văn hoá đồng bằng Bắc bộ với văn hoá các dân tộc vùng Đông bắc
chính vì vậy di sản văn hoá trên địa bàn tỉnh hết sức phong phú, đặc sắc. Hệ
thống di tích lịch sử cách mạng và kháng chiến ở Thái Nguyên là một phần di
sản văn hóa quý báu của dân tộc Việt Nam. Nhận thức rõ vị trí, vai trò của di
sản văn hóa đối với sự phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, trong thời kỳ đổi mới, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã đạt được nhiều
tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa
trong giai đoạn 2010 - 2019.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo công tác bảo tồn
và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh. Trên cơ sở đó, bước
đầu đúc kết một số kinh nghiệm qua thực tiễn quá trình Đảng bộ tỉnh lãnh đạo
công tác bảo tồn và phát huy các giá trị sản văn hóa giai đạn 2010 - 2019.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ thực trạng công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn
hóa ở tỉnh Thái Nguyên.
- Hệ thống hóa chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về công tác
bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa trong giai đoạn 2010 - 2019.
- Quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên chỉ đạo công tác bảo tồn và phát
huy giá trị các di sản văn hóa trong giai đoạn 2010 - 2019.
- Đưa ra những nhận xét về ưu điểm, hạn chế trong quá trình lãnh đạo
công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa trong giai đoạn 2010
- 2019; từ đó tổng kết một số kinh nghiệm có thể vận dụng vào thực tiễn để
thực hiện tốt hơn chủ trương về bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn
hóa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng của luận văn
Luận văn tập trung làm rõ chủ trương và quá trình chỉ đạo hiện thực hóa
chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về công tác bảo tồn và phát huy
các giá trị di sản trong giai đoạn 2010 - 2019.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Đề tài nghiên cứu từ năm 2010 - 2019, qua 2 kỳ đại hội
của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII
thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết tác phẩm văn học,
nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống,
nếp sống, lễ hội, bí quyết và nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược
học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và
những tri thức dân gian khác. Di sản văn hóa vật thể: "là sản phẩm vật chất có
giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam
thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” .
Trong đề tài này, tác giả tiếp cận khái niệm “di sản văn hóa” theo Luật
Di sản văn hóa Việt Nam. Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
gồm nhiều nội dung, nhưng trong phạm vi đề tài, luận văn tập trung nghiên
cứu: công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa, di sản văn
hóa phi vật thể; công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại bảo
tàng (di vật, cổ vật).
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng
Cộng sản Việt Nam về văn hóa.
5.2. Nguồn tài liệu
Nguồn tư liệu thành văn:
- Văn kiện của Đảng, Nhà nước bao gồm: các nghị quyết, chỉ thị, kế
hoạch, thông tư, chương trình…
- Văn kiện của các cấp đảng bộ, chính quyền tỉnh Thái Nguyên (Tỉnh
ủy, Hội đồnng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh) bao gồm các nghị quyết, chỉ
thị, kế hoạch, thông tư, chương trình, đề án…
- Các sách, báo, tạp chí đã xuất bản; luận văn, luận án, đề tài viết về
giáo dục.
- Một số công trình nghiên cứu của cá nhân, tập thể về vấn đề giáo dục;
địa phương.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá
trị các di sản văn hóa trong giai đoạn 2010 - 2015.
Chương 2. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo đẩy mạnh công tác bảo
tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa từ năm 2016 đến năm 2019.
Chương 3. Một số nhận xét và kinh nghiệm.
Chương 1
ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO BẢO TỒN VÀ PHÁT
HUY GIÁ TRỊ CÁC DI SẢN VĂN HÓA TRONG GIAI ĐOẠN 2010 2015
1.1. Những yếu tố tác động đến công tác lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá
trị các di sản văn hóa của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên.
1.1.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội
1.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng núi, nằm ở phía Đông Bắc của Tổ
quốc, phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn,
phía Đông Nam giáp 2 tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh, phía Tây Bắc giáp tỉnh
Tuyên Quang, phía Tây Nam giáp tỉnh tỉnh Vĩnh Phúc và phía Nam tiếp giáp
với huyện Sóc Sơn thuộc ngoại thành Hà Nội. Thái Nguyên có địa hình khá
đa dạng, bao gồm: vùng cao, vùng giữa và vùng thấp. Với diện tích tự nhiên
3.562,82 km2, tỉnh Thái Nguyên có có 9 đơn vị hành chính cấp huyện (6
huyện, 2 thành phố, 1 thị xã), gồm 180 đơn vị hành chính cấp cơ sở, trong đó
có
140 xã, 30 phường, 10 thị trấn.
Địa hình của tỉnh Thái Nguyên được phân hoá thành 3 vùng:
Vùng núi: Bao gồm nhiều dãy núi cao ở phía Bắc chạy theo hướng Bắc
Nam và Tây Bắc - Đông Nam. Vùng này tập trung ở các huyện Võ Nhai, Đại
Nội - Thái Nguyên dài hơn 80km.
Thái Nguyên là tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, rừng
có nhiều lâm thổ quý như: gỗ các loại, tre, nứa, lá, dược liệu chữa bệnh, đặc
biệt là cây chè Thái Nguyên vừa là đặc sản trong nước vừa có giá trị xuất
khẩu lớn. Bên cạnh đó, Thái Nguyên còn có nhiều mỏ khoáng sản như: than
đá, quặng sắt, quặng thiếc, kẽm, chì, vàng, quặng barit, quặng pirit, đặc biệt
là mỏ Vônfram tại huyện Đại Từ - đây là mỏ đá kim có trữ lượng khoáng sản
lớn tầm cỡ thế giới. Tất cả các nguồn tài nguyên quý hiếm ấy đã và đang
được khai thác có hiệu quả, phục vụ sự phát triển của Thái Nguyên.
Thái Nguyên là tỉnh có tiềm năng kinh tế phong phú đa dạng, với tổng
diện tích canh tác, trồng trọt các loại của tỉnh Thái Nguyên là 343,461 ha.
Trong đó đất nông nghiệp chiếm 76.745 ha, đất đồi rừng là 166.453 ha (trong
đó diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng là 113.453 ha), đất chuyên dùng là
19.595 ha; diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản là 3.198 ha, đất chưa sử
dụng là 122.637 ha (trong đó đất có khả năng nông nghiệp là 1.824 ha và đất
có khả năng lâm nghiệp là 52.882ha). Khí hậu trung bình hằng năm xấp xỉ
230C, lượng mưa trung bình ằng năm xấp xỉ 200mm - tương đối thuận lợi cho
việc phát triển cây trồng, vật nuôi.
Như vậy có thể thấy Thái Nguyên là tỉnh có vị trí địa lí quan trọng, là
cửa ngõ nối vùng Việt Bắc với Thủ đô Hà Nôi, giao thông thuận lợi cả về
đường bộ, đường sắt và đường sông, gần Cảng hàng không quốc tế, gần các
khu công nghiệp tập nên có điều kiện mở rộng thị trường, phát triển kinh tế
đa dạng
1.1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã
hội
Thái Nguyên là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế của vùng
trung du miền núi Đông Bắc. Trong thời kì đất nước tiến hành công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, kinh tế Thái Nguyên cũng dần chuyển dịch về cơ cấu
yếu tập trung ở các huyện Phú Bình, Đại Từ và thành phố Thái Nguyên. Tuy
có nhiều tôn giáo và dân tộc nhưng ở Thái Nguyên không có sự xung đột về
tôn giáo hay sắc tộc. Các tôn giáo, dân tộc cùng nhau chung sống hòa bình,
đoàn kết để phát triển kinh tế - xã hội.
Thái Nguyên có nhiều địa danh được khai thác để phát triển ngành du
lịch, dịch vụ như khu du lịch Hồ Núi Cốc, hang Phượng Hoàng, suối Mỏ Gà,
Thác Bảy tầng. Đặc biệt là khu di tích lịch sử cách mạng ATK (an toàn khu)
Định Hóa Chiến khu cách mạng Việt Bắc với trên 120 điểm di tích lịch sử
cách mạng cùng với hệ thống sông suối, núi non, hang động đẹp, hùng vĩ.
Dù thuộc khu vực miền núi nhưng dân cư của tỉnh Thái Nguyên phần
lớn có nguồn gốc từ miền xuôi, đồng bằng nên mặt bằng dân trí tương đối
cao. Tỉnh Thái Nguyên là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn thứ 3 cả nước
sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 9
trường đại học, trên 25 trường cao đẳng, trung cấp, hằng năm đào tạo, bồi
dưỡng, cung cấp hàng vạn trí thức, cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân lành
nghề cho tỉnh và các tỉnh khu vực phía Bắc. Đây là điều kiện thuận lợi, đưa
Thái Nguyên phát triển nhanh, bền vững.
Dân số của tỉnh Thái Nguyên đông và tăng tương đối đều qua các năm.
Năm 1997 là 1.029,6 nghìn người; năm 2010: 1.131,3 nghìn người; năm 2018
là 1.268,3. Do là trung tâm đào tạo lớn của cả nước, lại là địa phương có
nhiều khu công nghiệp, nhà máy đang hoạt động khai thác, chế biến có hiệu
quả như Khu công nghiệp Sam sung, Khu công nghiệp Điềm Thụy, Công ty
nhiệt điện Cao Ngạn, Công ty TNHH khai thác chế biến khoáng sản Núi
Pháo, Công ty cổ phần đầu tư và thương mại TNG… nên tỷ suất nhập cư của
tỉnh Thái Nguyên cao nhất trong khu vực, cao hơn so với trung bình cả nước:
Năm 2005 tỷ suất nhập cư là 5,9; năm 2010 là 11. Mật độ dân số trung bình
của tỉnh Thái Nguyên đứng thứ 3 trong khu vực trung du miền núi phía Bắc
(sau tỉnh Bắc Giang và Phú Thọ), cao hơn nhiều so với mật độ trung bình của
kinh thành Thăng Long” và nay là cửa ngõ phía bắc của Thủ đô Hà Nội.
Trong suốt chiều dài lịch sử, các dân tộc trong tỉnh đã cùng sinh sống đan
xen, mở mang đất đai, sinh cơ lập nghiệp, cùng đồng bào cả nước giữ gìn
giang sơn bờ cõi, chiến đấu kiên cường trong các cuộc kháng chiến trường kỳ
của dân tộc. Mảnh đất địa linh nhân kiệt ấy đã sản sinh ra những người com
ưu tú, những anh hùng, danh nhân mà tên tuổi của họ đã đi vào lịch sử dân
tộc. Trong đó phải kể đến anh hùng Phò mã lang Dương Tự Minh, các tướng
Lưu Nhân Chú, Phạm Cuống, Đội Cấn, Lương Ngọc Quyến. Bên cạnh đó là
các vị đỗ tiến sĩ khoa bảng danh tiếng như Trịnh Hiển, Nguyễn Cấu, Đỗ Cận,
Phạm Nhĩ, Trịnh Bá, Đàm Sâm, Đàm Chí, Đồng Doãn Giai,… Riêng đại
khoa Đỗ Cận là một nhà trí thức ngoại giao và là 1 trong 28 thành viên của
Hội “Tao đàn nhị thập bát tú” do vua Lê Thánh Tông sáng lập. Ông đã được
lập bia tiến sĩ tại văn miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội) và được dân làng quê
hương Phổ Yên lập đền thờ (đền Lục Giáp) bên bờ sông Công. Ngày nay
truyền thống hiếu học ấy tiếp tục được các thế hệ sau nối tiếp, phát huy.
Người dân Thái Nguyên ngay từ trước công nguyên đã tham gia vào
cuộc kháng chiến chống giặc nhà Tần xâm lược. Năm 40, Hai Bà Trưng khởi
nghĩa đánh đổ bộ máy cai trị của nhà Hán ở Giao Chỉ 1, nhân dân Thái
Nguyên đã tích cực tham gia cuộc khởi nghĩa của Hai Bà.
Kể từ khi nhà Lý định đô ở Thăng Long, Thái Nguyên trở thành phên
dậu trực tiếp che chở cho phía Bắc kinh thành. Trong cuộc kháng chiến chống
quân xâm lược Tống năm 1076 - 1077, phần đất phía Nam Thái Nguyên từng
là địa đầu của phòng tuyến sông Cầu. Cùng thời nhà Lý, năm 1145, quân dân
Thái Nguyên dưới sự chỉ huy của thủ lĩnh phủ Phú Lương đã đánh thắng giặc
nước Tống sang lấn chiếm Tư Lang, Quảng Nguyên (Cao Bằng)
Đầu thế kỷ XV, giặc Minh xâm chiếm nước ta, là mảnh đất có truyền
thống quật cường, nhân dân Thái Nguyên liên tiếp đứng lên khởi nghĩa chống
giặc. Trong phong trào kháng chiến chống giặc Minh ở Thái Nguyên, tiêu
Thái Nguyên, một trong 6 tỉnh của khu căn cứ địa Việt Bắc đã có nhiều
đóng góp quan trọng trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 và trong 9 năm
trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 -1954). Trong đó, huyện
Định Hóa (Thái Nguyên) đã trở thành thủ đô kháng chiến trong suốt 9 năm
chống thực dân Pháp xâm lược nhân dân ta.
Từ năm 1939 đến năm 1945, Thái Nguyên được chọn làm địa bàn phát
triển lực lượng cách mạng. Trong đó có đồng chí Trường Chinh và các đồng
chí Hoàng Quốc Việt, Lê Thanh Nghị cùng nhiều đồng chí Ủy viên Trung
ương Đảng, Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ thường xuyên qua lại hoạt động tại
đây. Vùng Tiên Phong (Phổ Yên), Kha Sơn (Phú Bình) được xây dựng thành
ATK của Trung ương. Nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên được vận
động tham gia cách mạng, giúp cho cơ sở lực lượng ngày càng phát triển.
Tháng 9 năm 1941 đội Cứu quốc quân II, lực lượng tiền thân của Quân
đội nhân dân Việt Nam ra đời tại rừng Khuôn Mánh (Tràng Xá - Võ Nhai).
Năm 1944, đất Yên Lãng (Đại Từ) là nơi khai sinh chiến khu Nguyễn Huệ để
xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa giành
chính quyền. Ngày 15 tháng 5 năm 1945, tại Định Biên Thượng (Định Hóa),
đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân hợp nhất
thành Việt Nam Giải phóng quân, chuẩn bị đón Bác về Tân Trào, Sơn Dương
(Tuyên Quang) mở Đại hội Quốc dân.
Ngày 16 tháng 8 năm 1945, thực hiện Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi
nghĩa toàn quốc, đội quân dưới sự chỉ huy của đồng chí Võ Nguyên Giáp đã
xuất phát từ Tân Trào tiến về giải phóng Thái Nguyên. Ngày 26 tháng 8 năm
1945, Cách mạng tháng Tám thành công trên cả nước, ghi thêm một mốc son
chói lọi trong lịch sử Việt Nam, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của quân
dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên.Nhưng chỉ một năm sau ngày đất nước độc
lập, thực dân Pháp lai quay trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai. Chúng đánh
Nam Bộ rồi tiến ra Hà Nội. Cả nước bước vào cuộc kháng chiến. Bác Hồ,
tích địa điểm lưu niệm các Thanh niên xung phong Đại đội 915 hy sinh... Hệ
thống các di tích đã tạo nên giá trị lịch sử văn hóa vô giá, là cốt lõi làm nên
truyền thống văn hóa đặc sắc, riêng có của tỉnh Thái Nguyên.
Cùng với những di sản vật thể, đồng bào các dân tộc Thái Nguyên còn
sản sinh, nuôi dưỡng, giữ gìn, truyền lại đến tận ngày nay những di sản văn
hóa phi vật thể phong phú, đặc sắc, có giá trị cao.
Những di sản văn hóa phi vật thể có tính đại diện, thể hiện bản sắc của
cộng đồng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra quyết định đưa vào
Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. Đó là các di sản: Múa Tắc
Xình, Hát Sấng Cọ của người Sán Chay, Nghi lễ Cấp sắc, Nghi lễ Tết nhảy
của người Dao, Rối cạn của người Tày ở Thẩm Rộc và Ru Nghệ, Nghi lễ
Then, Lễ hội Lồng Tồng của người Tày, Nghệ thuật Khèn của người Mông,
Lễ hội đền Đuổm... với những nét đẹp văn hóa của cộng đồng các dân tộc
Thái Nguyên, còn được bảo lưu trong dân gian đến tận ngày nay.
Ngày nay, khi đất nước đang thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh
công nghiệp hóa - hiện đại hóa và mở cửa giao lưu quốc tế thì các lĩnh vực tư
tưởng, văn hóa, đạo đức lối sống trong các địa phương - ở mức độ nào đó đã
chịu tác động của nền kinh tế thị trường. Mặc dù có những truyền thống đã bị
mai một, song các tục lệ cổ truyền có vai trò rất quan trọng trong việc ổn định
xã hội, đặc biệt nó góp phần tích cực vào việc giữ gìn và phát huy truyền
thống bản sắc văn hóa dân tộc.
1.1.2. Thực trạng công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa của
tỉnh Thái Nguyên trước năm 2010
Là tỉnh có bề dày lịch sử và chiều sâu văn hóa trong lịch sử dân tộc,
đồng thời được thiên nhiên ưu ái ban tặng nhiều thắng cảnh đẹp nên công tác
bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa được Đảng bộ tỉnh quan tâm.
Tháng 11/1997, Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XV được
tiến hành trên cơ sở kế thừa lịch sử 7 nhiệm kỳ của tỉnh Thái Nguyên trước
đây và 31 năm xây dựng, phấn đấu, trưởng thành của tỉnh Bắc Thái, đồng thời
là đại hội mở đầu cho thời kỳ mới: Thời kỳ tiến vào sự nghiệp công nghiệp
Năm 1997, thông qua chương trình mục tiêu Quốc gia chống xuống cấp
và tôn tạo di tích, Nhà nước bắt đầu cấp kinh phí hằng năm cho công tác phục
hồi và tu bổ di tích. Trong năm này, nhà trưng bày ATK Phú Đình (Định Hóa)
được khánh thành đưa vào sử dụng đúng dịp kỷ niệm 50 năm ngày Bác Hồ,
TW Đảng, Chính phủ về ATK lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp, đáp ứng lòng mong mỏi không những của đồng bào các dân tộc huyện
Định Hóa mà còn của tất cả đồng bào các dân tộc trong tỉnh. Từ đây, Thái
Nguyên có thêm một điểm di tích, một công trình văn hóa để các thế hệ hành
hương về cội nguồn, tìm hiểu, chứng kiến một vùng đất chiến khu xưa đã góp
phần làm rạng rỡ trang sử hào hùng của dân tộc.
Đến năm 1998, Thái Nguyên đã tổng kiểm kê hoàn thành 763 di tích
trên toàn tỉnh, trong đó có 21 di tích và khu di tích được xếp hạng Quốc gia.
Năm 1999, Thái Nguyên hoàn thành việc kiểm kê di tích trên toàn tỉnh, được
Bộ Văn hóa Thông tin (cũ) đánh giá là một trong những tỉnh hoàn thành kiểm
kê di tích sớm nhất cả nước.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, công tác bảo tồn và phát huy giá trị
di sản văn hóa dân tộc trong những năm 1997 - 2000 đã đem lại những thành
tựu đáng kể, đặc biệt đã góp phần nâng cao ý thức trân trọng, bảo vệ di tích
của nhân dân đối với những giá trị lịch sử văn hóa dân tộc “Công tác nghiên
cứu, sưu tầm lịch sử, bảo tồn, bảo tàng được củng cố và bước đầu hoạt động
có kết quả, phục vụ tích cực cho kỷ niệm các ngày lễ lớn và giáo dục truyền
thống cho nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ” [12, tr. 7].
Bên cạnh những thành công mang lại, công tác tu bổ, tôn tạo di tích còn
có những hạn chế nhất định, trong đó đáng chú ý là việc chủ yếu tập trung tu
bổ, tôn tạo những công trình trọng điểm, những công trình khác rất ít nhận
được vốn đầu tư, thậm chí là không có. Nguồn ngân sách phần lớn do địa
phương quản lý và nhân dân tự nguyện đóng góp, do đó dẫn tới hiện tượng khi
nguồn kinh phí không đủ cho hoạt động dẫn tới tình trạng nhiều di tích bị