HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VÕ VĂN LỢI
QU¶N Lý NHµ N¦íC §èI VíI §ÊT §¤ THÞ
CñA THµNH PHè §µ N½NG LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2015
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc
rõ ràng. Những kết luận khoa học của luận án chưa được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Võ Văn Lợi
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
5
1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án
5
1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài luận án
15
1.3. Những kết quả đạt được và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
26
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
145
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
146
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐS : Bất động sản
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
GCN : Giấy chứng nhận
HĐND : Hội đồng nhân dân
KCHT : Kết cấu hạ tầng
KT-XH : Kinh tế - xã hội
NSNN : Ngân sách nhà nước
PPP : Hợp tác công - tư
QHKH : Quy hoạch, kế hoạch
QLNN : Quản lý nhà nước
SDĐ : Sử dụng đất
TNMT : Tài nguyên và môi trường
TTTW : Trực thuộc Trung ương
UBND : Ủy ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Số liệu nợ quá hạn về thu tiền sử dụng đất
85
Bảng 3.2: Quá trình tổ chức đấu giá qua các năm của Trung tâm giao
84
Hình 4.1: Đánh giá thái độ làm việc của cán bộ tài nguyên và môi trường
127
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đô thị là nền tảng phát triển đô thị, là một trong những nguồn nội lực
quan trọng hàng đầu của sự nghiệp CNH, HĐH, đô thị hóa, không chỉ để đáp
ứng nhu cầu về mặt bằng, mà còn là hàng hóa đặc biệt để khai thác, tạo ra nguồn
vốn đầu tư xây dựng và phát triển đô thị.
Đà Nẵng là một trong những địa phương có tốc độ đô thị hóa nhanh nhất
cả nước, diện tích đất đô thị tăng nhanh từ 6000 ha thời điểm trước năm 1997,
đến năm 2012 diện tích đất đô thị của thành phố tăng lên 24.554,33 ha. Bên cạnh
đó, cùng với các đồ án xây dựng theo quy hoạch đã làm cho bộ mặt đô thị được
đổi mới khang trang, hiện đại. Đặc biệt, kể từ khi trở thành thành phố trực thuộc
trung ương (năm 1997), Đà Nẵng đã đạt được những thành tựu to lớn trong công
cuộc chỉnh trang, phát triển đô thị. Kết cấu hạ tầng KT-XH, không gian đô thị
được quy hoạch bài bản, hiện đại và tiếp tục được đầu tư khá mạnh với nhiều
công trình quy mô lớn, làm thay đổi diện mạo đô thị, góp phần tăng cường giao
thương, kết nối, thúc đẩy phát triển KT-XH của Vùng. Trong QLNN đối với đất
đô thị, Đà Nẵng đã đạt được những kết quả tốt, có những điểm sáng trong cơ chế
quản lý đất đô thị như thống nhất thu hồi đất theo quy hoạch; góp đất và điều
chỉnh lại đất khi thực hiện các dự án giao thông và chỉnh trang đô thị, mở rộng
diện tích thu hồi dọc theo 2 bên đường, lấy quỹ đất sạch "bán" cho nhà đầu tư,
tạo nguồn thu lớn cho ngân sách; đặc biệt là cơ chế giải phóng mặt bằng, giải
tỏa, đền bù đất đai cho những cá nhân, tổ chức phải di dời.
Mặc dù vậy, do ảnh hưởng của quá trình CNH, HĐH và đô thị hóa, QLNN
đối với đất đô thị trên địa bàn thành phố Đà Nẵng còn nhiều hạn chế, đó là:
- Sự phát triển của thị trường đất đô thị vượt qua sự phát triển của đô thị
- Hệ thống hóa có bổ sung cơ sở lý luận về đất đô thị và QLNN đối với
đất đô thị của chính quyền cấp tỉnh, thành phố TTTW.
- Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN đối với đất đô thị của thành phố
Đà Nẵng, rút ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân.
3
- Đề xuất quan điểm và một số giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với
đất đô thị của thành phố Đà Nẵng trong thời gian đến năm 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.
Đề tài luận án là QLNN đối với đất đô thị của chính quyền cấp tỉnh, thành
phố gắn với đặc thù của một thành phố ven biển miền Trung như thành phố Đà
Nẵng đặt trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước trung ương.
3.2.
- Tập trung nghiên cứu QLNN đối với đất đô thị trong phạm vi ranh giới
đô thị của thành phố Đà Nẵng.
- Thời gian nghiên cứu thực trạng QLNN đối với đất đô thị chủ yếu từ khi
Luật Đất đai sửa đổi năm 2003 đến nay.
- Các giải pháp đề xuất đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử, phương pháp trừu tượng hóa khoa học để phân tích các vấn đề lý luận và
thực tiễn về QLNN đối với đất đô thị.
- Sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, lôgíc kết hợp với lịch sử,
tổng kết, đánh giá việc thực hiện các nội dung QLNN đối với đất đô thị ở thành
phố Đà Nẵng.
- Đề tài sử dụng 160 phiếu khảo sát điều tra (được thực hiện ở các quận
Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Cẩm Lệ, Liên Chiểu) để đánh giá mức độ hài lòng của
người dân về QLNN đối với đất đô thị của thành phố Đà Nẵng. Về đối tượng,
mục đích, nội dung điều tra đã được tác giả trình bày trong phụ lục 13 và phụ lục
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Ở nước ngoài việc nghiên cứu vấn đề đất đai nói chung và đất đô thị nói
riêng trong điều kiện kinh tế thị trường đã được nhiều người quan tâm từ lâu. Có
thể khái quát các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến QLNN đối
với đất đô thị theo các nội dung sau:
1.1.1. Các nghiên cứu về đất đô thị
Nghiên cứu lịch sử hình thành đất đô thị, Ratcliff [98, tr.1-18] cho rằng
quá trình xác định việc sử dụng các khoảng đất theo chức năng là phương thức
tạo ra đất đô thị. Theo tác giả, các yếu tố xã hội và kinh tế là những nhân tố
quyết định tạo ra đất đô thị. Từ quan niệm này, tác giả cho rằng, quan niệm đất
đô thị là đất nằm trong ranh giới đô thị theo địa giới hành chính là chưa đủ. Bởi,
ranh giới đô thị có thể không được quy định đầy đủ các tiêu chí chức năng đô
thị, chúng có thể là kết quả của các yếu tố lịch sử và sự thuận tiện về mặt chính
trị. Do đó, khi xác định đất đô thị phải căn cứ vào các tiêu chí chức năng đô thị
thì mới phù hợp hơn.
Cũng nghiên cứu từ góc độ hình thành đất đô thị, theo Marion Clawson
[95, tr.43] đất đô thị là sản phẩm của một loạt các quyết định công khai và các
quyết định cá nhân. Đất đô thị là một loại hàng hóa được ghi nhận tại các cơ
quan chính trị và xã hội. Marion Clawson đã đưa ra định nghĩa: đất đô thị là một
đơn vị không gian và tài sản có nguồn gốc từ các thể chế pháp lý, hành chính và
kinh tế hay nói cách khác đất đô thị là một sản phẩm của sự sắp xếp thể chế và
xã hội.
M. A. Quadeer[96, tr.169-170] định nghĩa đất đô thị: là đất được sử dụng
hoặc được kỳ vọng sẽ được sử dụng cho các hoạt động của đô thị. Định nghĩa
này chuyển trọng tâm từ nơi trên bề mặt trái đất thành một mảnh đất nằm trên,
7
thị và cũng là các yếu tố tác động đến sự vận hành của thị trường đất đô thị. Do
đó, cần thiết phải cải cách thể chế và chính sách trong từng giai đoạn theo quy
luật thị trường. Đây là điều kiện hết sức cần thiết nhằm khai thác tốt nguồn lực
đất đai. Tuy nhiên thể chế đất đô thị thường mang tính ổn định tương đối, do đó
để không bị "lạc hậu", các tác giả cho rằng, thể chế chỉ nên quy định những vấn
đề mang tính nguyên tắc cơ bản và có tầm nhìn dài hạn, những vấn đề còn lại
nên để cho các chủ thể kinh tế thích ứng với sự thay đổi của môi trường.
Chính sách đất đô thị - Những vấn đề và những cơ hội (Urban Land
Policy - Issues and Opportunities), của tác giả Dunkerley và Harol [92], đã trình
bày những vấn đề khác nhau của quyền sử dụng đất đô thị liên quan đến mục
tiêu công bằng và hiệu quả. Từ đó, để tạo ra sự công bằng và hiệu quả, các tác
giả đề xuất Chính phủ phải tập trung vào ba nhóm công cụ như sau:
Thứ nhất, Chính phủ can thiệp thông qua chính sách thuế và sở hữu công.
Về thuế đất, Chính phủ sẽ đánh thuế cao đối với các loại đất trống hoặc
đất không được sử dụng. Tuy nhiên, thuế không được coi là một công cụ quan
trọng nhằm can thiệp vào thị trường đất đai cũng như tác động vào việc sử dụng
đất đai vì nó chỉ giúp đạt được mục tiêu về thu ngân sách; đối với sở hữu công
về đất đai, sở hữu công bao gồm hai hình thức: ngân hàng đất đai và chính sách
điều chỉnh mục đích sử dụng đất. Ngân hàng đất đai thường dùng để chỉ sự
chiếm hữu trước về đất đai cho chính phủ sử dụng hoặc chiếm hữu đất không sử
dụng thuộc sở hữu công với quy mô lớn để sử dụng cho khu vực thành thị trong
tương lai. Trong khi đó, chuyển đổi mục đích sử dụng đất lại là một hình thức
tạm thời của sở hữu công nhằm chuyển đổi mục đích sử dụng của đất đai, từ các
vùng đất nông nghiệp nhỏ và manh mún thành các tòa nhà đô thị dùng cho các
dịch vụ công. Đối với nhóm giải pháp này, tác giả đưa ra khuyến nghị: Khi cung
về đất đai bị thiếu hụt, giá thuê đất và vốn đầu tư cao hơn sẽ dịch chuyển một số
lợi ích của dịch vụ công sang người sở hữu đất. Đồng thời, Chính phủ sẽ không
mở rộng dịch vụ cơ bản vì không thể bù đắp cho chi phí công tăng cao. Do vậy,
gia đang phát triển (A Framework for Reforming Urban Land Policies in
Developing Countries), của tác giả Dowell và Giles [90]. Các tác giả đã đề cập
9
đến các vấn đề sau: (i) Giải thích tại sao cải cách chính sách đất đô thị là cần
thiết. (ii) Đánh giá các vấn đề tồn tại của thị trường đất đai hiện nay, nhất là có
sự can thiệp không phù hợp của chính phủ ở những vị trí khác nhau (can thiệp
quá nhiều, hoặc can thiệp quá ít). Công trình cũng chỉ ra những vấn đề không
thích hợp trong lập kế hoạch SDĐ, vượt trên quy định, tệ quan liêu và việc phát
triển đất công không hiệu quả. Các tác giả cho rằng, Chính phủ chỉ tham gia ở
những khâu: đặt tên đất và đăng ký, tài trợ KCHT và thúc đẩy tái phát triển bên
trong đô thị. (iii) Cung cấp những đề xuất về cải cách chính sách đất đô thị. Các
đề xuất này tập trung vào việc đánh giá những vấn đề còn tồn tại của thị trường
đất đô thị; phân cấp thẩm quyền quản lý đất đai cho chính quyền địa phương; bãi
bỏ quy định không phù hợp; tư nhân hóa; nâng cao hiệu quả thị trường đất đai.
Báo cáo về Xây dựng thể chế hỗ trợ thị trường đất đô thị, của Ngân hàng
Thế giới, năm 2002 đã đưa ra định nghĩa thể chế: "là những quy tắc, kể cả các
chuẩn mực, về hành vi mà dựa vào đó các tác nhân tương tác với nhau. Thể chế
còn là các tổ chức để thực hiện các quy tắc và quy phạm đạo đức, nhằm đạt
được kết quả mong muốn. Các chính sách ảnh hưởng tới việc thể chế nào sẽ thay
đổi, còn thể chế ảnh hưởng tới việc chính sách nào sẽ được áp dụng" [40, tr.43].
Trên cơ sở đưa ra lý luận và phân tích thực trạng xây dựng, thực thi thể chế thị
trường đất đô thị ở Việt Nam, Báo cáo đã nêu ra một số giải pháp hỗ trợ của nhà
nước cho thị trường đất đô thị, đó là:
+ Nhà nước cần hỗ trợ thị trường bằng cách quản trị tốt, tức là tạo ra, bảo
vệ và thực thi quyền sở hữu tài sản đất đai.
+ Thiết lập cơ quan đăng ký đất đai và cung cấp các dịch vụ trao quyền sở
hữu đất đai và địa chính cho người dân.
Hai là, nghiên cứu quản lý nhà nước đối với đất đô thị trên lĩnh vực hoàn
thiện công cụ quy hoạch sử dụng đất.
Trong việc phân tích, lập luận và xây dựng mô hình, các tác giả đã tiếp cận quy
hoạch theo hướng phát triển bền vững bằng việc lồng ghép ba yếu tố (kinh tế-
môi trường - sự công bằng). Cũng trong cuốn sách này, các tác giả đã đề xuất
việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật số hỗ trợ cho công tác lập quy hoạch; xây
11
dựng các thiết kế đô thị có tính tập thể dựa trên ý kiến đóng góp và phân tích của
nhân dân.
Quy hoạch và kiểm soát công đối với đô thị và phát triển đất đai: Tình
huống và tư liệu (Public Planning and Control of Urban and Land Development
Cases and Materials), của tác giả Donald G. Hagman [91], đã khẳng định vai trò
rất quan trọng của đất đai trong quá trình phát triển KT-XH của mỗi quốc gia,
như: khả năng thu hút đầu tư, xóa đói giảm nghèo,… Đặc biệt, công trình nghiên
cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa chính sách QLNN đối với đất đai, khuynh hướng
sử dụng đất ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững và nghèo đói của các nước
đang phát triển; cảnh báo về những quy định pháp luật, hoạch định chính sách,
phương thức quản lý của các quốc gia, đặc biệt là các địa phương có thể ảnh
hưởng đến việc khai thác nguồn lực quý giá này. Tuy nhiên, do tác giả tiếp cận
mang tính chất chung cho các quốc gia nên khi vận dụng vào thực tiễn ở từng
quốc gia cần phải có sự cân nhắc.
Ba là, các nghiên cứu quản lý nhà nước đối với đất đô thị trên lĩnh vực
nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng loại đất này.
Các chương trình tái điều chỉnh đất trong sự phát triển đô thị của Hàn
Quốc, của tác giả Lee Tae-II [67]. Tác giả đã phân tích thực trạng các chính sách
mà chính phủ Hàn Quốc đưa ra trong quá trình thực hiện giao đất, thu hồi, đền
bù đất đô thị, qua đó người đọc thấy được các chính sách khi đưa ra không được
người dân hưởng ứng và thực thi sẽ dẫn đến tình trạng khiếu nại, tố cáo, do đó
hiệu quả đem lại không cao. Vì vậy, để giải quyết tình trạng này, tác giả đã đề
xuất các hình thức tái điều chỉnh đất đô thị. Theo tác giả, bản chất của tái điều
chỉnh là việc điều hòa lợi ích giữa các bên liên quan đến đất để tăng hiệu quả sử
tra, kiểm soát thường xuyên, chặt chẽ thông tin, thậm chí kể cả các thông tin chỉ là
để bắt đầu hiểu được các quá trình vận hành của nó. Để trả lời câu hỏi: làm thế
nào để quản lý đảm bảo thị trường BĐS ở Việt Nam phát triển mang tính bền
vững, các tác giả kiến nghị quản lý từ việc đăng ký, định giá đất đai, năng lực
nhận thức và các dịch vụ tài chính, cho đến phối hợp giữa các cơ quan QLNN,
phối hợp giữa các cơ quan QLNN và tư nhân phải nhịp nhàng. Trong các kiến
13
nghị đó, các tác giả cho rằng, nhà nước chỉ nên tác động vào các hoạt động mang
tính vĩ mô, còn các hoạt động kinh doanh, đầu tư khác nên để cho khu vực tư nhân
đảm nhiệm. Vấn đề nâng cao hiệu quả của công tác QHKH SDĐ hiện nay được
các tác giả kiến nghị tiến hành với sự tham gia của nhiều phía như: phối hợp giữa
các cấp chính quyền, với người dân; phối hợp của các cơ quan tư pháp như: tòa
án, viện kiểm soát trong quản lý đất đai, trong kiểm tra thực thi luật, kiểm tra các
quyết định quản lý của cơ quan hành pháp tại địa phương.
Giải phóng giá trị đất đai để cung cấp tài chính cho kết cấu hạ tầng đô
thị của George E. Peterson [47]. Tác giả đã làm rõ giải pháp bổ sung quan trọng
cho tài chính hạ tầng địa phương đó là: lấy giá trị tăng thêm của đất để bổ sung
nguồn vốn cho đầu tư công. Giá trị của đất rất nhạy cảm với đầu tư KCHT và sự
tăng trưởng kinh tế đô thị. Các dự án công trình công cộng như xây dựng đường,
cấp nước, điện, giao thông đem lại những lợi ích có thể tư bản hóa ngay lập tức
vào giá trị đất đai ở xung quanh công trình. Công trình này đã đưa ra cách thức
để sử dụng giá trị đất đai nhằm hỗ trợ đầu tư cho KCHT. Tuy nhiên, khi nghiên
cứu vấn đề này, tác giả còn đề cập đến việc xây dựng quy chế ổn định và công
bằng khi thực hiện thu hồi và đền bù đất đai; ngăn ngừa tình huống chính quyền
đô thị có thể lạm dụng việc cung cấp tài chính từ đất đai thông qua thu hồi đất ở
khu vực ven đô mà không trả tiền đền bù xứng đáng, sau đó lại phung phí tiền
bán đất vào những chi tiêu lãng phí hoặc phát triển dàn trải, không hiệu quả.
Ngoài ra tác giả còn lưu ý rằng thị trường đất đô thị luôn biến động, do đó, cần
xác định rõ khoản thu từ việc bán đất chỉ là nguồn thu nhất thời và cần được sử
Quán Thụy Điển, (2011) [44]. Trong công trình này các nhà nghiên cứu đã làm
rõ các nguyên nhân phát sinh tham nhũng trong quản lý đất đai, các hình thức
hiện có của loại tham nhũng này. Trên cơ sở phân loại xác định nguy cơ và các
dạng tham nhũng trong quản lý đất đai, các tác giả đã đề xuất cách thức giải
quyết đối với từng loại tham nhũng cụ thể và đưa ra một số kiến nghị đối với
từng loại tham nhũng.
Nghiên cứu về khảo sát tình hình công khai thông tin quản lý đất đai, của
Ngân hàng Thế giới (WB) và Bộ Phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID), Hà
15
Nội [43], đã khảo sát tình hình công khai thông tin trên các lĩnh vực thủ tục hành
chính đất đai; quy hoạch sử dụng đất; quy hoạch đô thị; đền bù giải tỏa, ở Việt
Nam từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện QLNN về đất đai. Báo cáo là
một công trình có ý nghĩa thực tiễn cho các cấp chính quyền xây dựng và hoàn
thiện công tác QLNN đối với đất đai ở địa phương mình. Tuy vậy, báo cáo chỉ
khảo sát ở khía cạnh cung cấp thông tin, còn nội dung thực hiện QLNN thì
không đề cập trong báo cáo này.
Có thể thấy các công trình nghiên cứu của nước ngoài về chủ đề QLNN
đối với đất đô thị là rất rộng, với cách tiếp cận đa dạng. Tuy nhiên, nếu xét trong
phạm vi nghiên cứu cấp tỉnh, thành phố TTTW theo cách của Việt Nam thì các
công trình nghiên cứu ở nước ngoài ít đề cập. Các tác giả nước ngoài thường tiếp
cận trên góc độ các lý thuyết chung về kinh tế phát triển, quy hoạch hoặc chính
sách. Tuy nhiên, sự hiểu biết về các tri thức này là cần thiết vì QLNN đối với đất
đô thị chứa đựng nhiều nội dung, giữa các nội dung có mối liên hệ chặt chẽ với
nhau. Vì vậy, khi tách biệt để nghiên cứu từng nội dung trong QLNN cần gắn kết
các nội dung với nhau từ đó phản ánh được hiệu quả và hiệu lực trong quản lý
đất đô thị ở Việt Nam. Trên góc độ đó, các thành tựu nghiên cứu của nước ngoài
rất bổ ích cho nghiên cứu sinh thực hiện đề tài này.
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
quan niệm này, đất đô thị không chỉ bao gồm đất nội thành, nội thị mà còn bao
gồm cả đất ngoại thành, ngoại thị đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt quy
hoạch sử dụng và quản lý như đất đô thị.
Trong khi đó, trong bài viết Đất đô thị trong nền kinh tế thị trường, của
tác giả Phạm Khánh Toàn, đã định nghĩa: đất đô thị là đất đã được kết nối với
mạng lưới đường, điện cấp nước, thoát nước, có vị trí thuận lợi tiếp cận với các
dịch vụ xã hội [63, tr.23]. Do đó, về bản chất, đất đô thị được phân biệt rõ nét
với đất nông thôn, nơi mà nguyên tắc tự cung tự cấp, tự sản tự tiêu vẫn chiếm ưu
thế. Đồng thời, tác giả cho rằng việc chuyển đất nông nghiệp sang đất đô thị là
tất yếu khách quan, nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý phải làm sao nâng
17
cao được hiệu quả sử dụng đất và phải điều hòa lợi ích của các đối tượng có liên
quan trong quá trình đô thị hóa. Từ đó, tác giả đã đưa ra những kiến nghị như
phải xây một hệ thống đăng ký quyền sử dụng đất và chuyển dịch đất cùng với
một hệ thống thuế BĐS Đây là những luận điểm có giá trị kế thừa cho tác giả
luận án nghiên cứu.
Khi phân tích đặc điểm, vai trò của đất đô thị, tác giả Lê Kiều trong bài
viết: "Cơ sở của việc hình thành giá đất đô thị để tham khảo sử dụng trong đền
bù, di chuyển" [32], đã phân tích bản chất kinh tế của đất đô thị là nguồn cung cố
định; giá trị của đất là giá vốn của lợi ích ròng của việc sử dụng đất. Từ đó, tác
giả cho rằng phân bố đất đô thị là phải tìm ra cách tốt nhất xác định vị trí khác
nhau cho trường hợp sử dụng khác nhau, nhằm phát huy hiệu quả giá trị của đất
đô thị.
Còn trong giáo trình Đất đô thị và quản lý đất đô thị, của tác giả Lê Mộng
Triết [64], khi phân tích vai trò của đất đô thị, tác giả cho rằng đất đô thị vừa là
tư liệu sinh hoạt, vừa là tư liệu sản xuất. Là tư liệu sinh hoạt, đất đô thị dùng vào
mục đích xây dựng nhà ở, giải trí công cộng; là tư liệu sản xuất, đất đô thị căn cứ
vào mục đích kinh doanh để xác định không gian đất đai cần dùng; đất đô thị có
vị trí cố định, không thuần nhất, mỗi vị trí có đặc thù riêng, không giống với bất
dụng đã là tư nhân. Với thể chế này, những hoạt động liên quan tới đất của
doanh nghiệp, người dân bị ép vào quan hệ xin cho, thủ tục rườm rà, từ đó nảy
sinh quan liêu, tham nhũng, Từ những phân tích trên tác giả cho rằng thể chế
kinh tế và thể chế đất đai nên thống nhất là một.
Chiến lược quản lý đất đai thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010, Luận
án tiến sĩ kinh tế của Trần Thế Ngọc [45]. Tác giả đã chỉ ra tầm quan trọng của
công tác QHKH SDĐ, tác động của QHKH SDĐ đến định hướng ban hành các
chính sách đất đai. Theo tác giả, QHKH SDĐ phải được xây dựng có cơ sở khoa
học và phù hợp với nhu cầu thực tế, có như vậy QHKH SDĐ mới có thể là cơ sở
cho việc ban hành các chính sách quản lý sử dụng đất. Tác giả lưu ý, do quá
trình công nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh mẽ hiện nay nên việc lập quy hoạch và
ban hành chính sách đất đai không chỉ hướng người sử dụng đất sử dụng đúng
19
mục đích theo quy hoạch, mà còn hướng họ đến sử dụng đất một cách hiệu quả
trên cơ sở khai thác tốt nhất nguồn lực này.
Công trình: Cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách đất đai
và sử dụng hợp lý quỹ đất đai, đề tài cấp bộ của tác giả Chu Văn Thỉnh [62]. Đây
là công trình nghiên cứu có ý nghĩa cả lý luận và thực tiễn đối với công tác
hoạch định chính sách và sử dụng hợp lý quỹ đất ở Việt Nam. Về mặt lý luận,
tác giả đã xây dựng được các tiêu chí đo lường hiệu quả sử dụng đất và rút ra
được một số bài học bổ ích có thể vận dụng cho việc hoạch định chính sách đất
đai ở Việt Nam. Đồng thời, tác giả đã phân tích làm rõ thực trạng công tác hoạch
định chính sách đất đai và sử dụng hợp lý quỹ đất ở Việt Nam, chỉ ra những kết
quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân và đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ sở
khoa học hoạch định chính sách.
Pháp luật hiện hành về đăng ký các giao dịch bảo đảm trong lĩnh vực
kinh doanh bất động sản, Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Nam [38].
Theo tác giả, đất đô thị là một tài sản, BĐS có giá trị. Trong luận án tác giả đã
nghiên cứu pháp luật hiện hành về đăng ký các giao dịch bảo đảm trong lĩnh vực