1
Chƣơng IX
ĐIỀU TRỊ PHẨU THUẬT BỆNH UNG THƯ Mục tiêu học tập
1. Nắm được các nguyên tắc của điều trị phẫu thuật trong ung thư.
2. Kể được các loại phẫu thuật trong điều trị bệnh ung thư ?
Điều trị phẫu thuật ung thư đã bắt đầu từ thời cổ đại và một thời gian dài phẫu thuật là
phương pháp duy nhất để điều trị ung thư. Đến nay phẫu thuật vẫn là hòn đá tảng trong các
phương pháp điều trị ung thư hiện đại. Theo các tác giả Timothy.J.Eberlein hoặc nhóm tác giả
John M.Daly thì ngày nay có khoảng 60% đến 75% bệnh nhân ung thư được điều trị bằng phẫu
thuật và các kỹ thuật ngoại khoa còn được sử dụng để chẩn đoán, xếp giai đoạn cho hơn 90% các
bệnh ung thư.
Những tiến bộ vượt bậc trong những năm gần đây về kỹ thuật mổ, gây mê, hồi sức đã cải
thiện một cách đáng kể hiệu quả của phẫu thuật. Ngoài ra, những nghiên cứu về kết quả lâm sàng
gần đây cho thấy phối hợp phẫu thuật với các phương pháp điều trị khác đã làm tăng hiệu quả của
điều trị.
I. SƠ LƢỢC LỊCH SỬ
Phẫu thuật ung thư phát triển theo thời gian cùng với việc ứng dụng những thành tựu trong lĩnh
vực gây mê hồi sức, chúng ta điểm qua vài mốc lịch sử quan trọng sau:
- Albert Theodore Billroth ( 1829-1894 ) thực hiện lần đầu tiên cắt dạ dày, cắt thanh quản
và thực quản.
2
- William Stewart Halsted (1852- 1922) đề ra nguyên tắc cắt bỏ ung thư thành một khối
đặc biệt là trong phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ vú triệt căn thành một khối và sau đó phẫu thuật này
mang tên ông.
- Hugh Young (1870- 1945) thực hiện phẫu thuật cắt triệt căn ung thư tiền liệt tuyến.
+Dính của khối u với cơ quan lân cận
+ Kích thước và vị trí của các hạch di căn
Mô tả rõ ràng các thao tác đã thực hiện trong phẫu thuật
+ Những thao tác đã thực hiện và không thực hiện do kỹ thuật hoặc lý do khác.
+ Vị trí chính xác của clip để lại trên diện khối u đã cắt bỏ.
+ Mô tả chính xác khối u để lại sau phẫu thuật, các mẫu bệnh phẩm được lấy để
làm xét nghiệm.
+ Các mẫu bệnh phẩm đặc biệt để làm xét nghiệm sinh học phân tử.
Mô tả chính xác hoàn thành phẫu thuật
+ Mô tả rõ ràng phẫu thuật được hoàn thành.
+ Mô tả bản chất ung thư của phẫu thuật (các bờ mép cắt).
+ Vị trí chính xác và mô tả khối u để lại sau phẫu thuật.
4
Chuẩn bị bệnh phẩm để xét nghiệm giải phẫu bệnh
+ Lấy các bì đựng bệnh phẩm riêng cho từng mẫu bệnh phẩm khác nhau
+ Các mép cắt của bệnh phẩm phải được đánh dấu.
+ Mẫu bệnh phẩm phải để nguyên vẹn, không nên cắt nhỏ ra.
+ Mẫu bệnh phẩm phải được bỏ vào dung dịch bảo quản (formalin hoặc dung dịch
mới khác) nếu phải chuyển bệnh phẩm trong thời gian dài.
+ Mẫu bệnh phẩm cho các xét nghiệm sinh học phân tử phải được chuyển đi ngay
và bảo quản theo chế độ riêng.
+ Mẫu bệnh phẩm cho nuôi cấy mô phải bảo quản trong môi trường đặc biệt.
Sự chuẩn bị bệnh phẩm cẩn thận như vậy giúp cho các nhà giải phẫu bệnh thực hiện được
xét nghiệm có chất lượng và trả lời một cách chính xác kết quả giải phẫu bệnh và các nhà sinh
học thực hiện các xét nghiêm sinh học chuẩn mực hơn.
III. CÁC LOẠI PHẪU THUẬT UNG THƢ
1. Phẫu thuật triệt căn
Quan niệm cắt bỏ tổ chức ung thư thành một khối
Trên quan niệm tổ chức ung thư thường xâm lấn, phát triển ra tổ chức chung quanh,
Đối với ung thư buồng trứng, về lâm sàng tổ chức ung thư thường xâm lấn lan toả phúc
mạc làm cho phẫu thuật rất khó khăn. Một số phẫu thuật viên đề nghị cắt bỏ hoàn toàn phúc mạc,
tuy nhiên phẫu thuật này gây nhiều biến chứng và người ta đã từ bỏ .
Với ung thư tiền liệt tuyến, cắt bỏ toàn bộ tiền liệt tuyến là phẫu thuật triệt căn, tuy nhiên
phẫu thuật viên muốn bảo tồn dây thần kinh cường dương và tiểu tiện tự chủ nên phải thực hiện
phẫu thuật giới hạn và điều trị xạ trị hậu phẫu hổ trợ.
Trong phẫu thuật ung thư vùng đầu cổ giới hạn các mốc giải phẫu rất gần giới hạn thương
tổn cần cắt bỏ, do đó không cho phép phẫu thuật rộng rãi, cần bổ sung xạ trị sau phẫu thuật.
4. Vai trò của vét hạch trong phẫu thuật ung thư
Mục đích của vét hạch một cách hệ thống trong phẫu thuật ung thư là để xác định khả
năng tiến triển của ung thư. Hạch bị xâm lấn là một yếu tố tiên lượng đáng tin cậy: càng nhiều
hạch xâm lấn tiên lượng càng xấu.
Vét hạch được thực hiện bắt đầu từ khối u và vét theo từng trạm hạch từ mức một đến các
mức kế tiếp. Di căn hạch cũng xẩy ra tuần tự, hiện tượng nhảy cóc là rất hiếm.
Nhìn chung, vét hạch nên quan tâm tới trạm hạch đầu tiên, bởi vì qua khỏi trạm hạch này
ung thư xem như có khả năng di căn. Nhiều nghiên cứu cho thấy phẫu thuật vét các hạch bị di
căn hầu như không làm thay đổi tiên lượng của bệnh nhưng cũng tránh được chèn ép, đau khi
hạch lớn.
Để tránh những biến chứng trong vét hạch rộng rãi (như phù bạch mạch chi trên và chi
dưới), nhiều nghiên cứu đã được thực hiện với những khối u nhỏ, thường những u này không có
di căn hạch, như vậy vét hạch trở nên vô dụng (ví dụ như khối u ở vú nhỏ hơn 5mm, ung thư cổ
tử cung xâm lấn vi thể).