LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH - Pdf 70

LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
1.1. Phân tích hoạt động tài chính và ý nghĩa vai trò của nó
1.1.1. Khái niệm
Phân tích tài chính có thể được hiểu như là quá trình kiểm tra, xem xét các số
liệu tài chính hiện hành và quá khứ, nhằm mục đích đánh giá, dự tính các rủi ro, tiềm
năng trong tương lai phục vụ cho các quyết định tài chính và đánh giá doanh nghiệp
một cách chính xác. Để phân tích tình hình tài chính của một Công ty, người ta thường
dựa vào các số liệu của bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
để phân tích. Ngoài ra để đánh giá tình hình tài chính của một Công ty, người ta còn
dùng các tỷ số tài chính để đánh giá như: tỷ số thanh toán, tỷ số hoạt động, tỷ số đòn
bẩy, tỷ số lợi nhuận. Đối với Công ty cổ phần người ta còn dùng thêm tỷ số giá thị
trường để đánh giá.
1.1.2. Mục đích
Phân tích tình hình tài chính một Công ty nhằm mục đích đánh giá, dự tính các
rủi ro cũng như tiềm năng, khả năng sinh lãi của doanh nghiệp trong tương lai nhằm
phục vụ cho việc ra quyết định một cách thích hợp.
1.1.3. Ý nghĩa vai trò
Tuỳ theo đối tượng sử dụng mà kết quả phân tích tài chính có ý nghĩa vai trò
khác nhau.
Chẳng hạn như đối với nhà quản trị doanh nghiệp, phân tích tài chính cung cấp
các thông tin về toàn bộ tình hình tài chính của doanh nghiệp mình, từ đó làm cơ sở cho
các dự báo tài chính, các quyết định đầu tư, tài trợ, phân phối lợi nhuận.
Còn đối với các nhà đầu tư, họ quan tâm nhiều đến lợi tức cổ phần của họ nhận
được hàng năm và giá thị trường của cổ phiếu. Qua phân tích tài chính, họ sẽ biết khả
năng sinh lợi cũng như tiềm năng phát triển của doanh nghiệp.
Đối với các nhà cho vay như ngân hàng, công ty tài chính, các trái chủ, họ quan
tâm đến khả năng trả nợ vay. Qua phân tích tài chính, họ muốn biết khả năng thanh toán
và khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Đối với các khoản vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh
toán của doanh nghiệp, nghĩa là khả năng ứng phó của doanh nghiệp đối với các khoản
nợ đến hạn trả.

lao động, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của doanh nghiệp (Nguyễn Công
Bình, 2009).

1.3. Phương pháp phân tích hoạt động tài chính
1.3.1. Phương pháp so sánh
Các tỷ số tài chính sẽ cung cấp nhiều thông tin hơn khi chúng được so sánh với các chỉ
số có liên quan. Có hai dạng so sánh thường được sử dụng:
1.3.1.1. So sánh các chỉ tiêu trong ngành
Ta có thể so sánh các chỉ tiêu tài chính của một doanh nghiệp với các tỷ số tài
chính trung bình của ngành hoặc của một số doanh nghiệp khác trong ngành. Bằng sự
so sánh này sẽ thấy được vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, sức mạnh tài chính
của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh và giải thích được sự thành công hay
thất bại của doanh nghiệp.
1.3.1.2. Phân tích theo xu hướng
Xem xét xu hướng biến động qua thời gian là một phương pháp quan trọng để
đánh giá các tỷ số trở nên xấu đi hay đang phát triển theo chiều hướng tốt đẹp, có thể so
sánh với năm trước đó, hoặc theo dõi sự biến động thông qua nhiều năm. Kết quả sự so
sánh sẽ cho ta thấy sự phát triển tài chính của doanh nghiệp. Đây là thông tin cần thiết
cho cả người quản trị doanh nghiệp lẫn nhà đầu tư.
1.3.2. Phân tích liên hoàn các tỷ số tài chính
Các tỷ số tài chính được trình bày ở trên đều ở dạng phân số. Điều đó có nghĩa là
mỗi tỷ số tài chính sẽ tăng hay giảm tùy thuộc vào hai nhân tố: tử số và mẫu số. Mặt
khác các tỷ số tài chính còn ảnh hưởng lẫn nhau. Hay nói cách khác, một tỷ số tài chính
lúc này được trình bày bằng tích một vài tỷ số tài chính khác (Nguyễn Công bình,
2009).
1.4. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính.
1.4.1. Đánh giá khái quát về tài sản, nguồn vốn trên báo cáo tài chính
1.4.1.1. Đánh giá khái quát về tài sản
- Chỉ tiêu sử dụng: các mục tài sản trên bảng cân đối kế toán
- Đối tượng phân tích: có hai đối tượng phân tích:

lại, nếu năng lực kinh tế các mục tài sản thấp (giá trị thị trường thấp, giá trị hữu dụng
thấp – tồn tại tài sản nhưng không thể sử dụng được trong sản xuất kinh doanh, tiêu
thụ) thì tình hình tài sản của doanh nghiệp trên bảng cân đối kế toán chỉ là một con số
ảo, không đảm bảo cơ sở vật chất cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Đánh giá sự thay đổi các mục tài sản (về giá trị, tỷ trọng) qua các thời kỳ có
phù hợp với phương án, phương hướng sản xuất kinh doanh hay không. Nếu sự thay
đổi này phù hợp với phương án, phương hướng sản xuất kinh doanh thì đó là một dấu
hiệu tích cực, thể hiện tính chủ động trong cơ cấu tài sản. Ngược lại, nếu sự thay đổi
của các mục tài sản không phù hợp thì đây là một cơ cấu tài sản thụ động, và nó cũng
thường dẫn đến sự ứ đọng vốn hoặc bị chiếm dụng vốn.
+ Tìm hiểu sự thay đổi bất thường của một số mục tài sản hoặc sự thay đổi chủ
yếu của tài sản ở những mục nào, những dấu hiệu này có hợp lý hay không. Việc hiểu
này giúp cho người phân tích đánh giá được rủi ro, những thay đổi tài sản không hợp lý.
+ Ngoài những vấn đề cơ bản trên, khi đánh giá khái quát về tình hình tài sản
cũng cần chú ý đến về giá trị, về sự thay đổi của kết cấu tài sản thông qua 3 chỉ tiêu sau:
Cơ cấu về tài sản ngắn hạn =
Tài sản ngắn hạn
Tổng tài sản
Cơ cấu về tài sản dài hạn =
Tài sản dài hạn
Tổng tài sản
Hệ số hao mòn TSCĐ =
Giá trị hao mòn
Tổng nguyên giá TSCĐ
Với cơ cấu tài sản ngắn hạn, dài hạn được thay đổi phù hợp với từng ngành
nghề, từng thời kỳ sản xuất kinh doanh. Vì vậy để đánh giá tính hợp lý cần phải so sánh
cơ cấu tài sản ngắn hạn, dài hạn của doanh nghiệp với cơ cấu tài sản ngắn hạn, dài hạn
chung của toàn ngành. Nếu cơ cấu của doanh nghiệp xoay quanh cơ cấu chung của toàn
ngành là hợp lý. Ngược lại, đối với hệ số hao mòn càng lớn thì tình hình tài sản của
doanh nghiệp thường kém năng lực.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status