Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập WTO - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
 PHẠM TUYÊN

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP WTO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ HÀ NỘI - 2010

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ


1.1.3. Một số quy định của WTO điều chỉnh lĩnh vực FDI 21
1.2. Những cơ hội, thách thức trong thu hút FDI thời kỳ hội nhập WTO 24
1.2.1. Những cơ hội thu hút FDI khi Vit Nam là th nh viên ca
WTO 24
1.2.2. Những thách thức trong thu hút FDI khi Vit Nam là
th nh viên WTO 32
1.3. Bài học kinh nghiệm thu hút FDI của một số n-ớc khi đã là
thành viên của WTO 42
1.3.1. Kinh nghiệm thu hút FDI của một số n-ớc 42
1.3.2. Bài học kinh nghiệm thu hút FDI 45
Chng 2. Thực trạng thu hút FDI của Việt Nam từ khi gia nhập
WTO 47
2.1. ảnh h-ởng của các định chế WTO đến FDI tại Việt Nam 47
2.1.1. Những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO ảnh
h-ởng đến FDI 47
2.1.2. Tác động của một số định chế WTO tới FDI tại Việt
Nam 51
2.2. Thực trạng thu hút và sử dụng FDI của Việt Nam 62
2.2.1. Tổng quan về FDI của Việt Nam tr-ớc khi hội nhập
WTO 62
2.2.2. FDI Việt Nam từ khi hội nhập WTO 67
2.3. Đánh giá chung và bài học kinh nghiệm trong thu hút FDI tại
Việt Nam thời kỳ Hội nhập WTO 73
2.3.1. Đánh giá chung 73
2.3.2. Bài học kinh nghiệm trong thu hút FDI khi gia nhập
WTO 79
Chng 3. Quan điểm, ph-ơng h-ớng và giải pháp thu hút đầu t-
trực tiếp n-ớc ngoài ở Việt Nam 81
3.1. Quan điểm, định h-ớng thu hút FDI trong giai đoạn hiện nay 81
3.1.1. Quan điểm thu hút FDI 81

Asean Free Trade Area - Khu vực Th-ơng mại tự do ASEAN
NaFta
North American Free Trade Agreement - Hiệp định Th-ơng mại
tự do Bắc Mỹ
ASEAN
Association of the South-East Asian Nations - Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam á
Nies
Các nền kinh tế mới công nghiệp hoá
EU
European Union - Liên minh châu Âu
APEC
Asia Pacific Economy Cooperation - Diễn đàn Hợp tác kinh tế
châu á - Thái Bình D-ơng
ASEM
Diễn đàn hợp tác á - Âu
UNCTAD
ủy ban Th-ơng mại và Phát triển Liên hiệp quốc về
Jica
Japan International Cooperation Agency - Cơ quan hợp tác quốc
tế Nhật bản
TBCN
T- bản chủ nghĩa
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
USD
Đồng Đô - la Mỹ
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội


hiện, liên tục bổ sung và hoàn thiện Luật đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã đạt
được nhiều thành công lớn trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, góp 2
phần không nhỏ vào quá trình giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước, cải thiện, nâng cao mức sống dân cư, từng bước đưa Việt
Nam hoà nhập vào sự phát triển chung của thế giới.
Việc Việt Nam gia nhập WTO đã tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn
trong thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Sau ba năm gia nhập
WTO, đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam đã có những bước tăng trưởng
mạnh mẽ cả về số lượng, chất lượng, loại hình và quy mô đầu tư. Theo Cục
Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong năm 2007, nước ta đã thu
hút được 20,3 tỷ USD FDI, mức cao nhất so với các năm trước đó. Năm 2008,
số vốn FDI đăng ký tại Việt Nam năm 2008 ước đạt trên 74,5 tỷ USD, tăng
hơn 200% so với năm 2007, vốn giải ngân đạt khoảng 11,5 tỷ USD, tăng
43,2% so với năm 2007. Trong năm 2009, vốn đầu tư đăng ký vào Việt Nam
ước đạt 21,48 tỷ USD và vốn thực hiện ước đạt 10 tỷ USD [7], [8], [9].
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài từ năm 2007 đến nay cũng bộc lộ những mặt yếu kém, hạn chế,
làm suy giảm dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đồng thời bối cảnh bên
ngoài và điều kiện bên trong nền kinh tế đang đặt ra những thách thức mới.
Để nâng cao hơn nữa hiệu quả hợp tác đầu tư trực tiếp nước ngoài, phục vụ
chiến lược phát triển kinh tế đất nước trong thời kỳ hội nhập WTO thì việc
nghiên cứu, tìm hiểu những cơ hội, thách thức đặt ra trong việc thu hút FDI,
từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thu hút FDI kể từ khi Việt Nam gia nhập
WTO là vấn đề cấp thiết có ý nghĩa thực tiễn.
Do vậy, tôi chọn đề tài: ''Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
trong thời kỳ hội nhập WTO” làm Luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài

* Mục đích:
- Đánh giá, phân tích thực trạng và những cơ hội, thách thức trong thu
hút FDI, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc thu hút FDI
trong giai đoạn hiện nay. 4
* Nhiệm vụ:
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về FDI và WTO và các
định chế của WTO liên quan đến FDI.
- Đánh giá cơ hội và thách thức thu hút FDI khi Việt Nam gia nhập
WTO. Đồng thời tìm hiểu bài học kinh nghiệm thu hút FDI của một số quốc
gia sau khi gia nhập WTO.
- Tổng hợp các cam kết của Việt Nam có liên quan đến FDI từ đó đánh
giá tác động việc thực hiện các cam kết này tới thu hút FDI giai đoạn hiện nay
- Tổng hợp và đánh giá thực trạng thu hút FDI từ khi Hội nhập WTO,
từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong thu hút FDI của Việt Nam.
- Xác định các quan điểm, phương hướng trong thu hút FDI trong giai
đoạn hiện nay và qua đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh thu
hút FDI ở Việt Nam trong thời kỳ mới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn chủ yếu nghiên cứu tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài ở Việt Nam từ khi hội nhập WTO cho đến nay.
5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
* Nguồn tài liệu:
- Các học thuyết chủ nghĩa Mác-Lênin; Văn kiện Đại hội Đảng Cộng

1.1. Khái quát chung về FDI, WTO
1.1.1. Khái quát chung về WTO
1.1.1.1. Mục tiêu hoạt động và chức năng của WTO
WTO với tư cách là một tổ chức thương mại của tất cả các nước trên
thế giới, thực hiện những mục tiêu đã được nêu trong Lời nói đầu của Hiệp
định GATT 1947 là nâng cao mức sống của nhân dân các thành viên, đảm bảo
việc làm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thương mại, sử dụng có hiệu quả
nhất các nguồn lực của thế giới. Cụ thể WTO có 3 mục tiêu sau:
Thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hoá và dịch vụ trên thế giới
phục vụ cho sự phát triển ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường;
Thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng
và tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ
thống thương mại đa phương, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Công
pháp quốc tế; bảo đảm cho các nước đang phát triển và đặc biệt là các nước
kém phát triển nhất được thụ hưởng thụ những lợi ích thực sự từ sự tăng
trưởng của thương mại quốc tế, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế của các
nước này và khuyến khích các nước này ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào
nền kinh tế thế giới;
Nâng cao mức sống, tạo công ăn, việc làm cho người dân các nước
thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn
trọng.
WTO thực hiện 5 chức năng sau: 7
- Thống nhất quản lý việc thực hiện các hiệp định và thoả thuận thương
mại đa phương và nhiều bên; giám sát, tạo thuận lợi, kể cả trợ giúp kỹ thuật
cho các nước thành viên thực hiện các nghĩa vụ thương mại quốc tế của họ.
- Là khuôn khổ thể chế để tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa
phương trong khuôn khổ WTO, theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng

Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Treatment - NT), quy định tại
Điều III Hiệp định GATT, Điều 17 GATS và Điều 3 TRIPS. Nguyên tắc NT
được hiểu là hàng hoá nhập khẩu, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài
phải được đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hoá cùng loại trong
nước. Trong khuôn khổ WTO, nguyên tắc NT chỉ áp dụng đối với hàng hoá,
dịch vụ, các quyền sở hữu trí tuệ, chưa áp dụng đối với cá nhân và pháp nhân.
+ Nguyên tắc mở cửa thị trường
Nguyên tắc "mở cửa thị trường" hay còn gọi một cách hoa mỹ là "tiếp
cận" thị trường (market access) thực chất là mở cửa thị trường cho hàng hoá,
dịch vụ và đầu tư nước ngoài. Trong một hệ thống thương mại đa phương, khi
tất cả các bên tham gia đều chấp nhận mở cửa thị trường của mình thì điều đó
đồng nghĩa với việc tạo ra một hệ thống thương mại toàn cầu mở cửa.
+ Nguyên tắc cạnh tranh công bằng
Cạnh tranh công bằng (fair competition) thể hiện nguyên tắc "tự do
cạnh tranh trong những điều kiện bình đẳng như nhau” và được công nhận
trong vụ án Uruguay kiện 15 nước phát triển (1962) về việc áp dụng các mức
thuế nhập khẩu khác nhau đối với cùng một mặt hàng nhập khẩu. Các nước
phát triển có thể bị kiện ngay cả khi về mặt pháp lý không vi phạm bất kỳ
điều khoản nào trong hiệp định GATT nếu những nước này có những hành vi
trái với nguyên tắc "cạnh tranh công bằng" [53].
- Cơ cấu tổ chức của WTO
WTO có một cơ cấu gồm 3 cấp:
- Các cơ quan lãnh đạo chính trị và có quyền ra quyết định (decision-
making power) bao gồm Hội nghị Bộ trưởng, Đại hội đồng WTO, Cơ quan
giải quyết tranh chấp và cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại;
- Các cơ quan thừa hành và giám sát việc thực hiện các hiệp định
thương mại đa phương, bao gồm Hội đồng GATT, Hội đồng GATS, và Hội 10

11
chính phủ khác với một số tổ chức khác. Về nguyên tắc, các quyết định lớn và
quan trọng nhất của WTO do chính phủ tất cả các nước thành viên thông qua,
hoặc ở cấp Bộ trưởng tại Hội nghị Bộ trưởng hoặc ở cấp Đại sứ tại Đại hội
đồng WTO. Tất cả các quyết định này thông thường được thông qua trên cơ
sở đồng thuận.
- Cơ chế giải quyết tranh chấp:
Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT 1947 đã được hầu hết các
chuyên gia về thương mại quốc tế đánh giá rất cao và được công nhận như là
một trong những thành công quan trọng nhất của GATT sau gần 50 năm tồn
tại. Những nguyên tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp của GATT đã được
WTO kế thừa và phát triển.
Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xây dựng trên bốn nguyên
tắc: công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận được đối với các bên
tranh chấp, phù hợp với mục tiêu bảo toàn các quyền và nghĩa vụ, phù hợp
với các hiệp định thương mại có liên quan trên cơ sở tuân thủ các quy phạm
của luật tập quán quốc tế về giải thích điều ước quốc tế.
Ngoài ra, WTO cũng sẽ tiếp tục áp dụng cách giải quyết tranh chấp của
GATT 1947 như: tái lập sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ; giải quyết tích
cực các tranh chấp; cấm đơn phương áp dụng các biện pháp trả đũa khi chưa
được phép của WTO. Nguyên tắc cấm đơn phương áp dụng các biện pháp
trừng phạt có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của hệ thống thương mại
toàn cầu.
- Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO
Cơ quan giải quyết tranh chấp: Viết tắt theo tiếng Anh là DSB (Dispute
Settlement Body) có quyền quyết định thành lập và thông qua báo cáo của
nhóm chuyên gia và nhóm phúc thẩm, giám sát việc thực hiện các quyết định
về giải quyết tranh chấp, cho phép tạm đình chỉ việc áp dụng các hiệp định
thương mại với một nước thành viên, cho phép áp dụng các biện pháp trừng



13
- Trong thành phần của nhóm chuyên gia nhất thiết phải có một thành
viên là công dân của một nước đang phát triển, trừ khi nước đang phát triển
có liên quan không yêu cầu như vậy;
- Thời gian để giải quyết tranh chấp với các nước đang phát triển có thể
được kéo dài hơn so với quy định chung;
- Các nước phát triển cần có thái độ kiềm chế khi áp dụng các biện
pháp trả đũa với bên thua kiện là nước đang phát triển;
- Các nước phát triển có thể được phép áp dụng các biện pháp trả đũa
chéo đối với bên thua kiện là nước phát triển;
- Các nước đang phát triển có thể yêu cầu Ban Thư ký WTO trợ giúp
pháp lý khi có tranh chấp;
- Các nước đang phát triển có thể áp dụng các thủ tục giải quyết tranh
chấp được Đại hội đồng GATT thông qua theo Quyết định ngày 5-4-1966.
- Cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại
Cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại (TPRM), đạt được tại Vòng
đàm phán Uruguay và đã được áp dụng tạm thời từ năm 1989 theo quyết định
của Hội nghị Bộ trưởng đánh giá giữa kỳ tại Montréal, Canađa. Nội dung
chính của TPRM là xem xét định kỳ, đánh giá chính sách và thực tiễn thương
mại của tất cả các thành viên WTO. Việc kiểm điểm thực hiện theo nguyên
tắc nước thành viên có vị trí càng quan trọng trong thương mại quốc tế thì
càng phải kiểm điểm thường xuyên hơn các nước thành viên khác. Vì vậy,
bốn cường quốc thương mại lớn nhất thế giới là Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ,
Nhật Bản, Canađa, sẽ kiểm điểm 2 năm/lần, 16 thành viên xếp tiếp theo đó sẽ
kiểm điểm 4 năm/lần. Trung bình một năm có khoảng 20 năm phải kiểm điểm
chính sách thương mại [17].
Cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại khác với Cơ chế giải quyết
tranh chấp là không có quyền cưỡng chế hoặc giải thích các điều khoản của
các Hiệp định của WTO.

định kỳ "tự kiểm điểm" về chính sách và thực tiễn thương mại của mình trước 15
tất cả các thành viên khác. TPRM cũng là cơ hội để các nước thành viên, đặc
biệt là các nước đang phát triển nhận sự trợ giúp kỹ thuật của Ban Thư ký
WTO, tìm hiểu về các chính sách thương mại của các thành viên khác. TPRM
cũng giúp các thành viên thúc đẩy các cải cách thương mại cần thiết nhân dịp
kiểm điểm việc thực hiện những cam kết thương mại. TPRM cũng thúc đẩy
quá trình minh bạch hoá trong việc ra quyết định và luật lệ về thương mại tại
các nước thành viên. Tuy nhiên, Hiệp định về TPRM cũng nói rõ "minh bạch
hoá" là vấn đề "chính trị nội bộ" của mỗi nước và phải được thực hiện trên cơ
sở tự nguyện, có tính đến sự khác biệt về hệ thống chính trị và luật pháp của
từng nước thành viên.
1.1.2. Khái quát chung về FDI
1.1.2.1. Khái niệm, bản chất, đặc điểm của FDI
* Khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) là một
hình thức của đầu tư nước ngoài. Sự ra đời và phát triển của FDI là kết quả tất
yếu của quá trình toàn cầu hoá và phân công lao động quốc tế. Trên thực từ có
rất nhiều cách nhìn nhận khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài, do đó
cũng có khá nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) định nghĩa FDI là: "Một khoản đầu tư với
những quan hệ lâu dài, theo đó, một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu
tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh
tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong
việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó" [22, tr.31].
Hội nghị Liên Hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) cũng
đưa ra khái niệm về FDI: "Luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực
tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nước

là hình thức đầu tư không trở thành nợ. Đây là nguồn vốn có tính chất "bén
rễ" ở các nước bản địa nên không dễ rút đi trong thời gian ngắn. Ngoài ra,
FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận mà đi kèm với vốn là cả kỹ thuật, 17
công nghệ, bí quyết kinh doanh và năng lực Marketing.
Như vậy, xét về bản chất thì FDI là sự hợp tác theo nguyên tắc thoả
thuận của hai hay nhiều quốc gia khác nhau với những đặc điểm về kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội, điều kiện tự nhiên hay trình độ phát triển khác
nhau. Chính sự khác nhau này đòi hỏi các bên tham gia đầu tư phải tuân thủ
đầy đủ các hệ thống pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, đồng thời hạn
chế những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hợp tác đầu tư.
* Đặc điểm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, FDI là hình thức đầu tư chủ yếu trong đầu tư nước ngoài. So
với các hình thức đầu tư khác của đầu tư nước ngoài thì FDI có hiệu quả đầu
tư cao hơn, tạo sự chuyển biến lớn trong vốn đầu tư toàn xã hội của nước
nhận đầu tư, gắn liền với quá trình sản xuất trực tiếp và tham gia vào quá trình
phân công lao động quốc tế theo chiều sâu.
Thứ hai, FDI không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh
nặng nợ nần cho các nước nhận đầu tư mà ngược lại, FDI tạo điều kiện thuận
lợi để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước.
Thứ ba, FDI chủ yếu đầu tư vào các ngành có hàm lượng khoa học cao,
chu chuyển vốn nhanh và có hiệu quả kinh tế cao.
Thứ tư, trong hoạt động FDI, kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh
của dự án được phân chia cho các bên theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định
sau khi nộp thuế cho nước sở tại và trả lợi tức cổ phần (nếu có).
Thứ năm, FDI hiện nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế
của các công ty xuyên quốc gia (TNC), chịu sự chi phối của nhiều hệ thống

trường nước ngoài. Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong trường hợp này sẽ hạ
được giá thành sản phẩm do ở gần thị trường tiêu thụ, từ đó sẽ thu được lợi
nhuận lớn hơn.
+ Xuất khẩu công nghệ lạc hậu:
Do các nước phát triển có trình độ khoa học - công nghệ phát triển vượt 19
xa so với các nước đang phát triển và chậm phát triển hàng chục năm, thậm
chí hàng trăm năm. Do vậy, công nghệ được coi là lạc hậu ở các nước phát
triển có thể lại là công nghệ mới hay thậm chí là công nghệ đang được sử
dụng tối ưu ở các nước đang phát triển và chậm phát triển. Thông qua hoạt
động đầu tư trực tiếp nước ngoài, việc chuyển giao công nghệ sẽ kéo dài hơn
chu kỳ sống của công nghệ và sản phẩm do công nghệ đó sản xuất ra.
+ Sự ưu đãi của các nước sở tại:
Các quốc gia trên thế giới hiện nay, nhất là các nước đang phát triển
như Việt Nam đều có xu hướng khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
đất nước mình thông qua các chính sách cực kỳ ưu đãi về thuế, thủ tục hành
chính, hay về hoạt động kinh doanh… Vì vậy, các nhà đầu tư nước ngoài cần
nắm bắt được những ưu đãi này để có thể quyết định đầu tư trực tiếp.
+ Sự dư thừa vốn của các quốc gia phát triển:
Các quốc gia phát triển luôn có một lượng vốn nhàn rỗi lớn, trong khi
điều kiện đầu tư trong nước gần như đã bão hoà, họ tìm đến những nước có
cầu về vốn với những điều kiện thuận lợi hơn để đầu tư nhằm kiếm lời. Chính
việc đầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng sẽ
tạo ra động lực phát triển cho các quốc gia nghèo.
+ Khai thác nguồn lực nước ngoài:
Khi các nguồn lực trong nước trở nên khan hiếm, bao gồm cả các
nguồn lực tự nhiên và con người, các chủ đầu tư sẽ tiến hành đầu tư ra nước
ngoài để khai thác các nguồn lực của nước mà họ đầu tư.

cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Ngược lại thì sẽ cản trở hoạt động
này.
Cơ chế chính sách cũng ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng thu hút FDI
của một quốc gia. Cơ chế chính sách phản ánh khả năng sinh lợi của vốn đầu
tư, cũng như đảm bảo an toàn cho sự sinh lợi của đồng vốn. Nó thể hiện sự ưu
đãi, khuyến khích hay hạn chế đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
+ Thủ tục hành chính:

Trích đoạn FDI ViệtNam từ khi hội nhập WTO Theo ngành, sản phẩm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status