1
F`
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LẠI VĂN LÝ
NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH CỦA VIRUS LỞ MỒM
LONG MÓNG Ở TRÂU, BÒ TẠI TỈNH QUẢNG NINH
VÀ HIỆU LỰC CỦA VACCINE AFTOPOR TRONG
CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
THÁI NGUYÊN - 2015
2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LẠI VĂN LÝ
NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH CỦA VIRUS LỞ MỒM
LONG MÓNG Ở TRÂU, BÒ TẠI TỈNH QUẢNG NINH
VÀ HIỆU LỰC CỦA VACCINE AFTOPOR TRONG
CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG
Chuyên ngành: THÚ Y
tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè
và sự động viên khích lệ của gia đình. Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc tới:
Thầy giáo TS. Nguyễn Quang Tính đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi hết sức
tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Ban chủ nhiệm
khoa và các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông lâm - Đại
học Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Trân trọng cảm ơn Chi cục Thú y và Cục thống kê tỉnh Quảng Ninh đã cung
cấp số liệu giúp tôi hoàn thành luận văn này. Xin trân trong cảm ơn các hộ gia đình
nuôi trâu, bò tại Quảng Ninh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình điều
tra và thu thập mẫu.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự ủng hộ, động viên, giúp đỡ
của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn này.
Quảng Ninh, ngày 8 tháng năm 2015
TÁC GIẢ
Lại Văn Lý
iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
ADN
:
Acid Deoxyribonucleic
FMDV
:
Foot and Mouth Disease Virus
HGKT
:
Hiệu giá kháng thể
H2O2
:
Hydrogen peroxide (Ô xy già)
LMLM
:
Lở mồm long móng
LPB-ELISA
:
Liquid Phase Blocking ELISA
T.W
:
Trung ương
TLBH
:
Tỷ lệ bảo hộ
UBND
:
Ủy ban nhân dân
(+)
:
Dương tính
(-)
:
Âm tính
Tr.
:
Trang
iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Tên bảng
Bảng 3.1. Tình hình chăn nuôi trâu, bò của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn
2010 - 2015
Bảng 3.2. Tổng hợp các địa phương có dịch LMLM trên trâu, bò tại Quảng
Ninh giai đoạn 2010 - 2015
Trang
44
47
Bảng 3.3. Tỷ lệ trâu, bò mắc LMLM và chết tại Quảng Ninh qua các năm
49
Bảng 3.4. Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo mùa vụ
51
65
67
70
v
DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ
Tên hình, đồ thị
Hình 3.1. Biểu đồ về tình hình phát triển chăn nuôi trâu, bò tại Quảng Ninh
Trang
46
giai đoạn 2010 - 2015
Hình 3.2. Biểu đồ về tỷ lệ trâu, bò mắc LMLM và chết tại Quảng Ninh qua
50
các năm 2010 - 2015
Hình 3.3a. Biểu đồ về tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo mùa vụ qua các
52
năm có dịch
Hình 3.3b. Biểu đồ tính chung tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo mùa vụ
Hình 3.4a. Biểu đồ về tỷ lệ trâu, bò chết do bệnh LMLM theo mùa vụ qua
53
tiêm phòng vaccine LMLM Aftopor tại các thời điểm.
Hình 3.10. Biểu đồ về hiệu giá kháng thể trung bình của trâu, bò tại các
69
thời điểm sau khi tiêm vaccine LMLM
Hình 3.11. Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh của trâu,
71
bò tại thời điểm sau tiêm vaccine 30 ngày
Hình 3.12. Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh của trâu,
bò tại thời điểm sau tiêm vaccine 60 ngày
72
vi
Hình 3.13. Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh của trâu,
72
bò tại thời điểm sau tiêm vaccine 90 ngày
Hình 3.14. Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh của trâu,
73
bò tại thời điểm sau tiêm vaccine 120 ngày
Hình 3.15. Biểu đồ phân bố hiệu giá kháng thể trong huyết thanh của trâu,
1.2.8. Triệu chứng và bệnh tích ở trâu, bò ...............................................................19
1.2.9. Chẩn đoán .......................................................................................................21
1.2.10. Phòng bệnh LMLM ......................................................................................25
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC ............................28
1.3.1. Tình hình nghiên cứu về bệnh LMLM ở Việt Nam .......................................28
1.3.2. Tình hình nghiên cứu về bệnh LMLM trên thế giới ......................................29
viii
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ........................................................................................................34
2.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU ....................................................34
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu .....................................................................................34
2.1.2. Vật liệu và các thiết bị dung trong nghiên cứu ..............................................34
2.2. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU ..................................................35
2.2.1. Thời gian nghiên cứu .....................................................................................35
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu ......................................................................................35
2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU .............................................................................36
2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .....................................................................36
2.4.1. Điều tra một số chỉ tiêu liên quan đến chăn nuôi và dịch tễ bệnh LMLM trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh …………………………………………………. 36
2.4.2. Định type virrus ..............................................................................................36
2.4.3. Phương pháp lấy mẫu .....................................................................................36
2.4.4. Phương pháp Liquid Phase Blocking ELISA (LPB-ELISA) .........................37
2.4.5. Phương pháp PCR ..........................................................................................41
2.4.6. Phương pháp xử lý số liệu ..............................................................................42
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .................................44
3.1. TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI TRÂU, BÒ CỦA TỈNH QUẢNG NINH GIAI
ĐOẠN 2010 - 2015 ..................................................................................................44
1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bệnh lở mồm long móng (LMLM) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy
hiểm, do một loài virus (picornavirus) gây ra ở động vật móng guốc chẵn như: trâu,
bò, lợn, dê, cừu... Virus gây bệnh gồm có 7 serotype (hoặc type): A, O, C, SAT-1,
SAT-2, SAT-3 và Asial-1. Trong mỗi serotyp còn có nhiều phân typ (subtyp). Các
typ và subtyp của virus LMLM có kháng nguyên bề mặt (trung hòa) khác nhau và
giữa chúng không có miễm dịch chéo. Hơn nữa do bản chất virus là ARN, với áp
lực của hệ thống miễn dịch, virus có thể biến đổi về vật chất di truyền cũng như
kháng nguyên bề mặt dẫn đến sự xuất hiện chủng mới. Hiện tượng đa nhiễm (nhiều
type/subtype) trong cùng một ổ dịch làm cho việc khống chế bệnh càng trở lên phức
tạp, khó khăn.
Tổ chức Thú y thế giới (OIE) xếp bệnh này ở vị trí số 1 trong Bảng A ( bảng
các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của động vật). Bệnh có khả năng lây lan rất
nhanh, mạnh; sự lây lan không chỉ do tiếp xúc giữa động vật mắc bệnh và động vật
cảm thụ mà còn gián tiếp qua nhiều đường, kể cả đường không khí. Vì vậy, bệnh dễ
phát thành dịch đại lưu hành, gây thiệt hại cho nhiều ngành, ghề và ảnh hưởng
nghiêm trọng đến kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường của một vùng rộng lớn
(nhiều tỉnh hoặc nhiều nước).
Trên thế giới bệnh được nghi nhận từ thế kỷ 17, lưu hành rộng ở hầu hết các
châu lục. Ở Việt Nam, dịch LMLM được mô tả lần đầu tiên vào năm 1898 tại Nha
Trang, cho đến nay bệnh vẫn lưu hành phổ biến hàng năm ở nhiều tỉnh thành trong
cả nước.
Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng Đông bắc Việt Nam có đường biên
giới dài 132,8 km giáp Trung Quốc và bờ biển duyên hải chạy dài 200 hải lý.
Quảng Ninh còn tiếp giáp với các tỉnh Hải Dương, Bắc Giang, Lạng Sơn, Hải
Phòng. Đặc biệt với trữ lượng khoáng sản phong phú với hàng triệu công nhân viên,
LMLM ở nước ta ngày một tốt hơn.
2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định được tình hình diễn biến của dịch LMLM ở trâu, bò của tỉnh
Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2015 và một số đặc điểm dịch tễ của bệnh.
3
- Xác định sự lưu hành và các type virus LMLM trên đàn trâu, bò nuôi tại tỉnh
Quảng Ninh.
- Đánh giá hiệu quả của vaccine LMLM sau tiêm phòng tại Quảng Ninh.
- Khuyến cáo sự lựa chọn vaccine, thời gian và khoảng cách sử dụng vaccine
phù hợp.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Các kết quả điều tra, nghiên cứu về một số đặc điểm dịch tễ học bệnh LMLM
tại Quảng Ninh nhằm cung cấp, bổ sung và hoàn thiện thêm các thông tin dịch tễ
học về bệnh LMLM tại việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng.
- Các kết quả xét nghiệm xác định sự phân bố của các type virus LMLM gây
bệnh trên trâu, bò tại tỉnh Quảng Ninh là cơ sở khoa học để đưa ra chương trình
tiêm phòng, lựa chọn vaccine sao cho kết quả tiêm phòng đạt hiệu quả cao.
- Các kết quả nghiên cứu đáp ứng miễn dịch sau khi tiêm phòng vaccine
LMLM trên đàn trâu, bò tại một số huyện tại Quảng Ninh có thể dùng làm tài liệu
tham khảo, bổ sung thêm số liệu vào kết quả đánh giá hiệu quả của việc tiêm phòng
trong công tác phòng chống dịch LMLM ở Việt Nam.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
S. M. và cs., 2003) [57]. Hầu hết các quá trình phân cắt tạo các protein trưởng thành
được xúc tác bởi 3 proteinase của virus là Lpro, 2 A và 3 Cpro. Hai đầu của bộ gen có
thể được thay đổi, đầu 5’ tận cùng bởi VPg (khoảng 23 axit amin), đầu 3’ bởi chuỗi
Adenyl. Lpro là nhân tố quan trọng quyết định độc tính của virus.
Những protein tạo nên capsid có tính chất kháng nguyên và khả năng sinh
kháng thể gồm 4 loại: VP1 , VP2, VP3, VP4 (VP: viral protein). VP1 ở ngoài cùng
tham gia vào việc cố định virus trên những tế bào và là một trong những loại kháng
nguyên chính kích thích tạo ra kháng thể chống lại bệnh LMLM. Do đó, có thể nói
VP1 đóng vai trò quan trọng nhất trong sinh bệnh học vì nó là yếu tố sinh miễn dịch
căn bản. Protein VP1 kích thích tạo ra các kháng thể trung hoà ở trâu, bò và lợn, ba
vùng kháng nguyên tương ứng đã được mô tả trên bề mặt của suptype A12. Hai
trong những kháng nguyên đó đã được phát hiện trên chuỗi polypeptide của VP1 và
trong các tiểu phần có hằng số sa lắng 12 S. Các vùng kháng nguyên này tham gia
trong phản ứng trung hoà virus: sự kết hợp của các tiểu phần virus với kháng thể,
qua đó virus mất khả năng xâm nhập (gây nhiễm). Phong tỏa các vị trí hấp phụ đặc
hiệu. Hạn chế khả năng xâm nhập và khả năng tái tạo virus (Reid S. M. và cs.,
2003) [57].
Về chức năng và cấu tạo của virus LMLM, các thành phần kháng nguyên của
virus LMLM có thể được phân biệt như sau: hạt virus có hằng số sa lắng 140 S với
60 bản sao của 4 loại protein (VP1, VP2, VP3, VP4). Vỏ capsid trần có hằng số sa
lắng 75 S với 60 bản sao của VP0 - VP3. Các capsome có hằng số sa lắng 12 S,
được cấu tạo bằng các VP1 - VP3. Kháng nguyên VIA có hằng số sa lắng 3,8 S;
chuỗi RNA polymerase theo Schuel và Sadir, 1986.
Ngoại trừ phân tử ARN, các đơn vị cấu trúc cũng xuất hiện trong quá trình
virus nhân lên trong mô bị nhiễm và có đặc tính kháng nguyên hoặc dị ứng nguyên.
Thành phần miễn dịch của một hạt virus hoàn chỉnh có khả năng kích thích con vật
tạo ra các kháng thể đặc hiệu type. Đặc tính này cũng được giữ nguyên trong quá
trình bất hoạt và ức chế sự nhân lên của virus.
nhiều trong công tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong sản xuất vaccine phòng
bệnh. Phương pháp PCR do Millis và cộng sự phát minh năm 1985 được sử dụng
7
rộng rãi đã đem lại cuộc cách mạng di truyền học phân tử. Đây là kỹ thuật hoàn
toàn mới trong việc nghiên cứu và phân tích gen và hệ gen, có thể tạo ra số lượng
lớn các bản sao của đoạn ADN mong muốn. Phương pháp phân tích gen đã được áp
dụng trong nhiều nghiên cứu về vaccine ADN phòng bệnh LMLM. Người ta đã xác
định được các đoạn axit amin có khả năng kích thích đáp ứng miễn dịch nhanh,
mạnh, tái tổ hợp vào ARN của virus dùng trong sản xuất vaccine. Khi các loại
vaccine ADN này được tiêm cho gia súc thì các đáp ứng miễn dịch đặc hiệu sẽ hình
thành không chỉ chống lại các protein cấu trúc mà còn cả protein phi cấu trúc của
virus (Reid S. M. và cs., 2003) [57].
1.1.4. Các điểm quyết định kháng nguyên
Một số protein phi cấu trúc của virus LMLM gây đáp ứng miễn dịch là 3D,
3A, 3AB, 3ABC, 2C, 2B, 3C và Lpro. Trong thời gian gần đây, một số protein phi
cấu trúc 2C, 3B, 3AB, và 3ABC đã được nghiên cứu và nhiều phương pháp có độ
nhạy cao đã được phát triển. Tuy nhiên có lẽ phương pháp căn bản ELISA vẫn là sự
lựa chọn tốt hơn do có nhiều thuận lợi về tính khách quan, độ nhạy cao, an toàn, rẻ,
dễ giải thích và sử dụng phù hợp cho số lượng mẫu lớn ở thực địa. Brocchi E. và cs.
(1998) [36], đã tiến hành thí nghiệm dùng kháng thể đơn dòng kháng protein phi
cấu trúc 3ABC với kỹ thuật ELISA ngăn trở. Mackay D. K. (1998) cũng đã tìm
kiếm kháng thể kháng kháng nguyên 3D, 3AB và 3ABC bằng phương pháp ADN
tái tổ hợp. Kết quả là ở những gia súc được bảo vệ bằng vaccine đã không tạo kháng
thể kháng protein phi cấu trúc đặc biệt là 3ABC.
1.1.5. Tiến hóa của virus LMLM
Thành phần hệ gen của virus LMLM luôn luôn biến đổi, ngay cả trong cùng
một serotype, các chủng phân lập ở các vùng địa lý khác nhau có mức độ tương
Động vật thí nghiệm: trong phòng thí nghiệm, có thể gây bệnh bằng cách
tiêm phúc mạc cho chuột lang, chuột đồng, chuột trắng, chuột nhắt xám, chuột nhắt
trắng sơ sinh (12 - 14 giờ), chuột đất, chuột còn bú hoặc thỏ nhà, thỏ rừng, gà, trong
đó chuột lang là động vật cảm thụ nhất.
Chuột lang là động vật cảm thụ trong phòng thí nghiệm. Waldmann và Page
(1920) cho rằng, động vật thí nghiệm tốt nhất là chuột lang. Khía da chuột lang có
thể tạo mụn nước. Độc lực của virus trên chuột lang được gia tăng bằng nhiều lần
tiếp đời. Trước đây, chuột lang là động vật thí nghiệm được dùng trong chẩn đoán,
nhân virus và kiểm tra hiệu lực, an toàn của vaccine.
9
Tiếp đời trên chuột nhắt, nhược độc hóa: trong phòng thí nghiệm, tiếp đời
virus trên chuột nhắt trắng sau nhiều đời làm giảm độc lực của virus trên bò. Sau 20
lần tiếp đời qua chuột nhắt virus nhân lên ở chuột không còn khả năng gây bệnh cho
bò nhưng vẫn còn khả năng gây miễn dịch. Người ta dùng phương pháp này để chế
vaccine nhược độc.
1.1.7. Đặc tính nuôi cấy tổ chức tế bào
Nhiều tác giả đã nuôi cấy virus LMLM trên da của thai lợn, thai bò còn sống
(giữ thai sống bằng phương pháp nhân tạo) hoặc tiêm virus LMLM vào phúc xoang
chuột nhắt con, tính kháng nguyên của virus không thay đổi.
Môi trường tế bào tốt nhất là lấy từ tuyến yên của bò hoặc lợn, thận bê hoặc
cừu non, hoặc các dòng tế bào có độ mẫn cảm (Samuel A. R. và Knowles N. J.,
2001) [59].
Viện Pirbright trong năm 1973 đã nuôi cấy 140 chủng virus LMLM, gần 120
chủng này đã sinh trưởng phù hợp trong môi trường BHK 21 (Nguyễn Văn Hưng,
2011) [18].
Chế kháng nguyên: dùng chuột lang từ 2 - 7 ngày tuổi để gây bệnh, sau 24
giờ có thủy thũng hoặc mọc mụn nước. Thu dịch thủy thũng hoặc mụn nước cấy
tâm đến mô tả triệu chứng (Merial, 2003) [21]. Những nghiên cứu về virus học và
dịch tễ học khởi đầu từ năm 1897, được quan tâm và phát triển trong giai đoạn tiếp
theo. Năm 1897, Loeffler và Frosch đã phân lập được virus gây bệnh (Nguyễn Vĩnh
Phước và cs., 1978) [23]. Waldmann và Pape (1920) đã chứng minh được tính cảm
thụ của chuột lang đối với virus. Năm 1922, Valleé và Carré tìm thấy tính đa dạng
của huyết thanh miễn dịch chống virus (type O và type A). Năm 1926, Waldmann
và Trauwein tìm ra virus type C. Sau đó, Lawrence khám phá ra các type SAT1,
SAT2 và SAT3 từ những bệnh phẩm ở Châu Phi gửi đến viện Pirbright và type
Asia1 từ những bệnh phẩm ở Đông Nam Á, Hồng Kông, Ấn Độ, Miến Điện
(Merial, 2003) [21].
Từ đầu thế kỷ 20 trở đi, bệnh phát ra ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Châu Mỹ,
dịch LMLM xuất hiện ở Mỹ vào các năm 1902, 1908, 1914, 1924, 1929, 1932; ở
Mexico năm 1946, Canada 1952 và nhiều nước ở Nam Mỹ như Argentina năm
1953. Bệnh cũng xuất hiện ở Venezuela năm 1950, Colombia năm 1950 - 1951 rồi
lan sang Ecuador năm 1956. Ở Châu Phi, bệnh thường xẩy ra ở Bắc Phi, Nam Phi
11
(Nguyễn Vĩnh Phước và cs., 1978) [23]. Ở Châu Âu, có luồng dịch phát sinh từ Tây
Đức lan sang Hà Lan, Bỉ, Lucxemburg, Pháp, Anh, Ý, Áo, Đan Mạch, Thụy Điển,
Na Uy và Ba Lan vào năm 1951; Bệnh kéo dài đến năm 1953, 1954. Tại Châu Á,
bệnh phát ra ở Ấn Độ năm 1929, 1952…, Myanmar năm 1948, Thái Lan năm 1952,
Trung Quốc năm 1951, Campuchia năm (1931, 1946, 1952). Bệnh LMLM ở Châu
Á không dữ dội như ở Tây Âu nhưng ảnh hưởng đến kinh tế các nước Cận Đông,
Trung Đông, Nam Á và Viễn Đông (Trịnh Văn Thịnh và Phan Đình Đỗ, 1958) [28].
Từ năm 1926 đến 1936, giai đoạn tập trung nghiên cứu về vaccine và chương
trình quốc tế về phòng chống dịch được hình thành. Trong 3 năm (1937-1939)
người ta thống kê được có 2 triệu ổ dịch trên khắp các châu lục và cũng chính trong
hoàn cảnh này, Waldmann và Kobe đã nghiên cứu chế tạo vaccine vô hoạt bằng
(Fallowdeer) và hươu ved chỉ biểu hiện dưới dạng ẩn tính. Các loài nhai lại cảm thụ
này đóng vai trò quan trọng trong dịch tễ học của bệnh (Nguyễn Lương, 1997) [20].
- Nguồn dịch gia súc mang trùng
Thú mang trùng được coi là vấn đề quan trọng nhất trong dịch tễ học của
bệnh LMLM hiện tại. “Thú mang trùng” được định nghĩa là thú mà ở đó virus sống
có thể phân lập được 28 ngày sau khi nhiễm bệnh. “Thú mang trùng” không chỉ có
nghĩa là hoang thú mà cả động vật nuôi; trong thực tế có khoảng trên 50% bò, dê,
cừu phơi nhiễm với virus LMLM trở thành “thú mang trùng”, bất luận chúng đã
hoặc chưa được “bảo vệ” bằng vaccine. Sự hình thành trạng thái mang trùng phụ
thuộc vào chủng và type huyết thanh của virus LMLM. Thời gian mang trùng phụ
thuộc vào loài nhiễm bệnh và có tính cá thể.
Vấn đề về động vật mang trùng đặc biệt quan trọng khi cân nhắc sử dụng
vaccine để khống chế một ổ dịch, bởi vì vaccine không ngăn chặn được sự nhiễm
virus (bò đã được tiêm vaccine vẫn nhiễm bệnh và mang trùng) và các phương tiện
chẩn đoán hiện tại chưa đảm bảo chắc chắn 100% phát hiện hết các trường hợp
động vật mang trùng.
1.2.3.2. Tỷ lệ gia súc mắc bệnh và chết
Virus LMLM gây bệnh nhẹ ở động vật trưởng thành với tỉ lệ chết trên 5%. Tuy
nhiên ở động vật non gây bệnh rất nặng, tỷ lệ chết lên đến 90%, động vật non chết chủ
yếu do viêm cơ tim nặng dẫn đến suy tim và chết, nguyên nhân khác là do gia súc non,
sức đề kháng kém nên dễ bị nhiễm kế phát các bệnh khác khi mắc bệnh LMLM.
13
1.2.4. Động vật cảm thụ và lứa tuổi mắc bệnh
1.2.4.1. Động vật cảm thụ
Bệnh LMLM chủ yếu là của loài nhai lại và lợn. Loài vật ăn thịt ít mắc bệnh
hơn. Ngựa, loài một móng và người không cảm nhiễm bệnh (Donalsson A. I., 2000
[13], Trịnh Văn Thịnh và Phan Đình Đỗ, 1958) [28].
hầu. Ngoài đường hô hấp ra, bệnh có thể nhiễm qua da, vết thương da và niêm mạc.
Khi virus theo thức ăn, nước uống xâm nhập vào cơ thể hoặc qua các tổn thương ở
da, trước tiên nó nhân lên trong lớp thượng bì của ống tiêu hóa hoặc của da, gây
thủy thũng một số tế bào thượng bì, làm thành mụn nước sơ phát nhưng khó nhận
biết vì con vật vẫn khỏe mạnh (Donalsson A. I., 2000) [13].
Tổn thương do virus gây ra tại cửa vào không gây triệu chứng bệnh (thời kỳ
nung bệnh); thời gian nung bệnh rất khác nhau phụ thuộc vào độc lực của virus, số
lượng virus và đường xâm nhập, thời gian nung bệnh ngắn 2 - 3 ngày, có khi lên tới
10 - 14 ngày, những trường hợp liều gây nhiễm thấp thời gian nung bệnh đối với
chu kỳ đầu tiên có thể dài hơn (Nguyễn Vĩnh Phước và cs., 1978) [23].
Sau khi nhân lên ở vùng cửa vào và những hạch lâm ba lân cận, virus vào
máu và được đưa đến các vị trí thứ cấp (Donalsson A. I., 2000) [13]. Do tính hướng
thượng bì, virus hầu như rất ít nhân lên ở các phủ tạng; virus phát triển chủ yếu
trong những tế bào thượng bì của niêm mạc và da, chủ yếu là những tế bào thượng
bì non, gây sưng hạch, tổn thương (mụn nước) các biểu mô quanh miệng (mõm
lợn), chân, vú và gốc sừng. Ngoài ra mụn nước cũng phát triển ở những nơi ít nhìn
thấy như, trên trụ dạ cỏ, âm hộ, vùng bẹn… virus có thể qua đường tuần hoàn của
con mẹ xâm nhập vào phôi thai và có thể gây sảy thai. Vào giai đoạn cuối bệnh
(cuối giai đoạn sốt), virus có thể tiếp tục nhân lên ở những tế bào đang phân chia
vùng mô lân cận, và gây nên các mụn nước thứ phát.
Mụn nước xuất hiện ở cả chiều sâu của thượng bì. Do áp lực của nước ở
trong mụn, mụn nước phát triển to ra, nhô lên. Cùng với phản ứng viêm, bạch cầu di
động đến làm cho dịch lâm ba của mụn nước màu trong trở nên đục và không bao
giờ sinh mủ khi không có vi khuẩn kế phát. Khi mụn vỡ, những vết tích ở thượng bì
được lấp đầy nhanh chóng. Mụn nước chỉ lở loét khi mồm, chân bị nhiễm vi khuẩn
sinh mủ, gây hoại tử, xây xát gây nên bệnh lý cục bộ, ăn sâu vào trong, có khi gây
bại huyết làm con vật suy yếu hoặc chết.