PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GẠO SANG THỊ TRƯỜNG CHÂU PHI CỦA TỔNG CÔNG TY LƯƠNG THỰC MIỀN NAM - Pdf 70

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GẠO SANG THỊ
TRƯỜNG CHÂU PHI CỦA TỔNG CÔNG TY LƯƠNG THỰC
MIỀN NAM (VINAFOOD2)
3.1. Tổng quan về thị trường Châu Phi.
3.l.1. Vị trí địa lý.
Với tổng diện tích 30 triệu km
2
, Châu Phi của 54 quốc gia giáp biển Đại Trung
Hải và Hồng Hải ở phía Bắc và Đông Bắc. Đây là hai mạch máu giao thông biển sầm
uất mà từ ngàn xưa nay những thế lực kinh tế và chính trị lớn nhất thế giới vẫn muốn
giữ địa vị thống trị. Đối diện với Châu Phi là những nền văn minh La Mã, Hy Lạp và
Trung Đông. Phía Tây Châu Phi là biển Đại Tây Dương mênh mông, phía Đông là biển
Ấn Độ Dương.
Về khí hậu do Châu Phi nằm trên đường xích đạo và 2 chí tuyến Bắc và Nam nên
khí hậu Châu Phi không đồng nhất. Ở phía Bắc và Nam vùng Châu Phi xích đạo, nơi có
mưa quanh năm.
Về hệ thực vật và động vật: rất phong phú và bí ẩn. Đặc biệt việc buôn bán động
vật quý hiếm và ngà voi luôn đem lại những nguồn lợi khổng lồ. Cho dù đây là hành
động phi pháp nhưng nó không ngừng tăng lên và hầu như không thể giải quyết ở Châu
Phi.
Về tài nguyên thiên nhiên: Châu Phi được xem là kho tàng ngầm đáng thèm muốn
nhất. Bởi vì trong 50 loại khoáng sản chủ yếu của nền kinh tế thế giới, Châu Phi đứng
đầu về trữ lượng của 50 loại : kim cương chiếm 90% của thế giới, côban chiếm 87%,
vàng chiếm 67% phốt phát chiếm 70%, crôm chiếm 54%, măng gan chiếm 70%,
uranium chiếm 37% đồng và bô xít chiếm 21%. Đặc biệt kho tàng ngầm của Châu Phi
đã tăng vượt bậc khi những mỏ dầu và khí đốt được phát hiện và khai thác ở Angeri,
Nigêria, Anggôla, Ly bi. . .Chính tiềm năng về khoáng sản này đã làm cho một số nước
Châu Phi, mặc dù có trình độ phát triển kinh tế và hiện đại hóa còn thấp kém nhưng vẫn
có một vị trí đáng kể và tiếng nói nhất định trên thị trường quốc tế.
3.1.2. Con người-dân cư và nguồn nhân lực.
Châu phi là nơi có tỉ lệ tăng dân số cao, mặc dù tỉ lệ tử vong đặc biệt là trẻ

Hầu hết các nước Châu Phi đều tiến hành cải cách kinh tế với những biện pháp
thới riêng của mình.
- Châu Phi có lợi về nguồn tài nguyên thiên nhiên gần như vô tận, bởi luôn có sự
phát hiện mới, trong đó phải kể đến dầu lừa và các loại kim loại quý hiếm. Riêng dầu
mỏ,.sản lượng khai thác hằng năm tăng 5-6% đã mang về cho các quốc gia Châu Phi
nguồn ngoại tệ dồi dào.
- Môi trường quốc tế đối với Châu Phi. được cải thiện ít nhiều nên đã có những sự
trợ giúp của 1 số chính phủ, tổ chức quốc tế đối với Châu Phi.
- Các sản phẩm của Châu Phi tiếp cận thị trường 1 số nước tương đối tự do và
thuận lợi hơn.
Tuy nhiên, những trở ngại mà Châu Phi đang đối mặt là rất lớn, khoảng cách về
trình độ phát triển kinh tế, khoa học công nghệ. . .giữa hầu hết các nước Châu Phi với
các nước trên thế giới là rất lớn: Tình trạng đói nghèo vẫn phổ biến, bệnh tật vẫn hoành
hành, tham nhũng vẫn tràn lan, môi trường đầu tư chưa đáp ứng được nhu cầu của nhà
đầu tư.
3.1.3.2. Đặc điểm thị trường.
- Cơ cấu hàng xuất khẩu chủ yếu vẫn là nhóm hàng khoáng sản và nhiên liệu, vì
có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưng lại có nền công nghiệp kém phát
triển, nông nghiệp lạc hậu.
- Cơ cấu nhập khẩu tập trung chủ yếu vào nhóm sản phẩm chế tạo như máy móc
thiết bị, điện tử, cơ khí, công nghệ cao . . .nhóm hàng đứng thứ 2 là nông sản, trong đó:
Lương thực có vị trí quan trọng nhất, chiếm 15,3%tỷ trọng nhập khẩu nhằm giải
quyết nhu cầu thiếu lương thực ở châu lục này.
Thị trường Châu Phi không đồng đều xét cả về không gian lẫn thời vụ. Kim ngạch
ngoại thương chủ yếu tập trung ở một số nước như Nam Phi, Ai Cập, Nigêria. Chẳng
hạn như riêng Nam Phi đã chiếm tới 20-25% tổng giá trị thương mại Châu Phi; Hoặc là
nhu cầu nhập khẩu lương thực của Châu Phi có năm lớn đến mức không nước nào trên
thế giới đáp ứng nổi nhưng có năm lại rất khiêm tốn.
- Khu vực dịch vụ tăng trưởng khả quan nhưng phân bố không đều. Tuy mức tăng
bình quân đạt 5,1%/năm, nhưng Châu Phi phụ thuộc gần như hoàn toàn vào diễn tiến

kim cương, rôm . . . Công nghiệp chế tạo ngày càng phát triển mạnh như hóa dầu, cao
su Và là nước sản xuất thép lớn nhất Châu Phi chiếm trên 60% sản lượng thép toàn
châu lục. Sửa chữa tàu biển, năng lượng. . . cũng là điểm mạnh của Nam Phi.
Nông nghiệp cũng góp khoảng 2,6% vào GDP của Nam Phi và thu hút khoảng
30% lực lượng lao động. Hiện nay Nam Phi không chỉ tự túc về hầu hết các loại nông
sản chủ yếu mà còn là một nhà xuất khẩu nông sản. Trong những năm qua nông sản
đóng góp khoảng 4% kim ngạch xuất nhập khẩu của Nam Phi. Sản phẩm nông nghiệp
có ngô, lúa mì, mía, trái cây, rau, thịt bò, gia cầm, cừu, len, sản phẩm sữa.
Lĩnh vực du lịch Nam Phi khá phát triển, chiếm 67,1% GDP. Ngành xây dựng có
tốc độ phát triển cũng khá cao do Châu Phi tập trung phát triển cơ sở hạ tầng.
Về ngoại thương, năm 2009, Nam Phi xuất khẩu khoảng 79,15 tỷ USD, gồm các
mặt hàng như: vàng, kim cương, platinum, thép, các loại kim loại và khoáng sản, rượu
vang. . .Thị trường xuất khẩu chính gồm Anh, Mỹ, Nhật, Đức, Trung Quốc . . .về nhập
khẩu, năm 2009 Nam Phi nhập khoảng 81,53 tỷ USD các mặt hàng như nhiên liệu. máy
móc, xăng dầu, nhựa, cao su, giày dép, dệt may, ngũ cốc, gốm sứ. .
• Quan hệ thương mại Việt Nam - Nam Phi trong những năm gần đây.
Việt Nam và Nam Phi chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao từ ngày 22/12/1993.
Năm 2000, Sứ quán Việt Nam tại Nam phi chính thức đi vào hoạt động.
Năm 2002, Nam Phi chính thức mở Sứ quán tại Hà Nội. Từ khi thiết lập quan hệ
ngoại giao, hai nước đã cử nhiều đoàn đại biểu cấp cao và đoàn doanh nghiệp đi thăm
lẫn nhau để thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh doanh thương mại và quan hệ hữu nghị của
hai nước.
Hai nước đã kí Hiệp định thương mại tháng 4/2000, thỏa thuận dành cho nhau
quy chế tối huệ quốc (MFN) trong buôn bán hai chiều.
Quan hệ thương mại giữa hai nước có bước phát triển đáng kể, năm 2000, ta đã
xuất khẩu hàng hóa sang Nam Phi trị giá khoảng 50 triệu USD. Năm 2006, buôn bán
hai chiều giữa Việt Nam và Nam Phi đạt trên 154 triệu USD chưa kể qua con đường thứ
3. Bước sang năm 2009 kim ngạch trao đôi thương mại song phương đạt trên 200 triệu
USD, trong đó ta nhập của Nam Phi chủ yếu là sắt thép, gỗ và nguyên phụ liệu gỗ và
xuất 162 triệu USD chủ yếu là gạo. hàng dệt may, giày dép, cà phê. hàng thủ công mỹ

liệu xây dựng . Nông nghiệp giữ vai trò chính trong nền kinh tế, chiếm 75 % giá trị xuất
khẩu Nông sản chính có lạc, lúa, hoa màu. Do luôn bị hạn hán đe doạ nên nông nghiệp
Xê-nê-gan chưa đáp ứng được nhu cầu lương thực trong nước. Hiện nay, Xê- nê-gan
đang tập trung đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đánh cá và xây dựng cơ sở hạ tầng.
Hàng năm Xê-nê-gan nhập khẩu lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng công
nghiệp và xuất khẩu lạc và các chế phẩm từ lạc, cá, cá hộp, phốt phát, bông sản phẩm từ
dầu mỏ.
Hiện nay, Xê-nê-gan theo đuổi đường lối đối ngoại đa dạng hoá, mở cửa nhằm
tranh thủ vốn và kỹ thuật, là thành viên của Cộng đồng kinh tế Tây phi (ECOWAS). Và
là nước có tình hình chính trị tương đối ổn định ở Châu phi.
• Quan hệ giữa Việt Nam và Xê-nê-gan:
Thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam: 29/12/1969. Ta lập Đại Sứ quán tháng
9/1973, đóng cửa Đại Sứ quán năm 1980 do khó khăn về tài chính. Và hiện nay Đại sứ
ta tại Angêria kiêm nhiệm Xê-nê-gan.
Hai bên đã ký các Hiệp định: Hiệp định khung về hợp tác kinh tế, thương mại,
văn hóa, khoa học kỹ thuật (1995), Hiệp định hợp tác ba bên giữa Việt Nam- FAO - Xê-
nê-gan (1996). Từ 1997-2009, hàng năm ta đưa khoảng 100 chuyên gia nông nghiệp
sang làm việc tại Xê-nê-gan. Bạn đánh giá rất cao hiệu quả làm việc của chuyên gia ta.
Quan hệ hai nước đã có những bước tiến vượt bậc, năm 2006 kim ngạch xuất
khẩu của ta sang Xê-nê-gan chỉ đạt 9,9 triệu USD, nhưng đến năm 2009 đã đạt 104
triệu USD. Ta xuất chủ yếu là sản phẩm dệt may, gạo, hạt tiêu và săm lốp ô tô, xe máy.
• Thị trường gạo Xê-nê-gan.
Kể từ khi giành độc lập vào năm 1960, tiêu thụ gạo của Xê-nê-gan đã tăng gần
1000% trong vòng 4 thập kỷ và hiện ở mức khoảng 1 triệu tấn/năm. Trong khi mức tiêu
thụ bình quân trên thế giới khoảng 40 kg gạo/người/năm thì ở Xê-nê-gan số lượng này
là 70 kg/người /năm và kể từ những năm 70, gạo đã thay thế hạt kê làm thức ăn cơ bản.
Trong những hộ gia đình thành thị, gạo chiếm 54% tiêu thụ ngũ cốc và 18% tổng chi
tiêu. ở các vùng nông thôn, tỷ lệ này lần lượt là 24 và 25%. Điều đó chứng tỏ các hộ gia
đình nông thôn nghèo hơn và dành ít tiền để chi cho các sản phẩm ngoài lương thực.
Sản xuất trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu trong nước

và trao đổi các đoàn, kể cả đoàn cấp cao.
Năm 2005, Bộ Thương mại mở Phòng Tùy viên Thương mại Việt Nam tại
Nigeria. Cuối năm 2007, Nigêria mở Đại sứ quán tại Hà Nội. Tháng 4/2008, Việt Nam
mở Đại sứ quán tại Nigeria. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và Nigêria đã tăng lên
trong những năm qua. Năm 2006 kim ngạch xuất khẩu sang Nigêria đạt 32,9 triệu USD
và đến năm 2009 đạt 100 triệu USD. Ta xuất chủ yếu là sản phẩm dệt may, máy vi tính
và linh kiện điện tử và gạo.
• Thị trường gạo Nigêria:
Hiện nay Nigêria là nước có dân số đông nhất châu Phi với khoảng 150,2 triệu
người. Kể từ những năm 70 đến nay, tiêu thụ gạo của Nigêria đã tăng mạnh ở mức
10%/năm. Trước đây khi sản xuất trong nước thấp, nhập khẩu gạo còn bị hạn chế và có
thời gian gạo bị cấm nhập khẩu, giá thành gạo trong nước luôn ở mức cao và gạo là một
loại thức ăn xa xỉ, chỉ dành cho một phần dân số có thu nhập khá. Kể từ khi chính phủ
Nigêria dỡ bỏ lệnh cấm nhập khẩu gạo và giảm bớt thuế nhập khẩu mặt hàng này, gạo
đã dần trở nên phổ biến trong các bữa ăn của người dân Nigêria. Nền kinh tế tăng
trưởng mạnh, tốc độ đô thị hóa nhanh chóng đã khiến cho việc tiêu thụ gạo ngày càng
lớn vì so với những loại ngũ cốc khác, gạo dễ nấu và tốn ít thời gian hơn. Tổng nhu cầu
tiêu thụ gạo của Nigêria đạt khoảng 5 triệu tấn. Loại gạo phô biến là gạo đồ (parboil).
Tuy nhiên, sản xuất gạo của Nigêria chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu tiêu thụ
gạo khổng lồ trên thị trường. Diện tích canh tác lúa gạo trong tổng diện tích sản xuất
nông nghiệp còn rất nhỏ, chỉ tương đương khoảng 7%. Năng suất lúa chỉ đạt 2 tấn/ha
(trong khi của Việt Nam là khoảng 6 tấn/ha). Vì vậy, hàng năm Nigêria vẫn phải nhập
khẩu một khối lượng khoảng hơn 1,6 triệu tấn gạo để phục vụ nhu cầu trong nước. Loại
gạo đồ chất lượng cao chủ yếu phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng thành thị với mức
thu nhập cao hơn và dùng trong những bữa ăn ngày lễ tết, còn những loại gạo xay xát
trong nước chất lượng kém hơn và được tiêu thụ phần lớn ở các vùng nông thôn.
Trước thực trạng nhu cầu tiêu thụ gạo ngày càng lớn, chính phủ Nigêria đã có
nhiều biện pháp để nhằm tăng cường sản xuất phục vụ nhu cầu trong nước, đồng thời
giảm bớt sự phụ thuộc vào gạo nhập khẩu và cũng nhằm mục đích tiết kiệm ngoại tệ.
Tổng thống Nigêria đã đặt ra mục tiêu đạt sản lượng lúa gạo ở mức 6 triệu tấn và mở

đối với mặt hàng gạo. Lí do chính của hiện tượng này là do hiện tại giống lúa phổ biến
là giống lúa châu Á chưa được cải thiện, lai tạo để phù hợp với điều kiện thời tiết của
châu Phi. Công nghệ canh tác lạc hậu, máy móc nông nghiệp cũ kỹ, chi phí và thuế nói
chung đối với các loại mặt hàng đầu vào nông nghiệp như máy móc, phân bón còn cao.
Ngoài ra, còn do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, thời tiết ngày càng có khí hậu khắc
nghiệt, hạn hán xảy ra liên miên, làm cho năng suất lúa không được cao.
Bảng 3.2. Tình hình sản xuất gạo của Châu Phi từ năm 2006-2009.
ĐVT. Triệu Tấn
Năm 2006 2007 2008 2009
Số lượng 12,835 13,648 13,807 15,249
(Nguồn: Offce ofglobal analysis, Foreign Agncultural Service, bộ nông nghiệp Hoa Kỳ).
Nhìn vào bảng số liệu tình hình sản xuất gạo của các nước Châu Phi từ năm 2006-
2009 thì ta thấy được rằng tình hình sản xuất ngày càng được nâng cao, cụ thể năm
2006 sản xuất 12,835 triệu tấn gạo và đến năm 2009 sản xuất được 15,249 triệu tấn gạo.
Trung bình lượng gạo sản xuất hàng năm tăng 5,98 %năm. Thế nhưng sản lượng gạo
sản xuất vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ gạo của các nước Châu Phi, trung
bình chỉ đáp ứng được khoảng 66,56% nhu cầu. tiêu thụ gạo, nên 33,44% lượng gạo
tiêu thụ của các nước Châu phi phải phụ thuộc vào nhập khẩu. Vì vậy hàng năm Châu
Phi vẫn phải nhập khẩu với một khối lượng gạo rất lớn.
3.1.5. Dự đoán nhu cầu tiêu thụ gạo của các nước Châu Phi trong thời gian
tới.
Với điều kiện thời tiết ngày càng khắc nghiệt như hiện nay, đặc biệt hiện tượng
khô hạn ngày một kéo dài, làm cho sản xuất nông nghiệp ngày càng khó khăn. Đặc biệt
đối với các nước Châu Phi, với tốc độ tăng trưởng dân số cao (2,6%/năm), mà kỹ thuật
nông nghiệp lại lạc hậu, chưa thể tái tạo được giống lúa thích hợp với điều kiện thời tiết
của Châu Phi, cho nên năng suất lúa thấp, sản xuất không đáp ứng được nhu cầu. Thì
việc nhập khẩu gạo ngày càng tăng là không thể tránh khỏi. Và theo “Rice Trade long-
term projections' của Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ thì nhu cầu nhập khẩu gạo của Châu Phi
trong thời gian tới như sau:
Bảng 4.1. Dự đoán tình hình nhập khẩu gạo của Châu Phi đến năm 2015

2008 là 7,574 triệu tấn.
Những nước nhập khẩu gạo lớn nhất Châu Phi là Nigieria, Xê-nê-gan, Bờ Biển
Ngà…đây chủ yếu là những nước có dân số đông, lượng tiêu thụ gạo lớn mặc dù Ni-
giê-ri-a hay Ma-đa-gat-xca và Ghana đều là những nước xuất khẩu gạo hàng đầu Châu
Phi.
Ngoại trừ hai nước nhập khẩu nhiều gạo đò chất lượng cao là Nam Phi và Ni-giê-
ria, các nước trong khu vực nhập khẩu loại gạo tấm và gạo đồ có phẩm chất thấp, giá
vừa phải. Riêng thị trường Ni-giê-ria đã chiếm 21% tổng lượng nhập vào châu lục, tiếp
đến là Nam Phi (5%) và Xê-nê-gan (5%). Các nước xuất khẩu gạo chính vào khu vực là
Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Pakistan, Mỹ trong đó Thái Lan vẫn là nhà cung cấp gạo
với khối lượng lớn nhất và chủng loại đa dạng.
3.1.7 Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Châu Phi
3.1.7.1 Tình hình xuất khẩu
Bước sang năm 2009, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã có ảnh
hưởng tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu của nước ta, trong đó có việc xuất khẩu sang
thị trường Châu Phi. Tuy nhiên, xuất khẩu của Việt Nam sang Châu Phi vẫn đạt 1,5 tỷ
usd tăng 12,78% so với năm 2008 là 1,33 tỷ usd.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status