Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở việt nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế luận văn ths luật học 60 38 60 - Pdf 69

KHOA LUẬT
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LÊ THỊ THU
“QUAN HỆ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ”

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT QUỐC TẾ

HÀ NỘI – NĂM 2007

1


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU

1- Tính cấp thiết của đề tài
2- Mục đích nghiên cứu
3- Phạm vi nghiên cứu
4- Phương pháp nghiên cứu
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ KẾT
HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI

1.1. Khái niệm quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
1.1.1. Khái niệm kết hôn
1.1.2. Yếu tố nước ngoài trong quan hệ kết hôn
1.1.3.Khái niệm pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước
ngoài

nước ngoài
2.1.3. Thẩm quyền giải quyết quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
2.2. Quy định của Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết điều chỉnh
quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
2.2.1. Giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn có yếu tố
nước ngoài
2.2.2. Giải quyết xung đột pháp luật về hình thức kết hôn có yếu tố
nước ngoài
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ
NƢỚC NGOÀI

3.1. Tình hình kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
3.1.1. Thực trạng kết hôn có yếu tố nước ngoài
3.1.2. Thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam
3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có
yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
3.2.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ kết
hôn có yếu tố nước ngoài

3


3.2.2. Kiến nghị mở rộng việc ký kết các Điều ước quốc tế điều chỉnh
quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
3.2.3. Kiến nghị trong quản lý nhà nước về quan hệ kết hôn có yếu tố
nước ngoài

4

một số điều của Luật hôn nhân và gia đình 2000 về quan hệ hôn nhân và gia
5


đình có yếu tố nước ngoài;….Bên cạnh đó chúng ta còn ký kết rất nhiều Hiệp
định tương trợ tư pháp với các nước để điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố
nước ngoài. Mặc dù, trong thời gian vừa qua, các qui định điều chỉnh quan hệ
kết hôn có yếu tố nước ngoài đã có những đóng góp nhất định nhưng vẫn còn
thiếu sót và bộc lộ một số nhược điểm nhất là trong xu thế ngày càng phát
triển của quan hệ quốc tế.
Hơn nữa, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là một quan hệ khá
nhạy cảm liên quan đến chính sách đối ngoại của quốc gia. Theo báo cáo tình
hình đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài ở các Sở Tư Pháp tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương, nhiều đối tượng đã lợi dụng việc kết hôn với người
nước ngoài để môi giới hoặc xác lập quan hệ kết hôn với người nước ngòai
không vì mục đích hôn nhân mà vì mục đích kinh tế hoặc một số mục đích
khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt nam. Thậm chí,
nhiều đối tượng đã thiết lập cả đường dây mua bán phụ nữ thông qua việc kết
hôn với người nước ngoài, gây rối loạn xã hội. Đây là mối đe dọa nguy hiểm
đến sự ổn định an ninh, chính trị của nước ta cũng như đường lối, chính sách
đối ngoại của Đảng và Nhà nước.
Chính vì những lý do trên, tác giả muốn nghiên cứu vấn đề kết hôn có
yếu tố nước ngoài ở Việt nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế để củng cố nhận
thức của bản thân cũng như đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các qui
định pháp luật về vấn đề này. Từ đó khắc phục tình trạng vi phạm pháp luật về
kết hôn có yếu tố nước ngoài.
2. Mục đích nghiên cứu:
Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là một loại quan hệ khá nhạy
cảm và phức tạp nên trong luận văn này, trước hết, tác giả muốn làm sáng tỏ
những vấn đề lý luận cơ bản về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.

Chương 3: Thực trạng và những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
Việt Nam và điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.

7


CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ KẾT HÔN
CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
1.1. Khái niệm Quan hệ kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài
1.1.1. Khái niệm kết hôn
Kết hôn xác lập quan hệ hôn nhân và là cơ sở hình thành gia đình – tế
bào xã hội. Trong mỗi chế độ xã hội, gia đình đều thực hiện chức năng cơ bản
là duy trì nòi giống, sản sinh ra con người giúp xã hội phát triển nên “Gia
đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt”[ ].
Hôn nhân là một hiện tượng xã hội đặc biệt, trong đó các bên chủ thể
gắn kết với nhau với mục đích tạo dựng một tế bào của xã hội là gia đình.
Khác với các quan hệ dân sự bình thường, mục đích của các chủ thể trong
quan hệ hôn nhân không nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất hay tinh thần trong
một thời điểm nhất định mà nhằm xác lập mối quan hệ lâu dài.
Hôn nhân là sự liên kết đặc biệt giữa một người nam và một người nữ,
sự liên kết đó phải được Nhà nước thừa nhận dưới một hình thức pháp lý nhất
định, đó là đăng ký kết hôn.
Theo qui định khoản 2, Điều 8, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
2000, kết hôn là “việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo qui định của
pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”.
Như vậy, pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam qui định việc kết
hôn phải đảm bảo hai yếu tố:
-


có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia
là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức
Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp
luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ
đó ở nước ngoài”. Như vậy, yếu tố nước ngoài được xác định căn cứ vào các
tiêu chí sau:
- Thứ nhất, căn cứ vào chủ thể: có ít nhất một trong các bên tham gia
quan hệ dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc người
9


Việt Nam định cư ở nước ngoài. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước
ngoài (sau đây gọi tắt là người nước ngoài). Theo khoản 2,3 Điều 3
Nghị định số 138/NĐ - CP ngày 15/11/2006 của Chính Phủ quy định
chi tiết thi hành các quy định của Bộ Luật dân sự năm 2005 về quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (gọi tắt là Nghị định số 138/NĐ - CP
ngày 15/11/2006): Người nước ngòai là người không có quốc tịch
Việt Nam bao gồm: người có quốc tịch nước ngoài, người không quốc
tịch; người Việt Nam định cư ở nước ngoài là người có quốc tịch Việt
Nam, người gốc Việt Nam đang làm ăn, cư trú, sinh sống lâu dài ở
nước ngoài.
- Thứ hai, căn cứ vào các sự kiện pháp lý để xác lập, thay đổi, chấm
dứt quan hệ theo pháp luật nước ngoài hoặc phát sinh ở nước ngoài.
- Thứ ba, căn cứ đối tượng của quan hệ đó là tài sản ở nước ngoài.
Theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 qui định tại khoản 14,
Điều 8 và khoản 4 Điều 100 , quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình (gồm quan hệ kết hôn):
- Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, căn cứ vào chủ thể;
- Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi,

Trường hợp thứ nhất, công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài theo quy
định tại khoản 4 Điều 100 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam thì các quy
định tại chương XI của Luật này cũng được áp dụng đối với quan hệ kết hôn
giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước
ngoài. Với quy định này, pháp luật được áp dụng theo nguyên tắc luật quốc
tịch của các bên đương sự. Việc áp dụng nguyên tắc này là hoàn toàn hợp lý,
thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta không có sự phân biệt đối xử
giữa công dân Việt Nam ở trong nước và ngoài nước, đồng thời thể hiện chính
sách “mở cửa”, “hội nhập” với các nước trong khu vực và thế giới.
Trường hợp thứ hai, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam theo quy định
tại khoản 14 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 cũng là một
căn cứ xác định yếu tố nước ngoài của quan hệ kết hôn. Pháp luật áp dụng để
điều chỉnh quan hệ kết hôn giữa người nước ngoài thường trú tại Việt Nam là
pháp luật Việt Nam, tức là áp dụng nguyên tắc luật nơi cư trú. Việc áp dụng
11


nguyên tắc này là hoàn toàn hợp lý vì người nước ngoài đang cư trú tại Việt
Nam, các cơ quan thẩm quyền Việt Nam áp dụng pháp luật Việt Nam sẽ giải
quyết vụ việc nhanh chóng, thuận lợi do không phải áp dụng pháp luật nước
ngoài.
Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm quan hệ kết hôn có yếu
tố nước ngoài là quan hệ kết hôn phát sinh giữa công dân Việt Nam và người
nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam
hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau cư trú tại nước ngoài mà căn cứ để xác
lập quan hệ đó phát sinh ở nước ngoài.
Khác với pháp luật Việt Nam, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
trong pháp luật Trung Quốc có phạm vi điều chỉnh gồm:
-


phạm xung đột và quy phạm thực chất, trong đó, qui phạm xung đột là quy
phạm cơ bản điều chỉnh quan hệ. Các loại quy phạm này có mối liên hệ mật
thiết với nhau, tạo nên sự thống nhất trong việc điều chỉnh quan hệ kết hôn có
yếu tố nước ngoài. Nếu quan hệ kết hôn không được điều chỉnh bởi qui phạm
thực chất thì cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng qui phạm xung đột để chọn
luật áp dụng.
Do vậy, pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn là tổng thể các nguyên
tắc, các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau (quy
phạm xung đột, quy phạm thực chất) được lựa chọn để điều chỉnh quan hệ kết
hôn có yếu tố nước ngoài.
1.1.4. Đặc trưng của pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước
ngoài
1.1.4.1. Đối tượng điều chỉnh
Pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài đặc trưng
bởi đối tượng điều chỉnh. Đối tượng điều chỉnh bị phức tạp hoá bởi yếu tố
nước ngoài, đây cũng là điểm phân biệt với các quan hệ kết hôn thông thường
khác. Các nước trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về “yếu tố nước
ngoài” trong quan hệ dân sự nói chung và trong quan hệ kết hôn nói riêng. Để
xác định yếu tố nước ngoài trong quan hệ dân sự, các quốc gia thường căn cứ
vào ba dấu hiệu: quan hệ đó có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài;
1
3


khách thể của quan hệ đó là tài sản hoặc quyền tài sản và quyền nhân thân
được thực thi ở nước ngoài; sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt
quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài.
Theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000, yếu tố nước ngoài
trong quan hệ kết hôn được hiểu theo khoản 14 Điều 8 và khoản 4 Điều 100
như trên đã phân tích.

tắc lựa chọn luật áp dụng. Điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
có các hệ thuộc: Luật quốc tịch; Luật nơi cư tú; luật toà án; luật nơi thực hiện
hành vi
Quy phạm xung đột điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
theo pháp luật Việt nam được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình; các
Hiệp định tương trợ tư pháp và các văn bản khác có liên quan.
*

Phương pháp thực chất hay còn gọi là phương pháp điều chỉnh trực

tiếp là phương pháp điều chỉnh thông qua các quy phạm thực chất để định rõ
các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ. Quy phạm thực chất là
quy phạm quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia
quan hệ.
Các quy phạm thực chất được quy định trong các văn bản pháp luật
quốc gia hoặc Điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên. Việc áp dụng
quy phạm thực chất làm đơn giản hoá trong điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu
tố nước ngoài tạo điều kiện cho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết quan hệ
nhanh chóng, thuận lợi. Đồng thời loại trừ vấn đề phải lựa chọn luật hoặc áp
dụng pháp luật nước ngoài.
1.2.

Các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài

1.2.1. Các nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước
ngoài
Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là một trong các quan hệ hôn
nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nên quan hệ này cũng chịu sự điều
chỉnh của các nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngoài.

quốc tế mà Việt Nam ký kết.
* Nguyên tắc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt
Nam
ở nước ngoài phù hợp với pháp luật Việt nam, pháp luật nước sở tại, pháp
luật và tập quán quốc tế. Đồng thời không phân biệt đối xử với người nước
ngoài trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt nam. Nguyên tắc này
được qui định tại khoản 2,3 Điều 100 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam


1
6


2000. Theo nguyên tắc này, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam
ở nước ngoài phù hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại và tập quán
quốc tế thì sẽ được bảo hộ. Địa vị pháp lý của công dân Việt Nam cư trú, sinh
sống và làm ăn ở nước ngoài do pháp luật nước sở tại qui định, đồng thời vẫn
chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế mà Việt
Nam ký kết hoặc tham gia. Do vậy, công dân Việt Nam ở nước ngoài khi tham
gia vào các quan hệ kết hôn sẽ được pháp luật Việt Nam bảo hộ. Quy định này
là thể hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến người Việt
Nam định cư ở nước ngoài, bao gồm công dân Việt Nam, người gốc Việt Nam
đang thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi, khuyến
khích để họ giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương. Việc bảo hộ
này được thực hiện thông qua các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh
sự của Việt Nam ở nước ngoài được qui định tại khoản 2 Điều 102 Luật hôn
nhân và gia đình Việt Nam 2000.
Bên cạnh việc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người Việt Nam ở
nước nước ngoài thì pháp luật Việt Nam cũng bảo hộ quyền và lợi ích hợp
pháp của người nước ngoài tại Việt Nam. Người nước ngoài tham gia vào

của Việt Nam quy định;
-

Điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết

hoặc tham gia viện dẫn.
Trong tất cả các trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài nêu trên,
pháp luật nước ngoài chỉ được áp dụng nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của
việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam là những nguyên tắc được quy
định trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) và các văn bản pháp luật khác của
Việt Nam. Việc không áp dụng trong trường hợp này không phải pháp luật
nước ngoài mâu thuẫn với pháp luật Việt Nam mà vì hậu quả của nó sẽ không
tốt, không lành mạnh, ảnh hưởng đến nền tảng đạo đức, thuần phong, mỹ tục
của dân tộc ta.
*

Nguyên tắc áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam đối

với quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Nguyên tắc này được quy định tại
Điều 7 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000, theo đó, nếu chương XI
không có quy định điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài thì sẽ áp
dụng các quy định của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Quy định này
hoàn toàn phù hợp với thực tế pháp luật Việt Nam hiện chưa có các quy phạm
xung đột để điều chỉnh tất cả các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài phát sinh. Ngoài ra, Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam cũng
quy định áp dụng Bộ luật dân sự điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình, có
1
8


đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (sau đây viết tắt là
Nghị định số 68/NĐ - CP ngày 10/7/2002): “Trong trường hợp người nước
ngoài kết hôn với nhau tại Việt Nam trước cơ quan có thẩm quyền của Việt
Nam thì mỗi bên phải tuân theo pháp luật nơi thường trú (đối với người
không quốc tịch) về điều kiện kết hôn; ngoài ra, các bên còn phải tuân theo
1
9


Điều 9 và Điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về điều kiện kết
hôn và các trường hợp cấm kết hôn”.
Việc pháp luật Việt Nam quy định áp dụng nguyên tắc này là hoàn toàn
phù hợp với thực tế quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Tham gia quan hệ
này, không chỉ có công dân Việt Nam và người có quốc tịch nước ngoài mà
còn cả người không quốc tịch. Do đó, nếu áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch
sẽ không giải quyết được trong trường hợp này mà phải căn cứ vào nơi cư trú.
*

Nguyên tắc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài theo

luật của nước có Toà án, cơ quan có thẩm quyền (lex fori) đối với các vấn đề
phát sinh.
Nguyên tắc này được áp dụng điều chỉnh vấn đề đăng ký kết hôn của
các bên đương sự quy định tại khoản 1,2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình
Việt Nam 2000. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực
hiện việc đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam; Cơ quan đại
diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện đăng
ký kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam, Điều ước quốc tế
mà Việt Nam ký nếu việc đăng ký không trái pháp luật nước sở tại.
*

công dân được ghi nhận trong các Hiến pháp 1946; Hiến pháp 1959; Hiến
pháp 1980; Hiếp pháp 1992 (sửa đổi 2001) (Điều 64). Đây là cơ sở để các văn
bản pháp luật khác cụ thể hoá, đưa luật vào cuộc sống điều chỉnh các quan hệ
kết hôn có yếu tố nước ngoài.
Bộ luật dân sự
Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là một trong các loại quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngoài nên quan hệ này cũng được điều chỉnh trong Bộ luật
dân sự. Bộ luật dân sự năm 2005 là Bộ luật chung điều chỉnh tất cả các quan
hệ dân sự theo nghĩa rộng, chứa đựng các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh quan
hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.
Luật hôn nhân và gia đình
Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam là luật chuyên điều chỉnh quan hệ
hôn nhân và gia đình gồm cả quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài. Hiện nay, Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2000 là văn bản mới
nhất dành chương XI để quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài, trong đó có quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.
2
1


Điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, ngoài ba văn bản
chính nêu trên còn có các văn bản pháp luật khác điều chỉnh: Luật quốc tịch
Việt Nam 2001; Pháp lệnh lãnh sự 1990; Nghị định số 158/NĐ - CP ngày
27/12/2005 của Chính Phủ điều chỉnh về đăng ký và quản lý hộ tịch (viết tắt
Nghị định số 158/NĐ - CP ngày 27/12/2005); Nghị định số 68 /2002/NĐ - CP
ngày 10/7/2002; Nghị định số 69/NĐ - CP ngày 21/7/2006 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định số 68 /2002/NĐ - CP ngày 10/7/2002 (viết tắt là
Nghị định số 69/NĐ - CP ngày 21/7/2006); Thông tư số 07/TT – BTP ngày
16/12/2002 về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 68/NNĐ CP ngày 10/7/2002 (viết tắt là Thông tư số 07/TT – BTP ngày 16/12/2002);…
1.3.2. Điều ước quốc tế


quy

Việt Nam, nguyên tắc áp dụng tập quán quốc tế không được

định cụ thể trong Luật hôn nhân và gia đình 2000 nhưng được quy định tại
khoản 4 Điều 759 Bộ luật dân sự: “Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu
tố nước ngoài không được Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
hoặc hợp đồng dân sự giữa các bên điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế ,
nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên
tắc cơ bản của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Quy định
này cũng được áp dụng để điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài vì đây cũng là một loại quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
1.3.4. Mối quan hệ giữa các loại nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ kết
hôn có yếu tố nước ngoài:
Như trên đã phân tích, có nhiều loại nguồn pháp luật khác nhau điều
chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nhưng luôn có mối quan hệ khăng
khít, hỗ trợ cho nhau điều chỉnh quan hệ này.
Nguồn pháp luật trong nước là một loại nguồn cơ bản, phổ biến để điều
chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Nguồn pháp luật này do Nhà
nước của mỗi nước ban hành để điều chỉnh quan hệ kết hôn trong phạm vi
lãnh thổ nước mình. Tuy nhiên, do tính đặc thù của yếu tố nước ngoài nên


2
3




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status