Quản lý nhà nước về kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh bắc ninh - Pdf 69

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

…………/…………
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

……/……

TRIỆU THỊ BÍCH HỒNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI - NĂM 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO


…………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TRIỆU THỊ BÍCH HỒNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI

MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH HỖ TRỢ
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

1.1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa - Khái niệm, đặc điểm và vai trò

1.2. Chính sách tài chính hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa - Khái
niệm, nội dung và tác động

1.2.3. Tác động của chính sách tài chính đến sự phát triển của
1.3. Kinh nghiệm của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương; một số quốc gia và bài học cho Bắc Ninh

Chương 2. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH HỖ TRỢ
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở TỈNH BẮC NINH

2.1. Khái quát về tỉnh Bắc Ninh và thực trạng doanh nghiệp
nhỏ và vừa ở tỉnh Bắc Ninh

Trang


2.1.2. Thực trạng doanh nghiệp nhỏ và vừa ở tỉnh Bắc Ninh
2.2. Thực trạng chính sách tài chính hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ
và vừa ở tỉnh Bắc Ninh
2.2.1. Chính sách thuế hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
2.2.2. Chính sách tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Doanh nghiệp nhỏ và vừa

GDP:

Tổng sản phẩm trong nước

GRDP:

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh

GTGT:

Giá trị gia tăng

HĐND:

Hội đồng nhân dân

NHNN:

Ngân hàng Nhà nước

NSNN:

Ngân sách Nhà nước

NXB:

Nhà xuất bản


và hình thức sở hữu năm 2019
Bảng 2.4. Số lượng DNNVV đang hoạt động tại thời điểm 31/12
hằng năm phân theo ngành kinh tế
Bảng 2.5. Đóng góp của DNNVV vào GRDP và NSNN của tỉnh


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm trên 98% tổng số doanh
nghiệp, đóng góp 40% GDP và tạo ra 50% số lượng việc làm cho xã hội [10],
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế; làm tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh
của nền kinh tế; nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế và đóng góp một phần
không nhỏ vào ngân sách Nhà nước (NSNN), thúc đẩy an sinh xã hội. Phát triển
DNNVV là tất yếu và chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp và
Luật Đầu tư đã tác động tích cực đến quá trình phát triển doanh nghiệp Việt
Nam, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng cho tất cả các loại
hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, các DNNVV hiện nay chủ yếu là thiếu vốn và
khó tiếp cận với nguồn vốn tín dụng chính thức; trình độ kỹ thuật, công nghệ,
trình độ tay nghề của người lao động, trình độ quản lý thấp; thiếu thông tin, hoạt
động trong một phân khúc thị trường nhỏ, năng lực cạnh tranh kém.
Trong thời gian qua, Chính phủ đã ban hành các chính sách hỗ trợ phát
triển DNNVV song kết quả thực hiện các chính sách còn hạn chế, các DNNVV
vẫn gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển. Một số nguyên nhân dẫn đến
các chính sách hỗ trợ của Chính phủ chưa thực sự phát huy hiệu quả như mong
đợi đó là: hệ thống chính sách hỗ trợ DNNVV còn phân tán, quy mô chưa đủ
lớn, thiếu trọng tâm, thiếu nhất quán; doanh nghiệp phải chịu nhiều áp lực của
thủ tục hành chính phức tạp, tốn kém; DNNVV chưa nhận được sự bình đẳng
trong tiếp cận nguồn lực (vốn, đất đai).

vậy, việc nghiên cứu một cách nghiêm túc, điều tra ghi nhận những đánh giá từ
phía doanh nghiệp về các chính sách tài chính hỗ trợ doanh nghiệp đã và đang
được thực hiện để hoàn thiện các chính sách tài chính hỗ trợ phát triển DNNVV
phù hợp với môi trường kinh tế mới. Với những lý do trên, học viên đã lựa chọn
đề tài “Chính sách tài chính hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và
vừa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp
thạc sĩ là rất cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về sự phát triển của DNNVV và


3
các chính sách tài chính ảnh hưởng đến sự phát triển của DNNVV đã được một
số nhà khoa học, thực tiễn nghiên cứu thực hiện, tiêu biểu là:
Một là, các công trình nghiên cứu về vai trò của DNNVV.
-

Cuốn sách“Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam - Thực trạng và giải

pháp” của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam [56]. Các tác giả đã
nghiên cứu về thực trạng phát triển DNNVV ở Việt Nam trong những năm 90,
khẳng định tầm quan trọng của DNNVV trong sự phát triển của đất nước. Trong
nghiên cứu này, các tác giả cũng đánh giá sự ảnh hưởng của việc Việt Nam gia
nhập vào ASEAN đến hoạt động của DNNVV.
-

Cuốn sách “Đổi mới cơ chế và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và

nhỏ Việt Nam đến 2005” của Nguyễn Cúc [24]. Tác giả nghiên cứu sự tác động
của cơ chế quản lý kinh tế trong quá trình xây dựng, phát triển nền kinh tế thị

nghiệp, cải cách hành chính, hoàn thiện chính sách tài chính, tín dụng, hoàn
thiện chính sách thuế, xây dựng chiến lược đào tạo nguồn nhân lực cho
DNNVV.
-

Luận án “Quá trình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc

doanh ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997-2003 - Thực trạng, kinh nghiệm và giải
pháp” của Mẫn Bá Đạt [27], nghiên cứu về cơ sở lý luận phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh. Bằng phương pháp thống kê, phân tích tác
giả luận án đã làm rõ thực trạng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc
doanh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 1997-2003 và đề xuất phương
hướng, giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tỉnh Bắc Ninh trong thời
gian tới.
-

Luận án“Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Thành phố Hồ Chí Minh sau khi

Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO” của Thái Văn Rê [71],
nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về DNNVV trong nền kinh tế thị trường
mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam; tác động của việc Việt Nam gia nhập
WTO đến DNNVV. Luận án cũng nghiên cứu thực trạng DNNVV ở Thành phố
Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2005- 2010 từ đó đề xuất các giải pháp phát triển
DNNVV trên địa bàn thành phố đến năm 2020. Giải pháp phát triển DNNVV
nhìn từ góc độ doanh nghiệp - nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV và
các giải pháp phát triển DNNVV dưới góc độ phía ngoài doanh nghiệp như: cải
cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện tiếp cận đất đai, tiếp tục thực hiện các
chương trình hỗ trợ DNNVV, khuyến khích DNNVV tham gia vào các chương
trình liên kết ngành và liên kết vùng, nâng cao hiệu quả điều phối thực hiện các
hoạt động trợ giúp DNNVV phát triển.

chính sách có tác dụng rõ nét nhất đến DNNVV đó là: chính sách khuyến khích
đầu tư trong nước, chính sách tài chính tín dụng và chính sách đổi mới các
doanh nghiệp nhà nước. Nghiên cứu cũng cho thấy tác động của các chính sách
này là không đồng đều trên tất cả các ngành và loại hình doanh nghiệp.
-

Luận án“Chính sách tài chính hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và

vừa ngoài quốc doanh vùng đồng bằng sông Cửu Long” của Nguyễn Thiện
Phong [55], đã hệ thống hoá lý luận về DNNVV và chính sách tài chính hỗ trợ
phát triển DNNVV. Thống kê, phân tích thực trạng tài chính các DNNVV ngoài
quốc doanh vùng đồng bằng sông Cửu Long trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp
hoàn thiện chính sách tài chính (chính sách thuế, chính sách tín dụng, chính
sách phát triển thị trường, chính sách phát triển thị trường tài chính) và các
chính sách có liên quan hỗ trợ phát triển các DNNVV trên địa bàn.


6
-

Luận án“Các giải pháp tài chính - kế toán để phát triển doanh nghiệp

nhỏ và vừa ở Việt Nam” của Hà Quý Sáng [72], nghiên cứu về các tiêu thức
phân loại DNNVV, ưu thế và hạn chế của DNNVV trong hoạt động kinh doanh.
Luận án phân tích thực trạng phát triển DNNVV; thực trạng chính sách tài chính
(chính sách thuế, chính sách tín dụng, chính sách tỷ giá, chính sách chi ngân
sách) và chính sách kế toán (chế độ kế toán, công tác tổ chức và chuẩn mực kế
toán) đối với phát triển DNNVV. Luận án đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện
chính sách tài chính, kế toán để phát triển DNNVV.
-

7
những tác động tích cực nhất định đến năng lực cạnh tranh của DNNVV tuy
nhiên tác động của các công cụ này mới dừng lại ở mức độ giảm bớt bất lợi chứ
chưa tạo được những tác động hỗ trợ. Luận án cũng đề xuất một số giải pháp
hoàn thiện các công cụ tài chính vĩ mô nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
DNNVV Việt Nam.
-

Luận án “Giải pháp tài chính phát triển DNNVV trên địa bàn thành

phố Hà Nội trong thời kỳ hội nhập” của Ngô Thị Mai Linh [43], nghiên cứu làm
rõ nội hàm phát triển DNNVV; thực trạng hoạt động của các DNNVV tại Hà
Nội trong giai đoạn 2008-2014; đánh giá các giải pháp tài chính (thuế, tín dụng,
tỷ giá, các quỹ trợ giúp, hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh (SXKD) mà
Thành phố Hà Nội đã sử dụng để phát triển DNNVV. Trên cơ sở đó, tác giả đã
đề xuất các giải pháp tài chính phát triển DNNVV Hà Nội trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế.
Ngoài ra, các bài viết: Sử dụng chính sách tài chính hỗ trợ phát triển
doanh nghiệp nhỏ và vừa của Đỗ Minh Tuấn, đăng trên Tạp chí Tài chính, 2002,
số 7; Chính sách hỗ trợ tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa từ kinh nghiệm quốc
tế đến thực tiễn Việt Nam của Nguyễn Đình Tài, Lê Thanh Tú đăng trên Tạp chí
Tài chính, 2008, số 4; Chính sách hỗ trợ tài chính đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ: trao đổi kinh nghiệm một số nước và vấn đề đối với Việt Nam của Bình Vũ,
đăng trên Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, 2002, số 5;
Chính sách tài chính hỗ trợ khởi nghiệp: kinh nghiệm quốc tế và bài học với
Việt Nam của Phạm Hữu Hồng Thái, Hồ Thị Lam, đăng trên Tạp chí Tạp chí Tài
chính, 2018, số 678 (kỳ 1 tháng 4); Chính sách hỗ trợ tiếp cận tài chính cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thái Lan của Nguyễn Tuấn Anh, đăng trên Tạp chí
Nghiên cứu Đông Nam Á, 2019, số 7…
Ba là, các công trình nghiên cứu về từng nội dung của chính sách tài

nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam” của Phạm Xuân Hoà [33], nghiên cứu về gánh
nặng thuế của DNNVV. Luận án chỉ ra gánh nặng thuế của DNNVV bao gồm 2
yếu tố: số thuế mà doanh nghiệp phải nộp và chi phí tuân thủ thuế. Luận án đã
nghiên cứu gánh nặng do thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và thuế giá trị
gia tăng (GTGT) tạo ra cho DNNVV. Trong nghiên cứu của mình, tác giả Phạm
Xuân Hoà đã tính toán chi phí tuân thủ thuế của DNNVV được đo bằng tiền và
thời gian. Kết quả cho thấy chi phí tuân thủ thuế của DNNVV ở Việt Nam là rất
cao.
-

Bài viết “Ưu đãi thuế - giải pháp tài chính hỗ trợ, phát triển doanh

nghiệp vừa và nhỏ” của PGS,TS Nguyễn Thị Thương Huyền và TS Lý Phương
Duyên [39]. Cấu trúc bài viết gồm 3 phần: (1) Chính sách ưu đãi thuế trong việc
hỗ trợ, phát triển DNNVV; (2) Thực tiễn sử dụng chính sách ưu đãi thuế trong
việc hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam và (3) Đề xuất sử dụng chính sách ưu đãi thuế
đối với việc phát triển DNNVV trong thời gian tới. Trong đó, tác giả bài viết tập
trung phân tích, nhấn mạnh một số giải pháp sử dụng chính sách ưu đãi thuế cho
việc phát triển DNNVV đến năm 2020, cụ thể: Giảm thuế suất thuế TNDN.
Hiện nay, mức thuế suất áp dụng chung cho các doanh nghiệp đều là 25%,
không phân biệt quy mô doanh nghiệp và để thúc đẩy sự phát triển của các


9
DNVVN, nên cho áp dụng mức thuế suất thuế TNDN thấp hơn so với mức thuế
suất phổ thông - có thể là 20% thay vì 25% cho các DNNVV hoặc cho các
DNNVV trong một số lĩnh vực nhất định cần khuyến khích đầu tư như sản xuất,
gia công, chế biến nông lâm thuỷ sản, dệt may, da giày. Việc giảm gánh nặng
thuế thông qua ưu đãi về mức thuế suất sẽ làm tăng phần lợi nhuận để lại cho
doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thêm vốn để đầu tư và phát triển SXKD.

viết khẳng định, hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV là một
trong những chính sách quan trọng được các nước chú trọng nhằm khuyến
khích, thúc đẩy khu vực doanh nghiệp này nâng cao năng lực cạnh tranh, phát
triển bền vững, qua đó góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh
xã hội. Từ thực trạng Chính sách hỗ trợ tín dụng cho DNNVV ở một số quốc
gia như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Đài Loan, bài viết chỉ ra một số vấn đề đặt ra đối
với Việt Nam, gồm: Thứ nhất, đánh giá đúng mức vai trò quan trọng và vị trí
của DNNVV trong phát triển kinh tế. Thứ hai, thành lập nhiều tổ chức chuyên
trách hỗ trợ các DNNVV trên nhiều lĩnh vực. Thứ ba, hỗ trợ tín dụng không nên
triển khai một cách đại trà, cần có chọn lọc, có trọng tâm, trọng điểm. Thứ tư,
việc hỗ trợ doanh nghiệp DNNVV tiếp cận tín dụng cần được nhìn nhận như
một cấu phần trong hệ thống hỗ trợ tổng thể cho DNNVV. Thứ năm, cần có sự
phối hợp, chia sẻ thông tin của các cơ quan hỗ trợ từ cấp trung ương đến địa
phương như ngân hàng, các quỹ bảo lãnh tín dụng, quỹ hỗ trợ phát triển doanh
nghiệp, các tổ chức thẩm định... Thứ sáu, trong thời đại Cách mạng công nghiệp
4.0, để hỗ trợ DNNVV tiếp cận các nguồn tài chính, tín dụng cần tích cực triển
khai các giải pháp công nghệ mới nhằm giảm chi phí, nâng cao hiệu quả và tính
minh bạch của chương trình.
-

Bài viết “Tín dụng chính sách của Ngân hàng Chính sách xã hội đối

với doanh nghiệp nhỏ và vừa” của Trần Hiền [30] đã đề xuất các giải pháp: Thứ
nhất, ngân hàng chính sách xã hội cần tiếp tục phối hợp, phát huy vai trò của xã
hội, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp trong việc hỗ trợ thúc
đẩy sự phát triển của DNNVV, nâng cao ý thức của cộng đồng xã hội đối với sự
phát triển của DNNVV. Thứ hai, đối với chương trình phát triển DNNVV đang
triển khai tại ngân hàng chính sách xã hội, đề nghị ký lại hợp đồng để gia tăng
thêm nguồn vốn, gia hạn thời gian trả lại nguồn vốn, ưu đãi lãi suất cho vay đối
với DNNVV. Thứ ba, đối với chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì

địa bàn tỉnh Bắc Ninh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030.
Nhiệm vụ: Hệ thống hoá cơ sở khoa học về phát triển DNNVV trong giai
đoạn hiện nay; phân tích, đánh giá thực trạng DNNVV và chính sách tài chính
hỗ trợ phát triển DNNVV trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ năm 2015 đến


12
năm 2019; đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra những hạn chế và nguyên
nhân của hạn chế; đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính hỗ
trợ phát triển DNNVV trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn
đề lý luận và thực tiễn về chính sách tài chính hỗ trợ DNNVV trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh.

Phạm vi nghiên cứu:
+

Về loại hình doanh nghiệp: Doanh nghiệp nghiên cứu của đề tài là

toàn bộ các đơn vị kinh tế hạch toán độc lập, có đầy đủ tư cách pháp nhân, có
tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập theo quy định
của pháp luật (Luật doanh nghiệp), đang còn tồn tại về mặt pháp lý tại thời điểm
31/12 hằng năm.
+

Về nội dung nghiên cứu: Những chính sách của Nhà nước, tỉnh Bắc


Luận văn hệ thống hoá và làm rõ một số lý luận cơ bản về DNNVV,
chính sách tài chính hỗ trợ DNNVV trong giai đoạn hiện nay, tác động của
chính sách tài chính đến sự phát triển của DNNVV, trong đó tập trung vào ba
chính sách bộ phận là chính sách thuế, chính sách tín dụng, chính sách tài chính
đất đai.
Đánh giá thực trạng DNNVV và chính sách tài chính hỗ trợ DNNVV trên
địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2015-2019, từ đó chỉ ra những kết quả đạt
được, những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu về phát triển DNNVV trên địa
bàn tỉnh.
Đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách về tài chính hỗ trợ DNNVV trên
địa bàn đến năm 2030, phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh Bắc Ninh. Những
giải pháp luận văn đưa ra có thể là nguồn thông tin tham khảo trong nghiên cứu,
tham mưu, chỉ đạo, điều hành công tác hỗ trợ DNNVV trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách tài chính hỗ trợ DNNVV.
Chương 2: Thực trạng DNNVV và chính sách tài chính hỗ trợ DNNVV ở
tỉnh Bắc Ninh.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính hỗ trợ
DNNVV ở tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030.


14
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH HỖ TRỢ
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1. DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA - KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ
VAI TRÒ

tổng tài sản để định nghĩa DNNVV. Theo đó, một doanh nghiệp phải đáp ứng
được tiêu chí về số lượng lao động và ít nhất một tiêu chí về tài chính để được
xem là DNNVV.
Ngoài ra, tại mỗi quốc gia và khu vực nền kinh tế phát triển khác nhau
tuỳ thuộc vào từng thời kỳ thì tiêu chí phân loại DNNVV cũng khác nhau. Ở
các nước châu Âu, DNNVV có số lượng nhân viên dưới 250 người và doanh
thu hàng năm là nhỏ hơn 50 triệu Euro. Tại Mỹ, doanh nghiệp nhỏ và vừa là
doanh nghiệp có số lượng người lao động dưới 500 người và có doanh thu hàng
năm dưới 7 triệu đô la đối với đa số các ngành không liên quan tới sản xuất và
mức này tăng lên 35,5 triệu đô la đối với ngành sản xuất. Ở Canada, một doanh
nghiệp được coi là DNNVV nếu có số nhân viên từ 10 tới 250 và doanh thu
hàng năm dưới 50 triệu đô la Canada. Các tiêu chí về doanh nghiệp nhỏ và vừa
tại Mexico, Nam Phi, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ cũng rất khác biệt. Tại Mexico,
DNNVV có số lao động ít hơn 500 người trong lĩnh vực hoạt động sản xuất và
ít hơn 50 người trong hoạt động dịch vụ, trong khi tại Nam Phi là 10 - 20 tới
100 - 200, tuỳ thuộc vào từng ngành, Thái Lan áp dụng quy định 200 người
trong các ngành sử dụng nhiều lao động và ít hơn người 100 trong các ngành sử
dụng nhiều vốn và cuối cùng là Thổ Nhĩ Kỳ với số lao động từ 10 tới 250 cho
các DNNVV [88].


16
Bảng 1.1. Tiêu chí phân loại DNNVV tại một số quốc gia

Quốc
gia/khu vực
Châu Âu
Canada

Mỹ

lao động dưới 100 người và tổng nguồn vốn dưới 50 tỷ.
Điều 4, Luật số 04/2017/QH14 hỗ trợ DNNVV ngày 12/06/2017 hiện
hành thì không đưa ra quy phạm định nghĩa về DNVVN mà chỉ khái quát các
loại DNNVV bao gồm: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh
nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản;
công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ, có số lao động tham gia bảo
hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu
chí (i) tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; (ii) tổng doanh thu của năm
trước liền kề không quá 300 tỷ đồng.
Điều 6, Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 quy định chi tiết
hướng dẫn thi hành Luật hỗ trợ DNVVN, tiêu chí xác định DNVVN như sau:
“Doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh
nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa”.
1.

Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ

sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội
bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ
đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động
tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu
của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
2.

Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản

và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội
bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50
tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status