Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và ảnh hưởng của mưa axit đến hệ sinh thái nông nghiệp ở tỉnh hòa bình - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Trần Minh Tiến

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA
MƯA AXÍT ĐẾN HỆ SINH THÁI NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Trần Minh Tiến

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA MƯA AXÍT ĐẾN HỆ SINH THÁI NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HÒA BÌNH

Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60440301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM THỊ THU HÀ

Hà Nội - 2017

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU............................................ 3
1.1. Tổng quan về mưa axít....................................................................................... 3
1.1.1. Một số khái niệm về mưa axít:........................................................................ 3
1.1.2. Nguyên nhân của hiện tượng mưa axít............................................................ 4
1.1.3. Cơ chế hình thành mưa axít............................................................................. 5
1.1.4. Những ảnh hưởng của mưa axít....................................................................... 6
1.2. Tổng quan về hệ sinh thái nông nghiệp (HSTNN)............................................. 7
1.2.1. Khái niệm về hệ sinh thái nông nghiệp............................................................ 7
1.2.2. Đặc điểm của hệ sinh thái nông nghiệp........................................................... 8
1.2.3. Tổ chức của hệ sinh thái nông nghiệp............................................................. 8
1.3. Các nghiên cứu về hiện trạng và ảnh hưởng của mưa axít tới hệ sinh thái nông
nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam............................................................................ 9
1.3.1. Trên thế giới.................................................................................................... 9
1.3.2. Tại Việt Nam................................................................................................. 12
1.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu........................................................................ 14
1.4.1. Tỉnh Hòa Bình............................................................................................... 14
1.4.2. Thành phố Hòa Bình..................................................................................... 19
1.4.3. Huyện Yên Thủy........................................................................................... 19
1.4.4. Huyện Lạc Sơn.............................................................................................. 20
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................. 22
2.1. Đối tượng nghiên cứu.............................................................................................................. 22
2.2. Phạm vi nghiên cứu.................................................................................................................. 22
2.3. Phương pháp nghiên cứu........................................................................................................ 22
2.3.1. Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu, số liệu thứ cấp..............22


2.3.2. Phương pháp điều tra thực địa.......................................................................................... 22
2.3.3. Phương pháp tính toán các đặc trưng mưa axít.......................................................... 23
2.3.4. Phương pháp tiếp cận bằng mô hình DPSIR............................................................... 25
2.3.5. Phương pháp Delphi............................................................................................................. 26

HSTNN: Hệ sinh thái nông nghiệp
QT: Quần thể
UBND: Ủy ban nhân dân

i


DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Các nguyên nhân gây nên hiện tượng mưa axít……………………….….4
Hình 1. 2.

Cơ chế hình thành

Hình 1. 3.

Sơ đồ vị trí tỉnh H

Hình 3. 1.

Tỷ lệ mưa axít (%

Hình 3. 2.

Biến động pH qua

Hình 3. 3. Nồng độ trung bình của các ion chính trong nước mưa tại trạm Hòa Bình
giai đoạn 2000-2014 ..................................................................................................
Hình 3. 4. Giá trị nồng độ trung bình các ion chính trong mùa mưa và mùa khô tại
trạm Hòa Bình giai đoạn năm 2000-2014………………………………………….33
Hình 3. 5. Sự biến thiên của giá trị pH và pAi tại trạm Hoà Bình ...........................

Bảng 3. 7. Sản lượng một số loại cây trồng chính của tỉnh Hòa Bình và các huyện
Yên Thủy, Lạc Sơn, thành phố Hòa Bình................................................................... …........51
Bảng 3. 8. Thống kê kết quả phân tích cho các câu hỏi của phiếu điều tra tại huyện
Yên Thủy............................................................................................................................................... 58
Bảng 3. 9. Thống kê kết quả phân tích cho các câu hỏi của phiếu điều tra tại huyện
Lạc Sơn.................................................................................................................................................. 59
Bảng 3. 10. Thống kê kết quả phân tích cho các câu hỏi của phiếu điều tra tại thành
phố Hòa Bình....................................................................................................................................... 60
Bảng 3. 11. Hệ số Kendall của huyện Yên Thủy, huyện Lạc Sơn và thành phố Hòa
Bình......................................................................................................................................................... 61
Bảng 3. 12. Thống kê về thiệt hại nông nghiệp của tỉnh Hòa Bình năm 2015...........64

iii


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Hiện tượng mưa axít được phát hiện đầu tiên vào năm 1872 tại Anh. Nguyên
nhân là vì con người đốt nhiều than đá, dầu mỏ. Trong than đá và dầu mỏ thường
chứa một lượng lưu huỳnh, còn trong không khí lại rất nhiều khí nitơ. Trong quá
trình đốt có thể sinh ra các khí Sunfua đioxit (SO 2), Nitơ đioxit (NO2). Các khí này
hoà tan với hơi nước trong không khí tạo thành các hạt axít sunfuaric (H 2SO4), axít
nitơric (HNO3). Khi trời mưa, các hạt axít này tan lẫn vào nước mưa, làm độ pH của
nước mưa giảm. Nếu nước mưa có độ pH dưới 5,6 được gọi là mưa axít. Do có độ
chua khá lớn, nước mưa có thể hoà tan được một số bụi kim loại và ôxit kim loại có
trong không khí như ôxit chì,... làm cho nước mưa trở nên độc hơn đối với cây cối,
vật nuôi và con người.
Tại tỉnh Hoà Bình, dựa theo số liệu quan trắc của Mạng lưới giám sát Lắng
đọng axít Đông Á ( EANET), tính toán cho thấy tần suất xuất hiện mưa axít tương
đối lớn (34,9%) và từ năm 2000 đến 2013 tỉnh Hòa Bình liên tục xuất hiện mưa axít

bao gồm:
- Đánh giá tần suất mưa axít, giá trị pH và nồng độ các ion chính trong nước
mưa, sự biến đổi ion theo mùa, các thành phần chính làm thay đổi giá trị pH trong
nước mưa, biện luận sự trung hòa tính axít trong nước mưa thông qua chỉ số pA i.
Đánh giá tải lượng lắng đọng axít (tải lượng lắng ướt của các ion
chính
trong nước mưa, tải lượng lắng đọng của S và N) ở khu vực nghiên cứu.
3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của mưa axít đến hệ sinh thái nông nghiệp
tại tỉnh Hòa Bình bao gồm:
- Nghiên cứu đặc điểm hệ sinh thái nông nghiệp và ứng dụng phương pháp
delphi, kết hợp với số liệu thống kê để đánh giá ảnh hưởng của mưa axít đến hệ sinh
thái nông nghiệp vùng nghiên cứu, với nghiên cứu điển hình ở thành phố Hòa Bình,
huyện Yên Thủy và huyện Lạc Sơn.
3.3. Đề xuất một số giải pháp hạn chế sự ảnh hưởng của mưa axít tới hệ
sinh thái nông nghiệp tại địa phương bao gồm:
axít.
-

Đề xuất giải pháp giảm thiểu sự phát thải các chất khí gây lắng đọng

Đề xuất giải pháp thích ứng cho hệ sinh thái nông nghiệp trước ảnh hưởng

của mưa axít.


2


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về mưa axít

nhiều quốc gia lân cận khác do sự chuyển động quy mô lớn trong khí quyển.[28]

3


1.1.2. Nguyên nhân của hiện tượng mưa axít
Nguyên nhân của mưa axít là do trong nước mưa có hoà tan những khí SO 2,
SO3, NO, NO2, N2O. Các khí này hoà tan trong nước mưa tạo ra các axít tương ứng
của chúng, làm cho độ pH thấp gây nên hiện tượng mưa axít [15].
Người ta đã phân loại ra được nguồn gây ra mưa axít. Có 2 nguồn cơ bản là
các nguồn cố định và các nguồn không cố định.
(1) Các nguồn cố định: thường là hoạt động công nghiệp như nhà máy
nhiệt
điện sử dụng than, các nhà máy đúc quặng và công nghiệp chưng cất… Loại này
phát thải hầu hết lượng SO2 và khoảng 35% lượng NOx do con người tạo ra. [34]
(2) Các nguồn không cố định: chủ yếu là giao thông đường bộ do các xe có
động cơ gây ra. Đây là một nguồn gây ô nhiễm dưới hình thức lắng đọng axít đáng
kể với khoảng 30 – 35 % lượng NOx phát thải.
Ngoài ra, hoạt động sinh hoạt của nhân dân cũng ảnh hưởng không nhỏ đến
môi trường không khí (đun nấu bằng than, dầu, đặc biệt là than tổ ong), ước tính
góp vào khoảng 10% chất thải gây ô nhiễm môi trường không khí.[10]

Hình 1.2. Các nguyên nhân gây nên hiện tượng mưa axít

4


1.1.3. Cơ chế hình thành mưa axít
Cơ chế hình thành mưa axít là cơ chế hình thành những chất hoá học hình
thành lên axít, đó là SO2, NOx, các chất này từ các nguồn khác nhau được thải vào

5

Fe

3+,…

có mặt trong


1.1.4. Những ảnh hưởng của mưa axít
1.1.4.1. Ảnh hưởng của mưa axít lên thực vật và đất
Một trong những tác hại nghiêm trọng của mưa axít là các tác hại đối với
thực vật và đất. Khi có mưa axít, các dưỡng chất trong đất sẽ bị rữa trôi. Các hợp
chất chứa nhôm trong đất sẽ phóng thích các ion nhôm và các ion này có thể hấp thụ
bởi rễ cây và gây độc cho cây. Như chúng ta đã nói ở trên, không phải toàn bộ SO 2
trong khí quyển được chuyển hóa thành axít sulfuric mà một phần của nó có thể
lắng đọng trở lại mặt đất dưới dạng khí SO2. Khi khí này tiếp xúc với lá cây, nó sẽ
làm tê liệt các thể soma của lá cây gây cản trở quá trình quang hợp. Một thí nghiệm
trên cây Vân Sam (cây lá kim) cho thấy, khi phun một hỗn hợp axít sulfuric và axít
nitric có pH từ 2,5 - 4,5 lên các cây Vân Sam con sẽ làm xuất hiện và phát triển các
vết tổn thương có màu nâu trên lá của nó và sau đó các lá này rụng đi, các lá mới sẽ
mọc ra sau đó nhưng với một tốc độ rất chậm và quá trình quang hợp bị ảnh hưởng
nghiêm trọng [15].
1.1.4.2. Ảnh hưởng của mưa axít lên ao hồ và hệ thủy sinh vật
Mưa axít làm giảm giá trị pH của nước hồ, gây ô nhiễm nguồn nước hồ, đe
dọa sự tồn tại của các loài tôm, cua, cá và sinh vật thủy sinh khác (4000 hồ ở Thụy
2

Điển và 1,3km diện tích mặt hồ ở Na Uy không còn cá).
Ở Thụy Điển có hơn 9 vạn hồ nước 22% đã bị axít hóa ở mức độ khác nhau.

axít. Mưa axít có thể làm giảm khả năng thở và có thể làm tăng những loại bệnh
nguy hiểm.
NOx bản thân nó là một khí nguy hiểm. Loại khí này tấn công lớp màng của
cơ quan hô hấp và làm tăng các bệnh về đường hô hấp. Khí này cũng góp phần phá
hủy ozon và hình thành sương mù [15].
1.2. Tổng quan về hệ sinh thái nông nghiệp (HSTNN)
1.2.1. Khái niệm về hệ sinh thái nông nghiệp
Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái do con người tạo ra và duy trì trên cơ
sở các quy luật khách quan của tự nhiên vì mục đích thỏa mãn nhu cầu nhiều mặt và
ngày càng tăng của mình. Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái nhân tạo điển
hình, chịu sự điều khiển trực tiếp của con người [19].
Ví dụ : Nông trường, hợp tác xã, nông trại hoặc làng, xóm ... .

7


1.2.2. Đặc điểm của hệ sinh thái nông nghiệp
Với thành phần tương đối đơn giản và đồng nhất về cấu trúc nên HSTNN
kém bền vững và dễ bị phá vỡ. Hệ sinh thái nông nghiệp được duy trì trong sự tác
động thường xuyên của con người để bảo vệ HST mà con người tạo ra và cho là
hợp lý [19].
Ngày nay, con người cũng đã và đang can thiệp vào HST tự nhiên như rừng,
đồng cỏ, ao hồ để nhằm tăng năng suất của chúng. Tuy vậy giữa các HST tự nhiên
và các HSTNN vẫn có những khác biệt cơ bản.
Các HST tự nhiên có mục đích chủ yếu kéo dài sự sống của các loài. Trái lại
các HSTNN chủ yếu cung cấp cho con người các sản phẩm của cây trồng vật nuôi,
sự sống của sinh vật trong HSTNN bị quy định bởi con người. Vì vậy vật chất và
năng lượng có sự khác nhau: HST tự nhiên có sự trả lại hầu như hoàn toàn khối
lượng chất hữu cơ và chất khoáng trong sinh khối của các vật sống cho đất, chu
trình vật chất khép kín. Ở các HSTNN, vật chất bị lấy đi khỏi HST để cung cấp cho

Khu vực dân cư.

Trong các HST phụ, HST đồng ruộng cây hàng năm chiếm diện tích rất lớn .
HST cây lâu năm về thực chất không khác mấy so với HST rừng. HST đồng cỏ về
tính chất gần giống các HST tự nhiên. HST ao hồ là nội dung nghiên cứu chủ yếu
của nghề nuôi cá, dính đến HST nước ngọt.
1.3. Các nghiên cứu về hiện trạng và ảnh hưởng của mưa axít tới hệ sinh
thái nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1. Trên thế giới
Theo các nhà khoa học thì sau trận mưa axít đầu tiên đã xuất hiện từ rất lâu
trên trái đất, khoảng 65 triệu năm trước, từ đó cho đến nay hiện tượng mưa axít đã
gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng trên hành tinh của chúng ta.
Năm 1852, nhà hóa học người Anh - Robert Argust Smith đã đưa ra báo cáo
chi tiết về hóa học nước mưa từ đó kêu gọi sự chú ý của mọi người đến sự thay đổi
hóa học giáng thủy. Năm 1872, trong cuốn sách “Không khí và mưa: Những khởi
đầu của ngành hóa học khí hậu”, lần đầu tiên ông sử dụng thuật ngữ mưa axít.
Đầu thế kỷ XX, một nhà khoa học thổ nhưỡng của Thụy Điển tên là Hans
Egner đã thiết lập một hệ thống trạm để thu gom, lấy mẫu và phân tích thành phần
hóa học nước mưa. Giữa năm 1940, việc lấy mẫu bằng thùng và theo tháng được
triển khai trên toàn điền trang của Thụy Điển. Độ axít của nước mưa được đo đạc.
Sau đó, các nhà khoa học đã mở rộng mạng lưới ra Na Uy, Đan Mạch và hầu hết các
nước Tây, Trung Âu - gọi là Mạng lưới hóa học không khí Châu Âu (European Air
Chemistry Network – EACN). Đến năm 1957, mạng lưới này tiếp tục mở rộng về
phía Đông bao gồm Ba Lan và một phần lớn Liên Xô (cũ). [16]
Đầu thập niên 1970, tại hội nghị “Hội nghị của Liên hợp quốc về vấn đề con
người - Môi trường” ở Stockholm, chính quyền Thụy Điển đã công bố những kết
quả nghiên cứu được tóm tắt với nhan đề: “Ô nhiễm không khí xuyên qua biên giới
các quốc gia; tác hại trên môi trường của Sulfur trong không khí và mưa, mù axít”.
Nghiên cứu này đã chỉ ra sự ảnh hưởng xuyên biên giới của mưa axít do có sự di
chuyển của khí Sulfur trong khí quyển bởi gió.

Đặc biệt, đã có một số các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của mưa axít
đến hệ sinh thái nông nghiệp như sau:
Năm 1972, ba tổ chức Na Uy tiến hành thiết lập một dự án mang tên:
Chương trình nghiên cứu liên ngành Na Uy: “Giáng thủy axít – Hậu quả đến lâm
nghiệp và thủy sản”. Ở nghiên cứu này, các tác giả đã xác định được ảnh hưởng của

10


mưa axít đến lâm nghiệp và thủy sản ở Na Uy. Theo đó, hiện tượng giáng thủy axít
không giết chết cây cối ngay lập tức hay một cách trực tiếp. Thay vào đó, chúng làm
cho cây yếu đi bằng cách phá hủy lá cây, do đó làm hạn chế lượng chất dinh dưỡng
cho cây sử dụng. Hay cách khác, mưa axít thấm vào đất, gây độc cho cây với những
chất độc thông qua bộ rễ cây.
Nghiên cứu của Dubay D.T và Heagle A.S trong năm 1987 về “Ảnh hưởng
của mưa axít nhân tạo với việc có sự tác động và không tác động của mưa tự nhiên
lên sự sinh trưởng và sản lượng của cây đậu tương.” cho thấy mưa axít nhân tạo
2-

-

+

gồm các nồng độ SO4 , NO3 , H gây ra những tổn thương về lá, làm gia tăng hàm
lượng S trong lá, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, làm giảm sản lượng của cây trồng,
và thay đổi tính chất hóa học trong đất [39].
Trong nghiên cứu “Mưa axít và sự nảy mầm của hạt giống hoa ngô” –Frank S.
Wertheim và Lyle E.Craker vào năm 1987, các tác giả đánh giá sự đóng góp của ion
sunphat, ảnh hưởng của sự axít hóa, những ảnh hưởng của thời gian và việc điều chỉnh
các nồng độ axít khác nhau làm giảm khả năng nảy mầm của phấm hoa ở ngô [39].

Thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Lan và công sự, Viện Sinh học Nhiệt đới đã tiến
hành nghiên cứu thực nghiệm vào năm 2006 về ảnh hưởng của mưa axít lên quá
trình sinh trưởng và phát triển của cây cải xanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy ở các
nghiệm thức có pH thấp, nước mưa axít làm giảm tỉ lệ nảy mầm, thời gian sinh
trưởng than, tăng tỉ lệ rễ/thân, tăng thời gian diệp lục hóa lá mầm và thời gian hình
thành lá gốc. So với nghiệm thức pH=6.0, các chỉ số ở nghiệm thức pH= 5.5 không
có sai khác đáng kể. Ảnh hưởng của những lượng mưa khác nhau ở pH=4.5 không
có quy luật nên chỉ số sinh trưởng và phát triển của rau cải xánh không có quy luật,
ngoại trừ tỉ lệ nảy mầm giảm, chiều dài rễ và tỉ lệ rễ/thân đến khi hình thành lá gốc
tăng khi tần suất mưa axít tăng. Nghiên cứu này nhằm tìm ra sự liên quan của các
thông số về mưa axít như độ pH, lượng mưa, tần suất mưa lên chỉ số sinh trưởng và
phát triển của cây cải xanh. Kết quả thu được cùng với việc thống kê hiện trạng mưa
axít vùng trồng rau có thể đánh giá được tác hại của mưa axít lên năng suất rau
trồng trong điều kiện kỹ thuật trồng rau hiện tại [17].
PGS.TS. Nguyễn Hồng Khánh, Viện CNMT – Viện KH & CN Việt Nam, có
bài “Đánh giá diễn biến và phân tích nguồn gốc bản chất hóa nước mưa từ Ninh
Bình trở ra” [16], trong bài tác giả đã phân tích các thành phần của nước mưa theo
diễn biến không gian và thời gian và kết quả đều cho thấy mưa axít đã xuất hiện khá
cao ở Yên Bái, Bãi Cháy, Bắc Quang, tỷ lệ mưa axít xuất hiện vào mùa khô cao hơn
nhiều so với mùa mưa. Trong bài “Một so sánh giữa phát thải chất tiền axít và tổng
lượng lắng axít trong không khí vùng miền Bắc Việt Nam” tác giả đã tính toán tổng
lắng ướt lắng khô, tính toán phát thải và đã đưa ra kết quả tính toán quan hệ giữa

12


phát thải và lắng axít trong giai đoạn 2003 – 2005 như sau: Tổng lắng S/phát thải
năm 2004 là 2,7 lần; 2005 là 3,1 lần. Tổng lắng N/phát thải năm 2004 là 1,45 lần;
năm 2005 là 1,47 lần. Theo kết quả tính toán có thể kết luận rằng tổng lượng lắng
axít lớn hơn so với lượng phát thải, tuy nhiên kết quả tính toán này chỉ có tính tương

– 2009) đối với Hà Nội, Hải Dương và 5 năm ( từ 2004 – 2008) đối với Hải Phòng,
Quảng Ninh và cũng đưa ra nhận định mưa axít đã xuất hiện ở 4 khu vực nghiên
cứu.

13


Đặc biệt, năm 2014, ThS. Phạm Thị Thu Hà đã nghiên cứu đề tài luận án tiến
sĩ “Nghiên cứu, đánh giá lắng đọng axít ở vùng đồng bằng sông Hồng Việt Nam
[12]”. Tác giả đã đánh giá được hiện trạng và tải lượng lắng đọng axít tại vùng
nghiên cứu, đồng thời nghiên cứu được ảnh hưởng của mưa axít đến sự sinh trưởng
và phát triển của cây đậu Cô ve. Những kết quả của luận án đã có những đóng góp
quan trọng trong việc nghiên cứu chuyên sâu về mưa axít. Luận án đã phân tích,
đánh giá một cách có hệ thống hiện trạng và tải lượng lắng đọng axít khu vực
nghiên cứu trong 7 năm liên tục (từ 2006-2012). Đây cũng là nghiên cứu khoa học
đầu tiên trong nước đánh giá ảnh hưởng của mưa axít đối với cây đậu Cô ve và góp
phần bổ sung cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa ảnh hưởng của mưa axít đến sự sinh
trưởng và phát triển của cây trồng nông nghiệp cũng như sự thay đổi một số tính
chất hóa học của đất trồng. Lần đầu tiên xây dựng được phần mềm quản lý cơ sở dữ
liệu và đánh giá hiện trạng lắng đọng axít cho khu vực nghiên cứu.
Như vậy, dựa trên kết quả nghiên cứu của một số tác giả trong nước cho thấy
Hòa Bình là tỉnh có tần suất xuất hiện mưa axít tương đối lớn. Do vậy, những ảnh
hưởng của mưa axit đến hệ sinh thái là điều không tránh khỏi. Tại Hoà Bình, đã có
một số các công trình nghiên cứu về hiện trạng mưa axít, tuy nhiên chưa có nghiên
cứu hệ thống nào về hiện trạng mưa axít trong giai đoạn liên tục từ năm 2000-2014
cũng như chưa có công trình nào nghiên cứu về ảnh hưởng của mưa axít đến hệ sinh
thái nông nghiệp ở tỉnh. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống hiện trạng mưa
axit trong giai đoạn dài và đánh giá ảnh hưởng của mưa axit đến hệ sinh thái nông
nghiệp trong tỉnh Hoà Bình là rất cần thiết.
1.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu

a. Tài nguyên đất
Tỉnh Hòa Bình có 460.869 ha diện tích đất tự nhiên. Trong đó: Diện tích đất
nông nghiệp là 66.759 ha, chiếm 14,32%; diện tích đất lâm nghiệp là 194.308 ha,
chiếm 41,67%; diện tích đất chuyên dùng là 27.364 ha, chiếm 5,87%; diện tích đất
ở là 5.807 ha, chiếm 1,25%; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối đá là 172.015
ha, chiếm 36,89% [19].
Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm là 45.046 ha, chiếm
67,48%, trong đó diện tích trồng lúa là 25.356 hecta, chiếm 60,51% diện tích đất
trồng cây hàng năm; diện tích đất trồng cây lâu năm là 4.052 ha, chiếm 6,06%; diện
tích đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 900 ha [19].
Diện tích đất trống, đồi núi trọc cần phủ xanh là 135.010 ha; diện tích đất bằng
chưa sử dụng là 3.126 ha; diện tích đất có mặt nước chưa sử dụng là 6.385 ha [19].

b. Tài nguyên rừng
-

Công tác lâm nghiệp đã chỉ đạo tích cực và đôn đốc các dự án triển khai

thực hiện kế hoạch, chuẩn bị cây giống lâm nghiệp, khoanh nuôi bảo vệ rừng,…
Bảo vệ rừng : 72.578ha/ kế hoạch 72.607 ha, đạt 99%; Trong đó: Rừng
phòng
hộ đặc dụng: 66.734ha/ 66.734ha đạt 100% so với kế hoạch ; Rừng sản xuất: 5.844/ kế
hoạch 5.873ha đạt 99%. Trồng rừng mới và phân tán: 7.372,1ha/7.036ha đạt 104,8%
gồm : Rừng phòng hộ đặc dụng: 1.701 ha, Rừng sản xuất: 949,7ha/800 ha, dự án giảm

nghèo 133 ha, dự án 135: 295ha, Dân tự trồng và các dự án khác 4.293,4 ha. Chăm
sóc rừng trồng: 7061ha/7114 ha đạt: 99%. Khoanh nuôi tái sinh : 4.180 ha/4180 ha,
đạt 100%.

16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status