ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI
VỚI LÀNG NGHỀ 6
1.1. Một số vấn đề lý luận quản lý nhà nƣớc đối với làng nghề. 6
1.1.1. Khái quát về làng nghề 6
1.1.2. Quản lý nhà nƣớc đối với làng nghề. 14
1.2. Kinh nghiệm quản lý nhà nƣớc đối với làng nghề. 21
1.2.1. Kinh nghiệm của Thái Lan - Dự án “Một làng, một sản phẩm” 21
1.2.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc - Xí nghiệp hƣơng trấn (TVE) 24
1.2.3. Kinh nghiệm của Đức - Hiệp hội thủ công 26
1.2.4. Kinh nghiệm phát triển làng nghề của tỉnh Thái Bình. 28
1.3. Bài học kinh nghiệm đối với cho Bắc Ninh 31
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC LÀNG
NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 34
2.1. Thực trạng phát triển Làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. 34
2.1.1. Quá trình phát triển làng nghề Tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2007 đến 201434
2.1.2. Tình hình phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2007
đến 2014 39
2.2. Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với Làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh 49
2.2.1. Thực trạng hoạch định và thực thi đƣờng lối, mục tiêu phát triển làng
nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh thời gian qua 50
2.2.2. Quy hoạch phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 54
2.2.3. Ban hành và triển khai thực hiện các quy định pháp lý làm cơ sở cho
TT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
BCH
Ban chấp hành
2
BVMT
Bảo vệ môi trƣờng
3
CCN
Cụm công nghiệp
4
CCNLN
Các cụm công nghiệp làng nghề
5
CNH, HÐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
6
CTCP
Công ty cổ phần
7
CTTNHH
Công ty trách nhiệm hữu hạn
8
DN
Doanh nghiệp
9
DNNVV
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
20
TP
Thành phố
21
TSCĐ
Tài sản cố định
22
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
23
TTKC
Trung tâm khuyến công
24
TW
Trung ƣơng
25
TX
Thị xã
26
UBND
Ủy ban nhân dân
27
XNHT
Xí nghiệp hƣơng trấn
28
WTO
Tổ chức Thƣơng mại Thế giới
ii
2. DANH MỤC CÁC BẢNG
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các làng nghề Việt Nam đã và đang đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế
khu vực nông thôn, giúp giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời nông
dân, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn Việt Nam.
Trong xu thế toàn cầu hoá cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công
nghệ, các làng nghề có những cơ hội để phát triển, nhƣng cũng có không ít khó
khăn, thách thức phải đối mặt. Thách thức lớn nhất mà các làng nghề phải đối mặt
là tìm ra một hƣớng đi đúng đắn để tồn tại và phát triển. Bên cạnh đó, nhà nƣớc
cũng cần phải có những chính sách ƣu đãi để tháo gỡ bớt những khó khăn nhằm
tiếp sức thêm cho các làng nghề vƣợt qua những khó khăn trƣớc mắt từ đó tạo đà
phát triển đi lên góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp
nông thôn.
Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ - khu vực kinh tế năng
động, đạt mức tăng trƣởng kinh tế cao trong thời gian qua. Bối cảnh phát triển kinh
tế mới đang đƣa đến nhiều điều kiện thuận lợi nhƣng cũng không ít khó khăn, thách
thức đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Để đạt đƣợc các mục tiêu
phát triển kinh tế xã hội nói chung và công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn nói
riêng nhƣ đã đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII và Kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011- 2015. Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Bắc
Ninh xác định các làng nghề là tiềm năng, là thế mạnh của tỉnh trong phát triển
kinh tế xã hội nói chung và tiến trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn của
tỉnh nói riêng.
Từ năm tái lập tỉnh (1997) đến nay, giá trị sản xuất do làng nghề tạo ra chiếm từ
75- 80% giá trị sản xuất của khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh và chiếm trên
30% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn.
Phát triển các làng nghề là một trong những mục tiêu quan trọng thúc đẩy
nhanh quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn của tỉnh Bắc Ninh, nó
không chỉ góp phần tạo việc làm lúc nông nhàn mà còn tạo nên những dấu ấn, bản
sắc văn hoá của mỗi địa phƣơng qua các sản phẩm văn hoá lƣu giữ từ đời này sang
đời khác. Từ cuối năm 2007 đến nay, sản xuất của các làng nghề của Bắc Ninh gặp
sách thúc đẩy phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ 1997 đến 2003-
thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp”. Đề tài đã đề cập tới thực trạng về chính sách
quản lý nhà nƣớc đối với làng nghề và đƣa ra một số giải pháp hoàn thiện chính
sách quản lý nhà nƣớc thúc đẩy sự phát triển của Làng nghề.
- Luận án tiến sỹ của Mai Thế Hởn về “ Phát triển làng nghề truyền thống trong
quá trình Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá ở vùng ven thủ đô Hà Nội. “ Đề tài đã đề
cập tới vấn đề quy hoạch, kế hoạch phát triển làng nghề, đã đề cập đến vấn đề phát
triển thị trƣờng, xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ cho sự phát triển làng 3
nghề. Đề tài còn đề cập đến chính sách của Nhà nƣớc đối với việc phát triển làng
nghề truyền thống trong quá trình Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá.
- Luận văn Thạc sỹ của Vũ Thu Hà năm 2002 về “Khôi phục và phát triển làng
nghề ở nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng - Thực trạng và giải pháp. “ Tác giả
đã nghiên cứu thực trạng làng nghề truyền thống ở nông thôn vùng đồng bằng sông
Hồng và đƣa ra giải pháp về qui hoạch, kế hoạch khôi phục và phát triển làng nghề
truyền thống, đƣa ra giải pháp về đào tạo lao động, cán bộ quản lý, thị trƣờng tiêu
thụ, đổi mới công nghệ, chính sách của nhà nƣớc để phát triển làng nghề truyền
thống.
- Luận văn thạc sỹ của Trần Văn Hiến năm 2006 về “tín dụng của ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn với việc phát triển làng nghề tại tỉnh Quảng
Nam.” Tác giả đã nghiên cứu thực trạng công tác tín dụng ngân hàng nông nghiệp
của tỉnh Quảng Nam đối với sự phát triển làng nghề của tỉnh; đồng thời tác giả đã
ra dự báo sự phát triển của làng nghề, của tín dụng ngân hàng nông nghiệp đến năm
2012, đƣa ra cơ chế, chính sách cho vay để khuyến khích làng nghề phát triển.
Ngoài ra còn một số luận văn lý luận chính trị cao cấp năm 2006 về “ Phát
triển làng nghề truyền thống trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay trên địa bàn
huyện Đức Thọ- Hà Tĩnh “ của Thạc sỹ Nguyễn Quốc Hải và luận văn thạc sỹ năm
2006 về “ Nghề truyền thống trên địa bàn Hà Nội trong quá trình hội nhập kinh tế
cách môi trƣờng pháp lý chung về quản lý làng nghề.
Về mặt thực tiễn, luận văn phân tích thực trạng quá trình hình thành và phát
triển các làng nghề và vấn đề quản lý nhà nƣớc đối với các làng nghề trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh dựa trên số liệu của giai đoạn 2007-2014 và chiến lƣợc của tỉnh đến
năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn áp dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu đặc thù của quản lý kinh tế
nhƣ phân tích số liệu thống kê, so sánh và tổng hợp dựa trên các số liệu báo cáo đã
có sẵn của địa phƣơng. Đồng thời, luận văn cũng kế thừa và sử dụng có chọn lọc
các kết quả nghiên cứu trong các công trình đã công bố.
6. Những đóng góp của luận văn
- Về lý luận: Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về làng nghề, quản lý
nhà nƣớc đối với làng nghề. Trên cơ sở tổng quan có chọn lọc một số quan điểm
cơ bản của một số công trình nghiên cứu kết hợp đúc rút từ thực tiễn tác giả đã đƣa
ra bài học kinh nghiệm về quản lý nhà nƣớc đối với các làng nghề trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh.
- Về đánh giá thực tiễn: Trên cơ sở nguồn số liệu cập nhật có chọn lọc, luận văn
đã trình bày tổng quan thực trạng hoạt động của các làng nghề và hoạt động quản lý 5
nhà nƣớc đối với các làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2007 – 2014,
đồng thời tìm ra những nguyên nhân chủ yếu của tình hình yếu kém.
-Về đề xuất giải pháp: Luận văn đã đề xuất những định hƣớng, quan điểm cơ
bản, các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lƣợng quản lý nhà nƣớc đối với các làng
nghề đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 nhằm khai thác tối đa các tiềm năng, lợi
thế so sánh của địa phƣơng.
7. Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, nội
dung luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng.
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI
Các làng nghề có một vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển nông thôn
Việt Nam. Các làng nghề phát triển sẽ thu hút nhiều lao động, góp phần tích cực
vào giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn, đồng thời
cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hƣớng tích cực. Các làng
nghề chủ yếu đƣợc hình thành và phát triển từ lâu đời nên “ làng nghề” đã trở thành
một thuật ngữ rất gần gũi và phổ biến.
Theo từ điển tiếng Việt:
“Làng là một khối ngƣời quần tụ ở một nơi nhất định trong nông thôn. Làng
là một tế bào xã hội của ngƣời Việt, là một tập hợp dân cƣ chủ yếu theo quan hệ
láng giềng. Đó là một không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những ngƣời dân
quần tụ lại cùng sinh sống và sản xuất.”[14- tr523]
Còn “nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội.”
[14 - tr 654]
Ban đầu, trong một làng, phần lớn ngƣời dân đều làm nông nghiệp. Càng về sau
có những bộ phận dân cƣ sống bằng nghề khác. Họ liên kết chặt chẽ với nhau,
khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm một tổ chức theo nghề nghiệp, tạo thành
các phƣờng hội nhƣ phƣờng gốm, phƣờng đúc đồng, phƣờng dệt vải … Từ đó mà
các nghề đƣợc lan truyền và phát triển thành làng nghề. Bên cạnh những ngƣời
chuyên làm nghề thì đa phần vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề (nghề phụ),
nhƣng do nhu cầu trao đổi hàng hoá mà các nghề mang tính chuyên môn cao hơn
và thƣờng chỉ giới hạn trong qui mô nhỏ (làng). Các nghề mang tính chuyên môn
cao dần tách khỏi nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công. Càng về sau, xu
thế ngƣời lao động tách khỏi nghề nông để chuyển sang làm nghề thủ công và sống 7
bằng chính nghề đó ngày một tăng. Những làng nghề phát triển mạnh, số hộ lao
động làm nghề truyền thống tăng nhanh và sống bằng nghề đó ngày càng nhiều.
Từ cách tiếp cận đó, các nhà nghiên cứu có đƣa ra một số khái niệm về làng
nghề:
việc phát triển nông nghiệp nông thôn; đồng thời thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển
kinh tế của nƣớc ta.
1.1.1.2. Đặc điểm của làng nghề.
Làng nghề ở nông thôn Việt Nam có từ rất lâu, phát triển rất đa dạng, phong
phú và có đặc điểm sau:
Thứ nhất, làng nghề phát triển rất đa dạng về qui mô, về cơ cấu ngành nghề và
gắn chặt với sản xuất nông nghiệp.
Làng nghề đƣợc ra đời và phát triển từ sản xuất nông nghiệp nông thôn và phục
vụ cho nông nghiệp nông thôn. Do nhu cầu việc làm và thu nhập mà ban đầu ngƣời
nông dân đã làm nghề thủ công và coi đó là nghề phụ làm thêm bên cạnh nghề làm
ruộng vào những lúc thời gian nhàn rỗi hoặc sử dụng lao động nhàn rỗi. Lúc đầu
nghề thủ công chủ yếu là sản xuất và sửa chữa những sản phẩm phục vụ sản xuất
nông nghiệp và đời sống nhƣ nghề dệt vải, nghề rèn, đan lát, nghề làm giấy, làm
tranh, đúc đồng, Về sau do nhu cầu phải trao đổi hàng hoá và do lực lƣợng sản
xuất phát triển, nghề thủ công phát triển, một bộ phận dân cƣ trong làng đã tách
khỏi sản xuất nông nghiệp và làm nghề thủ công nghiệp, những sản phẩm của họ
vẫn phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống của ngƣời dân trong làng và những
làng xung quanh. Mặt khác, mặc dù chuyên làm nghề thủ công nghiệp nhƣng họ
vẫn giữ đất nông nghiệp để sản xuất thóc gạo đảm bảo cuộc sống của họ. Trong
những năm đổi mới, nhờ chủ trƣơng chính sách của Đảng và Nhà nƣớc mà ngành
nghề thủ công phát triển mạnh mẽ, đa dạng hoá qui mô, loại hình sản xuất, đa dạng
hoá sản phẩm, phong phú về mẫu mã đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phong
phú của con ngƣời. Sản lƣợng các ngành nghề tăng lên nhanh chóng, làm thay đổi
cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp nông thôn, nhƣng sản xuất tiểu thủ công nghiệp 9
vẫn gắn chặt với sản xuất nông nghiệp vì trong một chừng mực nào đó ngƣời thợ
thủ công nghiệp vẫn là ngƣời nông dân sản xuất nông nghiệp.
Thứ hai, sản xuất trong các làng nghề chủ yếu bằng phương pháp thủ công,
trƣờng, các gia đình trong làng nghề phải cạnh tranh với nhau, nên qui mô sản xuất
kinh doanh đã đƣợc mở rộng, lao động sản xuất đã đƣợc thuê mƣớn bên ngoài, anh
em con cháu gia đình đóng vai trò quản lý từng khâu, từng mắt xích quan trọng
trong quá trình sản xuất kinh doanh. Hiện nay tuy đã xuất hiện nhiều DNTN,
CTTNHH, CTCP nhƣng qui mô sản xuất vẫn giới hạn trong phạm vi gia đình hoặc
dòng họ. Các công ty, các doanh nghiệp này đóng vai trò là trung tâm, vệ tinh tìm
kiếm thị trƣờng, tiêu thụ lớn về sản phẩm hoặc cung ứng lớn về vật tƣ cho các hộ
gia đình thực hiện dƣới hình thức hợp đồng.
Thứ tư, phương pháp dạy nghề trong các làng nghề là truyền nghề.
Xuất phát từ đặc điểm qui mô sản xuất chủ yếu là gia đình, nên việc dạy nghề
cho con cháu hoặc ngƣời thân là hình thức truyền nghề trực tiếp, tức là hƣớng dẫn
trực tiếp từng thao tác, vừa làm vừa học nhằm giữ bí quyết nhà nghề. Mặt khác
nhiều nghề sản xuất những sản phẩm độc đáo, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc
nhƣ nghề chạm, khảm vàng bạc, chạm khảm gỗ, đúc đồng, làm gốm, tranh sơn mài,
tranh dân gian, Do đặc thù nghề nghiệp mà không thể sử dụng máy móc để sản
xuất hàng loạt đƣợc mà phải dựa vào lao động thủ công, dựa vào bàn tay khéo léo,
tinh xảo của ngƣời thợ nên việc dạy nghề vẫn phải hƣớng dẫn trực tiếp từng thao
tác, vừa học vừa làm. Ngày nay khoa học công nghệ hiện đại, xuất hiện nhiều máy
móc hiện đại, một số công việc, công đoạn của quá trình sản xuất đã sử dụng máy
móc thay thế cho lao động. Chẳng hạn nghề gỗ đã sử dụng các máy cƣa, máy lộng,
máy bào, máy khoan để thay thế cho các lao động bào, cƣa, xẻ, đục, hoặc nghề dệt
vải đã sử dụng mô tơ thay thế cho chân đạp máy dệt, nhƣng các công việc quyết
định đến chất lƣợng, thẩm mỹ và tính chất độc đáo của sản phẩm vẫn sử dụng lao
động thủ công. Vì vậy trong làng nghề việc dạy nghề cho lao động chủ yếu là
truyền nghề.
Thứ năm, sản phẩm làng nghề đa dạng mang đậm tính chất truyền thống, mạng
đậm bản sắc văn hoá dân tộc. 11
12
trị sản xuất công nghiệp, giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng CNH- HĐH,
đó là tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng của ngành
nông nghiệp.
Thu nhập từ các làng nghề cũng đóng góp một phần không nhỏ vào quá trình
phát triển kinh tế của địa phƣơng. Thể hiện ở việc làng nghề đóng góp vào thu ngân
sách của địa phƣơng và thu nhập của ngƣời dân tăng lên đáng kể. Thực tế cho thấy,
địa phƣơng nào có làng nghề thì mức sống của ngƣời dân thƣờng cao hơn những
làng không làm nghề.
Không chỉ tiêu dùng ở trong nƣớc mà sản phẩm của các làng nghề còn đƣợc tiêu
thụ ở thị trƣờng nƣớc ngoài và dành đƣợc sự ƣa chuộng từ thị trƣờng này. Một số
mặt hàng đƣợc ƣa chuộng nhƣ: lụa tơ tằm, gốm mỹ nghệ, mây tre đan, đồ gỗ…
Việc xuất khẩu hàng thủ công truyền thống đã đem lại nguồn lợi lớn cho kinh tế địa
phƣơng.
Với bình quân giá trị sản xuất của kinh tế làng nghề chiếm khoảng 60- 80%
tổng giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh, kinh tế làng nghề ngày càng có
vị trí đáng kể trong nền kinh tế quốc dân và sẽ trở thành một ngành chủ lực của
nhiều địa phƣơng.
b) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa
Phát triển làng nghề nông thôn góp phần thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, tạo ra
khối lƣợng hàng hoá đa dạng, phong phú phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, là một
trong những nội dung quan trọng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp nông thôn theo hƣớng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng
công nghiệp - dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân.
Cơ cấu lao động nông thôn thay đổi, tỷ trọng lao động trong nông nghiệp giảm,
tỷ trọng lao động trong các ngành nghề nông thôn tăng. Góp phần bố trí lao động
hợp lý theo hƣớng " ly nông bất ly hương". Sự phát triển làng nghề truyền thống đã
14
của một lao động làm nghề bao giờ cũng cao hơn 3- 4 lần so với lao động thuần
nông[25]. Ở các địa phƣơng có làng nghề, thu nhập từ hoạt động làm nghề chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của ngƣời lao động trong khu vực nông thôn.
Nhờ có thu nhập cao, đời sống vật chất tinh thần ngƣời dân đƣợc cải thiện, cơ
sở hạ tầng phát triển. Đây là cơ hội tốt để xây dựng nông thôn mới hiện đại.
d) Góp phần vào bảo tồn và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc.
Mỗi làng nghề là một cộng đồng dân cƣ sinh sống tạo thành làng quê hay
phƣờng hội. Đó cũng đồng thời là một cộng đồng văn hoá, có phong tục, tập quán,
tín ngƣỡng, nếp sống, lao động sản xuất vừa có nét văn hoá chung của dân tộc,
vùng miền, vừa mang nét riêng của mỗi làng.
Trong các sản phẩm của các làng nghề truyền thống, văn hoá tinh thần kết tinh
trong văn hoá vật thể. Các sản phẩm của các làng nghề thủ công nghiệp truyền
thống là sự kết tinh, sự bảo lƣu và phát triển các giá trị văn hoá, văn minh lâu đời
của dân tộc Việt Nam, vừa mang nét đặc sắc riêng biệt vừa mang nét tƣơng đồng
với những sản phẩm của các dân tộc khác trên thế giới. Giá trị của các sản phẩm
thủ công truyền thống đƣợc khách hàng trong và ngoài nƣớc nhìn nhận chủ yếu từ
góc độ văn hoá, nghệ thuật dân tộc sau đó mới đến vấn đề kỹ thuật và kinh tế.
Những làng nghề nổi tiếng mà tên sản phẩm làm ra mang tên làng nghề làm vẻ
vang cho dân tộc cho đất nƣớc:Tơ lụa Hà Đông, gốm Bát Tràng, đúc đồng Ngũ Xã,
chiếu Nga Sơn, chiếu Hới, chạm bạc Đồng Sâm Đẩy mạnh phát triển làng nghề,
ngành nghề nông thôn phải chăng là tăng thêm sức mạnh cội nguồn, gieo vào lòng
mỗi ngƣời Việt Nam tình cảm dân tộc, yêu quí, trân trọng, giữ gìn di sản và bản sắc
văn hoá dân tộc. Điều đó cũng không có gì khác là giữ gìn và phát huy văn hoá -
văn minh nhân loại, làm tăng những giá trị văn hoá truyền thống trong một thế giới
ngày càng hiện đại.
1.1.2. Quản lý nhà nước đối với làng nghề.
1.1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước
Để nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nƣớc, trƣớc hết cần làm rõ khái niệm
khoa học và nghệ thuật vào khách thể quản lý nhằm đạt kết quả tối ƣu theo mục 16
tiêu đã đề ra thông qua việc sử dụng các phƣơng pháp và công cụ thích hợp. Quản
lý Nhà nƣớc đƣợc hiểu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành
chính nhà nƣớc đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời
theo pháp luật nhằm đạt đƣợc những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà
nƣớc.
Ngoài ra, quản lý Nhà nƣớc còn đƣợc tiếp cận theo các lĩnh vực các mặt cụ thể
của quản lý. Đó là một hệ thống tổng thể bao gồm các yếu tố: Mục tiêu, nội dung,
phƣơng pháp, nguyên tắc tổ chức, cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ phục vụ cho
công tác quản lý, môi trƣờng hoạt động của các lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã
hội.
1.1.2.2. Mục tiêu quản lý nhà nước đối với làng nghề.
Nhƣ trên đã trình bày, LN có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển
kinh tế khu vực nông thôn. Chính vì thế, quản lý nhà nƣớc không phải chỉ
nhằm kiểm soát LN mà quan trọng hơn là nhằm phát triển LN và các cơ sở
sản xuất kinh doanh trong LN theo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa
phƣơng, quốc gia. Theo giác độ đó, có thể thấy, quản lý nhà nƣớc đối với các
LN nhằm các mục tiêu cụ thể sau:
a. Tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư và phát triển làng nghề.
LN có vai trò quan trọng trong tăng trƣởng kinh tế, cung cấp công ăn
việc làm, nâng cao thu nhập cho ngƣời nông dân từ đó góp phần vào sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn. Vì thế, mục tiêu hàng đầu
của Nhà nƣớc khi thiết lập cơ chế quản lý LN là phải tạo điều kiện thuận lợi
cho các nhà đầu tƣ bỏ vốn xây dựng và vận hành hiệu quả các doanh nghiệp,
các cơ sở trong LN. Để đạt đƣợc mục tiêu này, Nhà nƣớc, ngoài ban hành và
thực hiện các chính sách ƣu đãi cho các dự án quy hoạch, phát triển làng
nghề, còn tích cực hỗ trợ DN, cơ sở sản xuất nghề về thủ tục hành chính, về
môi trƣờng của họ. Vì thế, ngày nay, bảo vệ môi trƣờng trong và ngoài LN
trở thành mục tiêu không kém phần quan trọng của quản lý nhà nƣớc.
e. Nâng cao hiệu quả kinh tế theo lãnh thổ
Thông qua phát triển các LN, Nhà nƣớc kỳ vọng vào tác động lan toả
của nó đến các ngành và vùng khác nhƣ hình thành thêm các vùng nông
nghiệp cung cấp nguyên, vật liệu, phát triển dịch vụ cho LN, phát triển các 18
trung tâm thƣơng mại…Vì thế, quản lý của Nhà nƣớc đối với LN phải đƣợc
hoạch định và thực hiện có tầm rộng và đủ xa một cách hợp lý. Trong nhiều
trƣờng hợp, thông qua quản lý LN, Nhà nƣớc còn hƣớng đến thay đổi bộ mặt
kinh tế của địa phƣơng.
f. Tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động
Đây là mục tiêu quan trọng của quản lý nhà nƣớc đối với LN. Bởi vì,
xét cho cùng, phát triển LN phải nhằm phục vụ tốt hơn cuộc sống của dân cƣ.
Một trong những điều kiện để dân cƣ sống tốt hơn là có việc làm và các
quyền cơ bản đƣợc bảo vệ. Do đó, ngoài chính sách khuyến khích các cơ sở
sản xuất nghề trong làng nghề sử dụng lao động địa phƣơng, Nhà nƣớc còn
ban hành các quy định pháp lý bảo vệ quyền của ngƣời lao động, nhất là về
lƣơng, bảo hộ lao động và giải quyết tranh chấp.
1.1.2.3. Cơ chế và công cụ tác động của Nhà nước đến làng nghề.
a. Hệ thống pháp luật
Hệ thống pháp luật điều chỉnh khá đa dạng, bao phủ mọi mặt hoạt động của làng
nghề với tƣ cách một thực thể sống, một bộ phận của nền kinh tế, của xã hội. Có
thể nêu ra một số luật và văn bản dƣới luật sau: Luật Đầu tƣ, Luật Doanh nghiệp,
Luật Thƣơng mại, Luật Lao động, Luật Bảo vệ môi trƣờng, Luật chuyên ngành
(Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Bảo hiểm…)
Thông qua hệ thống pháp luật, một mặt, Nhà nƣớc tuyên bố các quyền và nghĩa
vụ của các chủ thể hoạt động trong làng nghề, đặc biệt là quyền và nghĩa vụ, chính
* Chính sách đất đai
Nhà nƣớc sử dụng chính sách đất đai để điều chỉnh quỹ đất, giá thuê đất trong
các cụm làng nghề. Trƣớc hết, nhà nƣớc quy định việc xây dựng cụm làng nghề
phải tuân thủ quy hoạch vùng, phải quy hoạch tổng thể, dài hạn đất xây dựng các
làng nghề. Thứ hai, nhà nƣớc can thiệp vào quá trình thu hồi đất và chuyển giao cho
các làng nghề. Bởi vì, đất để xây dựng làng nghề thƣờng là đất đã và đang đƣợc dân
cƣ sử dụng. Vì thế, để có thể chuyển đổi mục đích sử dụng, thƣờng phải tiến hành
công tác thu hồi, tập trung và đền bù, giải phóng mặt bằng. Nhà nƣớc tác động đến
quá trình này bằng các quy định về thu hồi đất, chính sách đền bù, chính sách tái