ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
NGÔ THÀNH TRUNG
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC LÀNG
NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – Năm 2014
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
NGÔ THÀNH TRUNG
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC LÀNG
NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH ............................................................ 34
2.1. Thực trạng phát triển Làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. ................. 34
2.1.1. Quá trình phát triển làng nghề Tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2007 đến 201434
2.1.2. Tình hình phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2007
đến 2014 ................................................................................................... 39
2.2. Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với Làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh .................................................................................................................. 49
2.2.1. Thực trạng hoạch định và thực thi đƣờng lối, mục tiêu phát triển làng
nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh thời gian qua ......................................... 50
2.2.2. Quy hoạch phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh ................... 54
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
2.2.3. Ban hành và triển khai thực hiện các quy định pháp lý làm cơ sở cho
quản lý nhà nƣớc đối với các làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh ........ 57
2.2.4. Các chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh . 63
2.2.5. Thực trạng thanh - kiểm tra, giám sát hoạt động của làng nghề. ............ 66
2.3. Đánh giá chung về quản lý nhà nƣớc đối với các làng nghề trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh ................................................................................................... 67
2.3.1. Những kết quả đạt đƣợc. ......................................................................... 67
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân .............................................................. 68
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ CỦA TỈNH BẮC NINH GIAI
BCH
Ban chấp hành
2
BVMT
Bảo vệ môi trƣờng
3
CCN
Cụm công nghiệp
4
CCNLN
Các cụm công nghiệp làng nghề
5
CNH, HÐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
6
HĐND
Hội đồng nhân dân
12
HTX
Hợp tác xã
13
KCN
Khu công nghiệp
14
LN
Làng nghề
15
ND
Nhân dân
16
TSCĐ
Tài sản cố định
22
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
23
TTKC
Trung tâm khuyến công
24
TW
Trung ƣơng
25
TX
Thị xã
26
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng
Nội dung
Trang
1
Bảng 2.1
Tổng quát về lao động làng nghề tỉnh Bắc Ninh
40
2
Bảng 2.2
Các loại sản phẩm làng nghề
46
3
Bảng 2.3
Tình hình tiêu thụ sản phẩm chủ yếu năm 2012 của
khăn, thách thức phải đối mặt. Thách thức lớn nhất mà các làng nghề phải đối mặt
là tìm ra một hƣớng đi đúng đắn để tồn tại và phát triển. Bên cạnh đó, nhà nƣớc
cũng cần phải có những chính sách ƣu đãi để tháo gỡ bớt những khó khăn nhằm
tiếp sức thêm cho các làng nghề vƣợt qua những khó khăn trƣớc mắt từ đó tạo đà
phát triển đi lên góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp
nông thôn.
Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ - khu vực kinh tế năng
động, đạt mức tăng trƣởng kinh tế cao trong thời gian qua. Bối cảnh phát triển kinh
tế mới đang đƣa đến nhiều điều kiện thuận lợi nhƣng cũng không ít khó khăn, thách
thức đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Để đạt đƣợc các mục tiêu
phát triển kinh tế xã hội nói chung và công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn nói
riêng nhƣ đã đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII và Kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011- 2015. Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Bắc
Ninh xác định các làng nghề là tiềm năng, là thế mạnh của tỉnh trong phát triển
kinh tế xã hội nói chung và tiến trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn của
tỉnh nói riêng.
Từ năm tái lập tỉnh (1997) đến nay, giá trị sản xuất do làng nghề tạo ra chiếm từ
75- 80% giá trị sản xuất của khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh và chiếm trên
30% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn.
Phát triển các làng nghề là một trong những mục tiêu quan trọng thúc đẩy
nhanh quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn của tỉnh Bắc Ninh, nó
không chỉ góp phần tạo việc làm lúc nông nhàn mà còn tạo nên những dấu ấn, bản
sắc văn hoá của mỗi địa phƣơng qua các sản phẩm văn hoá lƣu giữ từ đời này sang
đời khác. Từ cuối năm 2007 đến nay, sản xuất của các làng nghề của Bắc Ninh gặp
nhiều khó khăn bởi tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Vấn đề đặt
ra cho Đảng bộ, Chính quyền địa phƣơng đó là cần nâng cao chất lƣợng quản lý
1
Ket-noi.com
đồng bằng Bắc Bộ.
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Nhƣ Chung về “Quá trình hoàn thiện các chính
sách thúc đẩy phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ 1997 đến 2003thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp”. Đề tài đã đề cập tới thực trạng về chính sách
quản lý nhà nƣớc đối với làng nghề và đƣa ra một số giải pháp hoàn thiện chính
sách quản lý nhà nƣớc thúc đẩy sự phát triển của Làng nghề.
- Luận án tiến sỹ của Mai Thế Hởn về “ Phát triển làng nghề truyền thống trong
quá trình Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá ở vùng ven thủ đô Hà Nội. “ Đề tài đã đề
cập tới vấn đề quy hoạch, kế hoạch phát triển làng nghề, đã đề cập đến vấn đề phát
triển thị trƣờng, xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ cho sự phát triển làng
2
nghề. Đề tài còn đề cập đến chính sách của Nhà nƣớc đối với việc phát triển làng
nghề truyền thống trong quá trình Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá.
- Luận văn Thạc sỹ của Vũ Thu Hà năm 2002 về “Khôi phục và phát triển làng
nghề ở nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng - Thực trạng và giải pháp. “ Tác giả
đã nghiên cứu thực trạng làng nghề truyền thống ở nông thôn vùng đồng bằng sông
Hồng và đƣa ra giải pháp về qui hoạch, kế hoạch khôi phục và phát triển làng nghề
truyền thống, đƣa ra giải pháp về đào tạo lao động, cán bộ quản lý, thị trƣờng tiêu
thụ, đổi mới công nghệ, chính sách của nhà nƣớc để phát triển làng nghề truyền
thống.
- Luận văn thạc sỹ của Trần Văn Hiến năm 2006 về “tín dụng của ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn với việc phát triển làng nghề tại tỉnh Quảng
Nam.” Tác giả đã nghiên cứu thực trạng công tác tín dụng ngân hàng nông nghiệp
của tỉnh Quảng Nam đối với sự phát triển làng nghề của tỉnh; đồng thời tác giả đã
ra dự báo sự phát triển của làng nghề, của tín dụng ngân hàng nông nghiệp đến năm
2012, đƣa ra cơ chế, chính sách cho vay để khuyến khích làng nghề phát triển.
Ngoài ra còn một số luận văn lý luận chính trị cao cấp năm 2006 về “ Phát
triển làng nghề truyền thống trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay trên địa bàn
huyện Đức Thọ- Hà Tĩnh “ của Thạc sỹ Nguyễn Quốc Hải và luận văn thạc sỹ năm
Bắc Ninh.
- Đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nƣớc đối
với các làng nghề của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ 2015 đến năm 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tƣợng nghiên cứu của Luận văn là hoạt động quản lý nhà nƣớc đối với các
làng nghề của tỉnh Bắc Ninh.
Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nƣớc của chính quyền cấp tỉnh nhƣng đặt
trong khuôn khổ các chính sách, chế độ quản lý làng nghề của Chính phủ. Những
vấn đề nghiên cứu chính sách sẽ gắn với chủ thể quản lý của chính quyền tỉnh Bắc
Ninh. Ngoài ra luận văn có xem xét chế độ chính sách chung của cả nƣớc với tƣ
cách môi trƣờng pháp lý chung về quản lý làng nghề.
Về mặt thực tiễn, luận văn phân tích thực trạng quá trình hình thành và phát
triển các làng nghề và vấn đề quản lý nhà nƣớc đối với các làng nghề trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh dựa trên số liệu của giai đoạn 2007-2014 và chiến lƣợc của tỉnh đến
năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn áp dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu đặc thù của quản lý kinh tế
nhƣ phân tích số liệu thống kê, so sánh và tổng hợp dựa trên các số liệu báo cáo đã
có sẵn của địa phƣơng. Đồng thời, luận văn cũng kế thừa và sử dụng có chọn lọc
các kết quả nghiên cứu trong các công trình đã công bố.
6. Những đóng góp của luận văn
- Về lý luận: Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về làng nghề, quản lý
nhà nƣớc đối với làng nghề. Trên cơ sở tổng quan có chọn lọc một số quan điểm
cơ bản của một số công trình nghiên cứu kết hợp đúc rút từ thực tiễn tác giả đã đƣa
ra bài học kinh nghiệm về quản lý nhà nƣớc đối với các làng nghề trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh.
- Về đánh giá thực tiễn: Trên cơ sở nguồn số liệu cập nhật có chọn lọc, luận văn
đã trình bày tổng quan thực trạng hoạt động của các làng nghề và hoạt động quản lý
4
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ
1.1. Một số vấn đề lý luận quản lý nhà nƣớc đối với làng nghề.
1.1.1. Khái quát về làng nghề
1.1.1.1. Khái niệm làng nghề
Các làng nghề có một vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển nông thôn
Việt Nam. Các làng nghề phát triển sẽ thu hút nhiều lao động, góp phần tích cực
vào giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn, đồng thời
cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hƣớng tích cực. Các làng
nghề chủ yếu đƣợc hình thành và phát triển từ lâu đời nên “ làng nghề” đã trở thành
một thuật ngữ rất gần gũi và phổ biến.
Theo từ điển tiếng Việt:
“Làng là một khối ngƣời quần tụ ở một nơi nhất định trong nông thôn. Làng
là một tế bào xã hội của ngƣời Việt, là một tập hợp dân cƣ chủ yếu theo quan hệ
láng giềng. Đó là một không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những ngƣời dân
quần tụ lại cùng sinh sống và sản xuất.”[14- tr523]
Còn “nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội.”
[14 - tr 654]
Ban đầu, trong một làng, phần lớn ngƣời dân đều làm nông nghiệp. Càng về sau
có những bộ phận dân cƣ sống bằng nghề khác. Họ liên kết chặt chẽ với nhau,
khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm một tổ chức theo nghề nghiệp, tạo thành
các phƣờng hội nhƣ phƣờng gốm, phƣờng đúc đồng, phƣờng dệt vải … Từ đó mà
các nghề đƣợc lan truyền và phát triển thành làng nghề. Bên cạnh những ngƣời
chuyên làm nghề thì đa phần vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề (nghề phụ),
nhƣng do nhu cầu trao đổi hàng hoá mà các nghề mang tính chuyên môn cao hơn
và thƣờng chỉ giới hạn trong qui mô nhỏ (làng). Các nghề mang tính chuyên môn
cao dần tách khỏi nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công. Càng về sau, xu
* Làng nghề truyền thống: là những thôn, làng làm nghề thủ công truyền thống
có từ lâu đời, qua nhiều năm, nhiều thế kỷ và các bí quyết của nghề đƣợc giữ bí mật
và lƣu truyền từ đời này sang đời khác.
7
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
* Làng nghề mới: là những làng nghề đƣợc hình thành do nhu cầu phát triển
kinh tế mà một số đông các hộ tham gia chuyên sản xuất một mặt hàng nào đó. [25]
Dù là làng nghề truyền thống hay làng nghề mới đều có vai trò quan trọng trong
việc phát triển nông nghiệp nông thôn; đồng thời thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển
kinh tế của nƣớc ta.
1.1.1.2. Đặc điểm của làng nghề.
Làng nghề ở nông thôn Việt Nam có từ rất lâu, phát triển rất đa dạng, phong
phú và có đặc điểm sau:
Thứ nhất, làng nghề phát triển rất đa dạng về qui mô, về cơ cấu ngành nghề và
gắn chặt với sản xuất nông nghiệp.
Làng nghề đƣợc ra đời và phát triển từ sản xuất nông nghiệp nông thôn và phục
vụ cho nông nghiệp nông thôn. Do nhu cầu việc làm và thu nhập mà ban đầu ngƣời
nông dân đã làm nghề thủ công và coi đó là nghề phụ làm thêm bên cạnh nghề làm
ruộng vào những lúc thời gian nhàn rỗi hoặc sử dụng lao động nhàn rỗi. Lúc đầu
nghề thủ công chủ yếu là sản xuất và sửa chữa những sản phẩm phục vụ sản xuất
máy móc cũ, lạc hậu bị các cơ quan thải loại, ngƣời dân mua về sửa chữa hoặc cải
tiến cho phù hợp, nên trình độ cơ khí hoá vẫn còn thấp.
Thứ ba, qui mô sản xuất kinh doanh của làng nghề hầu hết là qui mô gia đình.
Do làng nghề ở nông thôn chủ yếu là làng nghề truyền thống, cha truyền con
nối, nên qui mô sản xuất bị giới hạn trong phạm vi gia đình huyết thống. Trong mô
hình sản xuất này, ngƣời chủ gia đình là ngƣời thợ cả, có kỹ thuật cao vừa tổ chức
sản xuất kinh doanh, vừa quản lý và hạch toán kinh doanh, vừa là ngƣời truyền
nghề, quản lý kỹ thuật, còn mọi thành viên trong gia đình, dòng họ là những ngƣời
tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh; tuỳ theo năng lực trình độ của mỗi
ngƣời mà đƣợc ngƣời chủ giao công việc cụ thể. Trong thời kỳ kế hoạch tập trung,
bao cấp, các gia đình làm nghề thủ công nghiệp phải gia nhập hợp tác xã thủ công
nghiệp. Do cơ chế quản lý của giai đoạn này mà làng nghề không phát triển và bị
mai một, hợp tác xã thủ công nghiệp hoạt động kém hiệu quả, nên đã bị tan rã dần
vào đầu thời kỳ đổi mới. Trong thời kỳ đổi mới, nhờ chủ trƣơng, chính sách của
Đảng và Nhà nƣớc, cơ chế quản lý thay đổi, làng nghề đƣợc phát huy mạnh mẽ,
9
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
khai thác mọi tiềm năng của các hộ gia đình vào sản xuất kinh doanh. Do cơ chế thị
trƣờng, các gia đình trong làng nghề phải cạnh tranh với nhau, nên qui mô sản xuất
kinh doanh đã đƣợc mở rộng, lao động sản xuất đã đƣợc thuê mƣớn bên ngoài, anh
em con cháu gia đình đóng vai trò quản lý từng khâu, từng mắt xích quan trọng
nghề, nên giữ đƣợc bí quyết, giữ đƣợc nét độc đáo của sản phẩm nghề mà địa
phƣơng khác, làng khác không thể làm đƣợc. Vì nét độc đáo, truyền thống đó của
sản phẩm mà nó tạo nên thƣơng hiệu của sản phẩm, do đó nó chi phối đƣợc thị
trƣờng tiêu thụ sản phẩm. Chẳng hạn khi muốn mua tranh dân gian thì phải đến
Đông Hồ, muốn mua sản phẩm đồ gỗ cổ phải đến Đồng kỵ, Phù Khê,... mặc dù các
làng khác có sản xuất ra sản phẩm đó nhƣng ngƣời dân vẫn không ƣa thích. Ngày
nay, trong nền kinh tế thị trƣờng, nhu cầu tiêu dùng của con ngƣời ngày càng đa
dạng, phong phú, nên các làng nghề đã nhanh chóng đổi mới, sản xuất đa dạng,
phong phú loại sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Hơn thế nữa,
trong xu thế hội nhập, nhiều sản phẩm làng nghề đã xuất khẩu ra thị trƣờng thế
giới. Bởi vậy sản phẩm của làng nghề tất yếu phải đa dạng và phong phú thể loại,
mẫu mã phù hợp với nhu cầu trong và ngoài nƣớc, đồng thời chất lƣợng sản phẩm
không ngừng nâng cao nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong thị trƣờng.
Đặc biệt, trong xu thế hội nhập, ngành du lịch phát triển, sản phẩm làng
nghề đã thể hiện đƣợc những nét văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, phong cảnh thiên
nhiên, con ngƣời Việt Nam,...nhƣ tranh Đông Hồ, đồ gốm Quế Võ, đồ gỗ, chạm
khắc gỗ Đồng Kỵ, Phù Khê,...nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch mà còn giới
thiệu về văn hoá, con ngƣời và đất nƣớc Việt Nam với bạn bè trên thế giới.
1.1.1.3. Vai trò của làng nghề trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn
Sự phát triển của các làng nghề đều gắn với việc nâng cao trình độ sản xuất,
quản lý và tổ chức xã hội, nó phản ánh sự phát triển toàn diện mọi mặt hoạt động
của làng nghề. Vai trò của làng nghề đối với phát triển kinh tế- xã hội thể hiện nhƣ
sau:
a) Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Sự phát triển của các làng nghề có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế
của cả nƣớc cũng nhƣ đối với phát triển kinh tế của địa phƣơng : đóng góp vào giá
11
nghiệp nông thôn theo hƣớng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng
công nghiệp - dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân.
Cơ cấu lao động nông thôn thay đổi, tỷ trọng lao động trong nông nghiệp giảm,
tỷ trọng lao động trong các ngành nghề nông thôn tăng. Góp phần bố trí lao động
hợp lý theo hƣớng " ly nông bất ly hương". Sự phát triển làng nghề truyền thống đã
12
phá thế thuần nông và tạo đà cho công nghiệp phát triển, thúc đẩy CNH- HĐH
nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Các làng nghề sẽ là cầu nối liền giữa công nghiệp lớn hiện đại với nông nghiệp
phi tập trung, làm tiền đề xây dựng công nghiệp lớn hiện đại, là bƣớc trung gian
chuyển từ nông thôn thuần nông, nhỏ lẻ, phân tán lên công nghiệp lớn - hiện đại và
đô thị hoá. Làng nghề sẽ là điểm thực hiện tốt phân công lao động tại chỗ, là nơi
tạo ra sự kết hợp nông - công nghiệp có hiệu quả. Sự phát triển của các làng nghề là
một trong những hƣớng rất quan trọng để thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn và xây dựng nông thôn mới theo hƣớng CNH- HĐH.
c) Giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn, nâng cao mức sống của dân
cư và góp phần xây dựng nông thôn mới hiện đại, văn minh.
Hiện nay, ở nƣớc ta có hơn 60% lao động ở nông thôn mà chủ yếu là lao động
trong lĩnh vực nông nghiệp. Điều này cho thấy lƣợng lao động ở nông thôn rất đông
đảo. Các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các công ty TNHH ở các làng nghề
phát triển đã thu hút một số lƣợng lớn lao động. Các ngành nghề tiểu thủ công đã
thu hút từ 30- 70% số hộ và từ 50- 90% số lao động tham gia sản xuất làng nghề .
[24]
Đồng thời, sự phát triển của làng nghề còn kéo theo sự phát triển của các nghề
khác liên quan nhƣ: khai thác, vận chuyển, cung cấp nguyên liệu, lƣu thông tiêu thụ
sản phẩm, điện, nƣớc, vận tải… tạo ra nhiều việc làm mới và thu hút thêm nhiều
lao động.
trong văn hoá vật thể. Các sản phẩm của các làng nghề thủ công nghiệp truyền
thống là sự kết tinh, sự bảo lƣu và phát triển các giá trị văn hoá, văn minh lâu đời
của dân tộc Việt Nam, vừa mang nét đặc sắc riêng biệt vừa mang nét tƣơng đồng
với những sản phẩm của các dân tộc khác trên thế giới. Giá trị của các sản phẩm
thủ công truyền thống đƣợc khách hàng trong và ngoài nƣớc nhìn nhận chủ yếu từ
góc độ văn hoá, nghệ thuật dân tộc sau đó mới đến vấn đề kỹ thuật và kinh tế.
Những làng nghề nổi tiếng mà tên sản phẩm làm ra mang tên làng nghề làm vẻ
vang cho dân tộc cho đất nƣớc:Tơ lụa Hà Đông, gốm Bát Tràng, đúc đồng Ngũ Xã,
chiếu Nga Sơn, chiếu Hới, chạm bạc Đồng Sâm....Đẩy mạnh phát triển làng nghề,
ngành nghề nông thôn phải chăng là tăng thêm sức mạnh cội nguồn, gieo vào lòng
mỗi ngƣời Việt Nam tình cảm dân tộc, yêu quí, trân trọng, giữ gìn di sản và bản sắc
văn hoá dân tộc. Điều đó cũng không có gì khác là giữ gìn và phát huy văn hoá văn minh nhân loại, làm tăng những giá trị văn hoá truyền thống trong một thế giới
ngày càng hiện đại.
1.1.2. Quản lý nhà nước đối với làng nghề.
1.1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước
Để nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nƣớc, trƣớc hết cần làm rõ khái niệm
14
“quản lý”. Thuật ngữ “quản lý” thƣờng đƣợc hiểu theo những cách khác nhau tuỳ
theo góc độ khoa học khác nhau cũng nhƣ cách tiếp cận của ngƣời nghiên cứu.
Quản lý là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự
nhiên. Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dƣới góc độ riêng của mình
và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội.
Theo quan niệm của C.MÁC: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động
chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự
quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực
hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất,
sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó. Một
tiêu đã đề ra thông qua việc sử dụng các phƣơng pháp và công cụ thích hợp. Quản
lý Nhà nƣớc đƣợc hiểu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành
chính nhà nƣớc đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời
theo pháp luật nhằm đạt đƣợc những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà
nƣớc.
Ngoài ra, quản lý Nhà nƣớc còn đƣợc tiếp cận theo các lĩnh vực các mặt cụ thể
của quản lý. Đó là một hệ thống tổng thể bao gồm các yếu tố: Mục tiêu, nội dung,
phƣơng pháp, nguyên tắc tổ chức, cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ phục vụ cho
công tác quản lý, môi trƣờng hoạt động của các lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã
hội.
1.1.2.2. Mục tiêu quản lý nhà nước đối với làng nghề.
Nhƣ trên đã trình bày, LN có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển
kinh tế khu vực nông thôn. Chính vì thế, quản lý nhà nƣớc không phải chỉ
nhằm kiểm soát LN mà quan trọng hơn là nhằm phát triển LN và các cơ sở
sản xuất kinh doanh trong LN theo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa
phƣơng, quốc gia. Theo giác độ đó, có thể thấy, quản lý nhà nƣớc đối với các
LN nhằm các mục tiêu cụ thể sau:
a. Tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư và phát triển làng nghề.
LN có vai trò quan trọng trong tăng trƣởng kinh tế, cung cấp công ăn
việc làm, nâng cao thu nhập cho ngƣời nông dân từ đó góp phần vào sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn. Vì thế, mục tiêu hàng đầu
của Nhà nƣớc khi thiết lập cơ chế quản lý LN là phải tạo điều kiện thuận lợi
cho các nhà đầu tƣ bỏ vốn xây dựng và vận hành hiệu quả các doanh nghiệp,
các cơ sở trong LN. Để đạt đƣợc mục tiêu này, Nhà nƣớc, ngoài ban hành và
thực hiện các chính sách ƣu đãi cho các dự án quy hoạch, phát triển làng
nghề, còn tích cực hỗ trợ DN, cơ sở sản xuất nghề về thủ tục hành chính, về
cơ sở hạ tầng…
b. Sử dụng quỹ đất một cách hiệu quả
Đất xây dựng CCN LN thƣờng là đất có giá trị kinh tế cao, có thể dùng
Thông qua phát triển các LN, Nhà nƣớc kỳ vọng vào tác động lan toả
của nó đến các ngành và vùng khác nhƣ hình thành thêm các vùng nông
nghiệp cung cấp nguyên, vật liệu, phát triển dịch vụ cho LN, phát triển các
17
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
trung tâm thƣơng mại…Vì thế, quản lý của Nhà nƣớc đối với LN phải đƣợc
hoạch định và thực hiện có tầm rộng và đủ xa một cách hợp lý. Trong nhiều
trƣờng hợp, thông qua quản lý LN, Nhà nƣớc còn hƣớng đến thay đổi bộ mặt
kinh tế của địa phƣơng.
f. Tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động
Đây là mục tiêu quan trọng của quản lý nhà nƣớc đối với LN. Bởi vì,
xét cho cùng, phát triển LN phải nhằm phục vụ tốt hơn cuộc sống của dân cƣ.
Một trong những điều kiện để dân cƣ sống tốt hơn là có việc làm và các
quyền cơ bản đƣợc bảo vệ. Do đó, ngoài chính sách khuyến khích các cơ sở
sản xuất nghề trong làng nghề sử dụng lao động địa phƣơng, Nhà nƣớc còn
ban hành các quy định pháp lý bảo vệ quyền của ngƣời lao động, nhất là về
lƣơng, bảo hộ lao động và giải quyết tranh chấp.
1.1.2.3. Cơ chế và công cụ tác động của Nhà nước đến làng nghề.
a. Hệ thống pháp luật
Hệ thống pháp luật điều chỉnh khá đa dạng, bao phủ mọi mặt hoạt động của làng
nghề với tƣ cách một thực thể sống, một bộ phận của nền kinh tế, của xã hội. Có
* Chính sách hỗ trợ về tài chính, tín dụng đối với làng nghề
Nhà nƣớc có thể sử dụng ngân sách cấp vốn hoặc sử dụng quỹ tín dụng nhà
nƣớc cấp vốn tín dụng ƣu đãi cho doanh nghiệp kinh doanh cơ sở hạ tầng và doanh
nghiệp kinh doanh trong khu vực làng nghề. Thông qua sự hỗ trợ trực tiếp này các
làng nghề có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển…
* Chính sách đất đai
Nhà nƣớc sử dụng chính sách đất đai để điều chỉnh quỹ đất, giá thuê đất trong
các cụm làng nghề. Trƣớc hết, nhà nƣớc quy định việc xây dựng cụm làng nghề
phải tuân thủ quy hoạch vùng, phải quy hoạch tổng thể, dài hạn đất xây dựng các
làng nghề. Thứ hai, nhà nƣớc can thiệp vào quá trình thu hồi đất và chuyển giao cho
các làng nghề. Bởi vì, đất để xây dựng làng nghề thƣờng là đất đã và đang đƣợc dân
cƣ sử dụng. Vì thế, để có thể chuyển đổi mục đích sử dụng, thƣờng phải tiến hành
công tác thu hồi, tập trung và đền bù, giải phóng mặt bằng. Nhà nƣớc tác động đến
quá trình này bằng các quy định về thu hồi đất, chính sách đền bù, chính sách tái
19