Quản lý nhà nước đối với đất đô thị trên địa bàn quận thanh xuân – thành phố hà nội - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC 1
…………/………… …………/…………

VŨ NGỌC TÚ
TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA
BÀN QUẬN THANH XUÂN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI – 2014
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Đất đai là nguồn tài nguyên có giá trị và có vị trí đặc biệt đối với đời sống
của con người. Tại mỗi quốc gia, có nền kinh tế nông nghiệp hoặc công nghiệp,
đất đai đều đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Đất đai là
nơi ở của của con người, khu vực thành phố cũng như nông thôn. Đó cũng là nơi
xây dựng các công trình công nghiệp, giao thông Đất đai là một thành tố của
tất cả các hoạt động kinh tế, xã hội và là một tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn
lực đầu vào không thể thay thế, đối với sự phát triển. Việt Nam là một đất nước
có diện tích khá hạn chế, dân số đông nên nhu cầu về đất đai, trong xã hội, luôn
ở mức độ cao. Trong giai đoạn hiện nay, quá trình đô thị hoá đang diễn ra
nhanh, thực tế này đặt ra những yêu cầu về tính khoa học, sự hợp lý, tiết kiệm và
hiệu quả trong hoạt động quản lý Nhà nước đối với đất đai.
Đất đô thị là một phần trong diện tích đất một quốc gia, của một vùng. Do
mật độ dân cư cao tại đô thị và nhu cầu dụng đất nói chung ngày một tăng lên,
trong khi đó diện tích đất đô thị lại có hạn nên việc sử dụng đất sao cho tiết kiệm
và hiệu quả là một vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính
sách về đất.
Do quá trình đô thị hóa và nhu cầu sử dụng đất đô thị của Nhà nước, cá
nhân và doanh nghiệp đều tăng cho nên có nhiều vấn đề đã nẩy sinh trong quá
trình quản lý và sử dụng đất đai như việc sử dụng không theo quy hoạch, kế

nói chung và trên địa bàn Thành phố Hà nội nói riêng.
Công tác quản lý nhà nước về quy hoạch sử dụng đất đô thị trên địa bàn
Quận Thanh Xuân thực sự bắt đầu triển khai vào cuối năm 1998. Hàng năm,
theo chức năng của mình, Phòng Quản lý đô thị; Phòng Tài nguyên và Môi
trường có báo cáo, đánh giá thực trạng tình hình quy hoạch và tổ chức thực hiện
quy hoạch sử dụng đất đô thị ở trên địa bàn.
Cho tới nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về quản lý nhà nước
về đất Đô thị trên địa bàn Quận Thanh Xuân. Điều đó cho thấy, việc nghiên cứu
đề tài này là cần thiết và đòi hỏi cần phải tiến hành một cách khoa học.
3
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích.
- Mục đích nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý nhà nước về đất
đai trên địa bàn Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội.
- Luận giải các nội dung liên quan đến công tác quản lý nhà nước về đất
đô thị tại Quận Thanh Xuân
- Đề xuất những giải pháp cơ bản, có tính khả thi nhằm tăng cường công
tác quản lý nhà nước về đất đô thị trên địa bàn Quận Thanh Xuân.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ các cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của nhà nước trong quá
trình quản lý đất Đô thị.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về đất Đô thị trên địa
bàn Quận Thanh Xuân trong những năm qua, rút ra những ưu điểm và tồn tại,
những nguyên nhân và các tác động của nó đến quá trình phát triển kinh tế xã
hội của Quận.
- Xây dựng các hệ thống giải pháp có tính khả thi để tăng cường vai trò
quản lý nhà nước trong công tác quản lý nhà nước đối với đất Đô thị, góp phần
thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Quận Thanh Xuân.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề liên quan đến quản lý

đoạn 1998 – 2014.
Chương III: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đất Đô
thị trên địa bàn Quận Thanh Xuân – Thành phố Hà Nội
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẤT ĐÔ THỊ.
1.1. Khái quát chung về quản lý đô thị.
1.1.1 Khái niệm.
“Đô thị” là một danh từ dùng để chỉ một khu vực không gian mang tính
tổng hợp về kinh tế, chính trị, văn hóa, kiến trúc…
Đô thị là tên gọi chung các thành phố, thị xã, thị trấn. Đây là nơi tập trung
dân cư đông đúc, là trung tâm một vùng lãnh thổ với các hoạt động kinh tế chủ
yếu là công nghiệp và dịch vụ.
Đô thị là tên gọi cho một khu vực dân cư sống tập trung với mật độ cao,
so với vùng nông thôn, tại đây ngành nghề lao động chủ yếu là phi nông nghiệp.
Từ khi hình thành, cùng với việc tập trung của cư dân, đô thị luôn luôn gắn với
những hình ảnh thành quách, lâu đài và cung điện tráng lệ, xa hoa. Khu vực này,
được tạo thành bởi ba yếu tố chủ yếu:
- Không gian vật thể: Tập hợp các công trình xây dựng kế tục và kế cận,
được phục vụ bởi mạng lưới hạ tầng kỹ thuật, được bố trí tại một địa điểm nhất
định trong môi trường thiên nhiên, ít nhiều đã bị khai thác cho các mục tiêu hoạt
độngkinh tế, xã hội của con người.
- Không gian kinh tế: Tập hợp các hoạt động kinh tế.
- Không gian văn hóa xã hội: Có ưu thế của đời sống vật chất, tinh thần và
tâm linh của cộng đồng, liên kết với nhau bằng lối sống chung, mang tính quần
cư.
Trong tiếng Anh, “Đô thị” có thể được dùng với nhiều từ khác nhau như:
City; Town; Urbane areas. Có nhiều khái niệm khác về đô thị như mega city.
Tên gọi này dùng để chỉ những đô thị có dân số trên 10 triệu người. Trên thế
giới có nhiều đô thị loại này như: Tokyo, Nhật Bản; New Deli, Ấn Độ, Karachi,

yếu là lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo lối sống thành thị. Đó là
lối sống đặc trưng bởi những đặc điểm: lối sống công nghiệp có kỷ luật, có nhu
cầu về tinh thần cao, tiếp thu những tiến bộ về nền văn minh của nhân loại
nhanh chóng, có mạng lưới dịch vụ công cộng và thông tin liên lạc thuận lợi.
7
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 của Luật Quy hoạch đô thị thì đô thị là
khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong
lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn
hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của Quốc
gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương.
1.1.2. Đặc trưng của đô thị.
Từ lịch sử hình thành và khái niệm trên, đô thị Việt Nam cũng như toàn
thế giới có những đặc trưng cơ bản là:
- Là nơi tập trung dân cư đông đúc trên một diện tích đất nhỏ hẹp có hạ
tầng kĩ thuật ( phục vụ nhu cầu vật chất con người: đường, điện, cấp thoát nước,
vệ sinh môi trường) và hạ tầng xã hội ( phục vụ nhu cầu giải trí con người: ăn, ở,
y tế, giáo dục, vui chơi ) được xây dựng đồng bộ ở mức độ cao.
- Là nơi con người hoạt động kinh tế chủ yếu ( từ 80% trở lên) trong lĩnh
vực công nghiệp, dịch vụ, thương mại; có nhiều các cơ sở sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ tập trung cao.
- Là nơi có nhiều nhà cao tầng, đường phố dầy đặc; con người cư trú
trong căn hộ có diện tích đất nhỏ hặc cư trú trong căn hộ dùng chung ( chung
cư).
1.1.3. Phân loại đô thị.
Trên thế giới, đô thị được quy ước là thành phố; loại lớn thường được quy
định có dân số khu vực nội thành từ 1 triệu người trở lên.
Ở nước ta, thời kì phong kiến và kháng chiến kéo dài, nền kinh tế thấp
kém nên các đô thị ít được quan tâm đầu tư xây dựng và phát triển. Các thành
phố lớn chủ yếu do thực dân Pháp ( thời kì trước 1954 ở cả nước), đế quốc Mỹ
( thời kì từ 1954- 1974 ở miền Nam) quy hoạch và phát triển trên nền tảng là các

Đô thị hóa tác động, ảnh hưởng sâu sắc tới các lĩnh vực của đời sống xã
hội:
- Đô thị hóa có ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng hiện đại, công nghiệp hoá.
9
- Đô thị hóa cũng tác động mạnh lên sự phát triển kinh tế xã hội của vùng
và cả nước, các nguồn lực được tập trung thu hút và đầu tư vào đô thị, tạo ra các
động lực cho tăng trưởng kinh tế.
- Đô thị là nơi tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động, nâng
cao đời sống văn hoá và vật chất cho người lao động, tạo ra các gia strị văn
minh tinh thần to lớn cho con người.
- Các đô thị là nơi tiêu thụ sản phẩm hàng hóa lớn và đa dạng, là nơi sử
dụng lực lượng lao động có chất lượng cao, cơ sở kĩ thuật hạ tầng cơ sở hiện đại
có sức hút đầu tư mạnh trong nước và nước ngoài.
1.1.5. Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam.
Sau năm 1954, miền Nam Việt Nam diễn ra quá trình đô thị hóa khá
nhanh. Quá trình đô thị hóa ở đây chịu tác động của các chính sách thời chiến.
Lực hút quá lớn do mức sống chênh lệch giữa đô thị và nông thôn cũng là
nguyên nhân Sài Gòn và vùng phụ cận có tốc độ đô thị hóa cao nhất cả trong
khu vực Đông Nam Á. Trước năm 1975, Sài Gòn đã có trên 3 triệu người, tỉ lệ
đô thị hóa miền Nam Việt Nam lúc này lên tới gần 30%.
Cùng thời kỳ đó, miền Bắc cũng tiến hành công nghiệp hóa do chính sách
kiểm soát nhập cư nên dân số đô thị tăng chậm. Trong giai đoạn chống chiến
tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, dân số các đô thị hóa còn giảm do yêu cầu tản
cư và di dời các cơ sở xí nghiệp ra khỏi đô thị. Tỉ lệ đô thị hóa ở miền Bắc sau
năm 1975 vào khoảng 19-20%.
Từ năm 1975 đến năm 1990, dân số đô thị ở cả hai miền có biến động hơn
do sự gia tăng tự nhiên, gia tăng cơ học từ Bắc vào Nam, và từ nông thôn ra
thành thị. Tuy nhiên, do dân số nông thôn tăng tự nhiên nhanh hơn, cộng với
những biến động chính trị (gần 2 triệu thị dân di cư hoặc rời khỏi Việt Nam giai

quản lý đất xây dựng nhà ở và các công trình công cộng ở đô thị.
So với đất ngoại thị, đất đô thị được quản lý chặt chẽ hơn do chịu sự điều
chỉnh của pháp luật về quy hoạch đô thị. Đất đô thị cũng có giá trị cao hơn, có
tính linh động cao hơn đất nông thôn nên tính chất quản lý cũng phức tạp và khó
khăn hơn. Cần chú ý là đất ngoài đô thị nhưng đã có quy hoạch chi tiết xây dựng
11
đô thị, khu công nghiệp khu du lịch sinh thái, khu công nghệ cao cũng được
quản lý giống như đất đô thị.
Trong giai đoạn chuyển đổi, công tác quản lý đất đô thị phải giải quyết
nhiều mối quan hệ: phát triển mở rộng và tái phát triển đô thị cũng là chuyển đổi
mục đích sử dụng của rất nhiều các chủ thể được giao đất trong giai đoạn bao
cấp như nhà máy, xí nghiệp, các tổ chức chính trị, xã hội, và lực lượng vũ trang.
Bối cảnh này làm nhiều nhiệm vụ thực hiện chậm hoặc kém hiệu lực, hiệu quả.
Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất khi mở rộng đô thị ra các khu vực xung
quanh gặp nhiều khó khăn bởi phải thu hồi đất nông nghiệp, ảnh hưởng lớn đến
đời sống nông dân. Nhiều dự án cải tại chỉnh trang đô thị, phát triển kết cấu hạ
tầng chậm tiến độ và đội chi phí.
Trong phạm vi đô thị, nhiệm vụ quản lý mục đích sử dụng đất khi xây
dựng cải tạo thuộc về ngành xây dựng nhằm tổ chức thực hiện quy hoạch đô thị.
Ngành tài nguyên đóng vai trò “quản lý quỹ” và tham mưu cho UBND trong
quá trình lập kế hoạch sử dụng đất. Với những đô thị chưa có quy hoạch chi tiết
hoặc đang điều chỉnh, nhiều công trình xây dựng bị ‘treo’. Nếu thời gian kéo
dài, các công trình sẽ được cho phép xây dựng tạm.
Việc thu hồi và đền bù đất ở đô thị về nguyên tắc không khác với thu hồi
đền bù ở nông thôn. Tuy nhiên, thu hồi và đền bù giải phóng mặt bằng ở đô thị
thường có tính chất phức tạp hơn do mật độ dân số cao, nguồn gốc đất biến động
nhiều, dự án có quy mô lớn, tổ chức nhiều tầng nấc, các hoạt động kinh tế đa
dạng nên tính toán chi phí đền bù, áp giá, kiểm đếm các công trình hạ tầng và
bất động sản đã xây dựng và sử dụng phức tạp và mất nhiều thời gian, đặc biệt
là quỹ đất tái định cư và việc giải quyết chỗ ở có nhiều khó khăn.

vùng đất sẽ Đô thị hoá nằm trong phạm vi, ranh giới quy hoạch xây dựng đô thị
đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
1.2.2. Vai trò quản lý Nhà nước đối với đất đô thị.
Vai trò quản lý Nhà nước đối với đất Đô thị ở nước ta được thể hiện thông
qua quy hoạch chiến lược, quy hoạch, lập kế hoạch phân bổ đất, thông qua công
tác đánh giá, phân hạng đất, ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật đất đai,
13
thông qua việc ban hành và thực hiện hệ thống chính sách về đất Đô thị, thông
qua việc kiểm tra, giám sát quản lý và sử dụng đất nhằm: điều chỉnh các quan hệ
đất đai, bảo vệ chế độ sở hữu đất đai, sử dụng đất cho hợp lý và hiệu quả. Đây
cũng là ba nhiệm vụ cơ bản của quản lý đất đai.
Quản lý để điều chỉnh các quan hệ đất đai giữa người sử dụng đất với Nhà
nước, giữa những người sử dụng đất với nhau: Quan hệ đất đai bao gồm quan hệ
sở hữu, quan hệ sử dụng, quan hệ cung cầu… trong đó quan hệ sở hữu và quan
hệ sử dụng là hai quan hệ cơ bản nó phản ánh quan hệ mang tính pháp lý và tính
kinh tế trong đất đai. Tính pháp lý thể hiện trong quyền sở hữu đất đai nó gồm 3
quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Ba quyền này
thuộc về người sở hữu đất đai. Khi quyền sử dụng được người sở hữu đất đai
giao cho người khác tức là có sự phân tách quyền sở hữu và quyền sử dụng thì
quan hệ đất đai mang tính kinh tế được hình thành. Đó là việc người sử dụng đất
phải trả một khoản tiền sử dụng đất cho người sở hữu đất. Đây chính là thuế đất
ngày nay và là gốc của giá cả đất đai. Quan hệ đất đai ở đây thể hiện trong thực
tế giữa người sở hữu đất đai với người sử dụng đất đai, giữa người sử dụng đất
với nhau. Nhà nước là người sở hữu đất, khi thực hiện vai trò quản lý của mình
Nhà nước có thể điều chỉnh được các quan hệ đất đai cho phù hợp với sự phát
triển kinh tế, phù hợp định hướng phát triển của đất nước.
Bảo vệ chế độ sở hữu đối với đất đai: Luật đất đai năm 1993 của nước ta
đã quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý”.
Do vậy xét về sở hữu thì đất đai nước ta thuộc sở hữu toàn dân hay sở hữu Nhà
nước. Như vậy, Nhà nước tiến hành quản lý để bảo vệ chế độ sở hữu là một tất

- Đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa các lợi ích
Quyền sở hữu và quyền sử dụng khi phân tích sẽ có sự phân định lợi ích
giữa người sở hữu và người sử dụng đất. Đất đô thị có giá trị kinh tế cao do đó
lợi ích luôn đặt lên hàng đầu nhất là trong nền kinh tế thị trường. Điều này đòi
hỏi Nhà nước quản lý đất phải dựa trên nguyên tắc lợi ích kinh tế giữa một bên
là Nhà nước và một bên là chủ sử dụng đất phải được phân bố hài hoà lợi ích do
đất mang lại. Như vậy trong quản lý Nhà nước phải sử dụng chính sách thuế sao
15
cho phù hợp để kích thích sự phát triển của đất nước, tạo động lực cho chủ sử
dụng đất sản xuất kinh doanh trên đất có lãi.
- Tiết kiệm và hiệu quả
Đây là nguyên tắc cơ bản trong quản lý đất đai nói chung và quản lý đất
Đô thị nói riêng vì bất cứ hoạt động nào dù là kinh tế hay chính trị đều hoạt
động theo nguyên tắc này. Đất đai nói chung và đất đô thị nói riêng là có hạn
trong khi dân số ngày một tăng nhanh, nếu ta sử dụng lãng phí thì sẽ không thể
đảm bảo cho cuộc sống trong tương lai, vì vậy ta cần phải sử dụng tiết kiệm, sử
dụng đất sao cho có lợi ích mang lại là cao nhất.
Như vậy, tiết kiệm và hiệu quả trong công tác quản lý đất đô thị là một
nguyên tắc quan trọng. Yêu cầu cơ bản của nguyên tắc này là công tác quản lý
Nhà nước về đất đai đòi hỏi các tổ chức và các cá nhân phải thực hiện tốt các
nhiệm vụ của mình trong việc sử dụng đất Đô thị với chi phí thấp nhất.
- Đảm bảo sự kết hợp quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đô thị
Quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai đã được ghi rõ trong Điều 1 Luật
đất đai năm 1993: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản
lý, Nhà nước giao cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan
Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội (gọi chung là các tổ chức), hộ gia đình và cá
nhân sử dụng ổn định lâu dài…” .
Sở hữu và sử dụng là hai vấn đề hết sức phức tạp, nó có thể tập trung hoặc
tách riêng. Để tập trung lại thì vấn đề này thuộc về người sử dụng đất Đô thị. Họ
có toàn quyền về khu đất đó cả về kinh tế và pháp lý. Nhưng khi hai vấn đề này

đất khi thực hiện giao đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền thuê đất và đền
bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất.
1.2.3.3. Quy hoạch xây dựng Đô thị và kế hoạch sử dụng đất đô thị.
- Quy hoạch xây dựng Đô thị được qui định trong Luật xây dựng năm
2005 và Luật đô thị năm 2005.
Quy hoạch Đô thị là một bộ phận của quy hoạch không gian có mục tiêu
trọng tâm là nghiên cứu những vấn đề về phát triển và quy hoạch xây dựng Đô
thị, các điểm dân cư kiểu Đô thị. Quy hoạch xây dựng Đô thị có liên quan đến
17
nhiều lĩnh vực khoa học chuyên ngành nhằm giải quyết tổng hợp những vấn đề
về tổ chức sản xuất, xã hội, đời sống vật chất, tinh thần và nghỉ ngơi, giải trí của
nhân dân.
Việc thiết kế quy hoạch Đô thị thường gồm hai hoặc ba giai đoạn chủ yếu:
xây dựng quy hoạch sơ đồ cơ cấu phát triển đô thị, quy hoạch tổng thể và quy
hoạch chi tiết. Quy hoạch sơ đồ phát triển cơ cấu Đô thị mang tính định hướng
phát triển đô thị trong thời gian 25 - 30 năm, quy hoạch tổng thể Đô thị xác định
rõ cấu trúc đô thị trong thời gian 10 - 15 năm, thiết kế quy hoạch chi tiết các bộ
phận của đô thị là việc cụ thể hoá hình khối không gian, đường nét, màu sắc và
bộ mặt kiến trúc trục phố, trung tâm, các khu ở, sản xuất và nghỉ ngơi, giải trí
của đô thị.
- Lập kế hoạch sử dụng đất đô thị.
Khi có quy hoạch ta tiến hành lập kế hoạch phân bổ chi tiết cho xây dựng
Đô thị.
Tiến hành lập kế hoạch cho từng loại đất: đất công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, đất chuyên dùng, đất khu trung tâm đô thị, đất ở Đô thị, đất cây xanh,
đất giao thông… Khi lập ra cần căn cứ vào quy mô Đô thị để tính tỷ lệ diện tích
từng loại đất cho phù hợp. Trong quá trình thực hiện quy hoạch kế hoá sử dụng
đất cần điều chỉnh cho phù hợp thực tế cải taọ, phát triển đô thị.
1.2.3.4. Giao đất, cho thuê đất, thu hồi và đền bù đất đô thị.
- Giao đất, cho thuê đất.

+ Khi thu hồi để xây dựng Đô thị mới UBND Quận phải lập và thực hiện
dự án di dân giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện ổn định cuộc sống của người có
đất bị thu hồi.
Thu hồi đất là một nội dung cơ bản trong quản lý đất Đô thị, nó góp phần
thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Đô thị hiệu quả nhanh chóng, tạo
điều kiện sử dụng đất hợp lý và hiệu qủa cao hơn. Thể hiện được vai trò sở hữu
Nhà nước đối với đất đai.
19
1.2.3.5. Ban hành các chính sách và lập kế hoạch xây dựng cơ sở hạ
tầng khi sử dụng đô thị.
Từ năm 1945, từ đó đến nay, Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản
pháp quy về quản lý đất đai và những văn bản hướng dẫn thực hiện chúng. Các
văn bản, các chính sách thường xuyên được cập nhật, bổ sung cho phù hợp với
yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước, phù hợp với yêu cầu đô thị hoá và phát
triển đô thị. Khái quát lại, có thể chia ra làm các thời kỳ:
- Trước 15/10/1993: Pháp luật qui định nhiều loại hình thức sở hữu đất
đai như: sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. Các văn bản thời kỳ
này chỉ chú trọng đến lợi ích của một số người, chủ yếu là lợi ích tập thể, lợi ích
Nhà nước. Đối tượng áp dụng chủ yếu của văn bản là đất nông nghiệp về quy
định khoán sản phẩm, điều chỉnh ruộng đất, đẩy mạnh cải tạo đất… Thời kỳ này
đã ra đời Luật đất đai năm 1988 và các văn bản hướng dẫn thi hành nhưng Luật
này còn nhiều hạn chế. Nói chung trong thời kỳ này đất đai được quản lý rất
lỏng lẻo, đất coi như không có giá trị, giá đất rẻ, do đất đai thuộc sở hữu tập thể,
tập thể sử dụng, cá nhân chỉ tham gia làm và được trả công theo ngày công lao
động do đó họ không quan tâm đến hiệu quả sử dụng trong đất đai.
- Từ năm 1993 đến nay: Được đánh giá bằng Luật đất đai năm 1993, Luật
đất đai năm 2003. Đất được giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng lâu dài, lợi
ích trên đất gắn liền với lợi ích người sử dụng đất. Nhà nước thống nhất quản lý
toàn bộ đất đai trên phạm vi cả nước.
1.2.3.6. Đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đô thị.

thì công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo phải được chủ trương
thực hiện, các cán bộ chuyên trách phải có đủ năng lực và tinh thần làm việc
nghiêm túc, hiểu rõ được công tác và nội dung quản lý Nhà nước đối với đất đai,
hiểu Luật pháp về quản lý Nhà nước và quản lý Nhà nước đối với đất đai để tạo
điều kiện cho Luật đất đai được thực hiện đúng, người sử dụng đất được đảm
bảo về lợi ích trong quá trình sử dụng đất.
21
1.3. Cơ sở pháp lý về quản lý đất đô thị
Cơ sở pháp lý của công tác quản lý đất đô thị bao gồm nhiều nguồn, trong
đó có nguồn văn bản quy phạm pháp luật: luật và dưới luật của Trung ương và
địa phương; các đồ án quy hoạch đô thị và các quy chuẩn tiêu chuẩn; các Nghị
quyết Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Các văn
bản dưới luật bao gồm nghị định, thông tư và kể cả các chỉ thị và văn bản chỉ
đạo điều hành khác.
Các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đất đô thị ở Việt Nam chưa
được tổng hợp thành những bộ luật bao trùm nội dung của công tác này. Vì vậy,
các cơ quan phải dùng các cơ sở pháp lý chưa được hệ thống hóa, nằm ở nhiều
văn bản khác nhau. Tính đến năm 2014 có các văn bản chính đóng vai trò quan
trọng để điều chỉnh các hoạt động liên quan đến quản lý đất đô thị, đó là:
- Luật đất đai năm 1993
- Luật đất đai năm 2003
- Hiến pháp 2013
- Luật đất đai năm 2013
Ngoài các văn bản luật chính nêu trên, các cơ quan quản lý còn sử dụng
nhiều văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành làm cơ sở điều chỉnh các hoạt động
quản lý trên toàn quốc. Luật Thủ đô là một đạo luật dành riêng cho Hà Nội có
những quy định liên quan đến đô thị, đối với một trung tâm kinh tế, chính trị,
văn hóa… của cả nước.
Kết luận chương I
Như vậy, quản lý nhà nước đối với đất đô thị là nội dung quan trọng đối

với việc sử dụng và quản lý đất của cơ quan quản lý đất. Kinh tế của quận được
duy trì và phát triển theo đúng định hướng cơ cấu trong 5 - 10 năm gần đây với
xu hướng giảm dần tỷ trọng công nghiệp và tăng dần tỷ trọng dịch vụ. Ngành
dịch vụ - thương mại có bước phát triển sâu và rộng trên địa bàn quận đáp ứng
nhu cầu dân sinh. Nhiều dịch vụ chất lượng cao, đặc biệt là dịch vụ ngân hàng
tài chính phát triển. Trong đó kinh tế Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn, các thành
23
phần kinh tế ngoài Nhà nước tăng trưởng cả về số lượng, quy mô và hiệu quả.
Giá trị thương mại dịch vụ tăng bình quân 13%.
Trong giai đoạn 2006 - 2013, kinh tế trên địa bàn quận tiếp tục tăng
trưởng, đạt và vượt các chỉ tiêu kế hoạch đề ra: giá trị sản xuất công nghiệp tăng
bình quân 16%. Trong năm 2010 - 2013, kinh tế tuy vẫn tăng trưởng nhưng tỷ lệ
đạt thấp, giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân khoảng 7,5%. Thu ngân
sách trên địa bàn quận hoàn thành vượt mức dự toán thu Thành phố giao. Chi
ngân sách đảm bảo kịp thời, đúng quy định, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị
và phát triển kinh tế - xã hội của quận.
Từ năm 2005 đến 2013, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm dần
tỷ trọng giá trị sản xuất các ngành công nghiệp từ 54% xuống còn 35%, giá trị
sản xuất các ngành dịch vụ giảm từ 12% xuống 9%, tuy nhiên trong 3 năm từ
2010 đến 2013 giữ nguyên ở mức 9%. Tỷ trọng giá trị ngành xây dựng tăng từ
34% lên đến 53%.
Các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn có xu hướng chuyển hướng
sang sản xuất những sản phẩm không ô nhiễm môi trường, khai thác nhiều chất
xám; hoặc phải đổi mới công nghệ để giảm ô nhiễm.
Năm 2013, dân số của quận là 252.363 người, trong đó nữ giới là 124.105
người chiếm 49,17%, nam chiếm 50,83%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trung bình
trong vòng 5 năm qua là 1,05%, tỷ lệ sinh con thứ 3 dưới mức 1,44%, tỷ lệ trẻ
em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 8,83%. Dân số của quận tăng nhanh
chủ yếu là tăng cơ học, do những năm qua thu hút được số lượng đáng kể lao
động từ các địa phương đến làm việc trong các ngành dịch vụ, công nghiệp trên

- Dự thảo văn bản trình UBND quận để báo cáo cấp trên có thẩm quyền
quyết định việc giao đất, chuyển quyền sử dụng đất, cho thuê đất, thu hồi đất,
quản lý đất công để sử dụng vào các mục đích phục vụ lợi ích công cộng.
- Tổ chức xét hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử
dụng đất ở cho cá nhân và các tổ chức xã hội, theo thẩm quyền của UBND quận
do pháp luật quy định.
- Căn cứ yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ do Sở Tài nguyên môi trường
Thành phố hướng dẫn, có kế hoạch đề nghị UBND quận cử cán bộ đi đào tạo,
25

Trích đoạn Tình hình quản lý đất đai. Quản lý đất đô thị và phát triển đô thị trên địa bàn Quận Thanh Xuân. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý đất trên địa bàn quận Thanh Xuân. thị tăng quá nhanh. Bất hợp lý về kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status