Thực hiện chính sách người có công với cách mạng trên địa bàn quận sơn trà, thành phố đà nẵng - Pdf 70

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN NGUYÊN THÙY MINH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI
CÁCH MẠNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN NGUYÊN THÙY MINH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI
CÁCH MẠNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số : 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HÀ THỊ THƯ

HÀ NỘI, năm 2020


tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tác giả mong nhận được sự góp ý của quý
thầy, cô và bạn bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.............................................................................................................. 7
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH
NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG..........................................................9
1.1. Một số lý luận cơ bản về người có công........................................................9
1.2. Khái niệm và vai trò của chính sách người có công với cách mạng.............13
1.3. Tổ chức thực hiện chính sách NCCVCM.....................................................17
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGƯỜI
CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG.................................................................................28
2.1. Đặc điểm tình hình người có công với cách mạng.......................................28
2.2. Quy trình thực hiện chính sách người công công với cách mạng trên địa bàn
quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng......................................................................31
2.3. Kết quả thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng trên địa
bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng................................................................40
2.4. Đánh giá chung việc thực hiện chính sách người có công với cách mạng...56
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG...................61
3.1. Quan điểm, định hướng chung của Đảng bộ, chính quyền quận Sơn Trà về
thực hiện chính sách người có công với cách mạng trong thời gian tới .........Error!
Bookmark not defined.
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách người có công với
cách mạng........................................................................................................... 61

2.2

2.3

2.4

2.5

2.6

2.7

2.8



vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” năm 2015,
2016, 2017

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đã có biết bao
thế hệ anh hùng hi sinh, cống hiến hết sức lực, tinh thần, trí tuệ và tài sản để giành
lại tự do, độc lập cho dân tộc. Trong số họ, có biết bao người đã ngã xuống, những
người còn lại may mắn được trở về với quê hương nhưng chịu trên mình những
thương tật, căn bệnh quái ác, ký ức đau thương không thể xoá mờ. Kế thừa và phát
huy đạo lý, truyền thống tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng
cây” của dân tộc ta từ ngàn đời nay, trong suốt quá trình lịch sử cách mạng, Đảng và
Nhà nước luôn dành sự quan tâm, ưu ái đặc biệt đối với những thương, bệnh binh,
gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng thông qua việc ban hành và thực hiện

ương, các chính sách bổ sung, hỗ trợ, đặc thù của thành phố (trợ cấp hằng tháng đối
với nguời̛ có công giúp đỡ cách mạng đang huở̛ng trợ cấp hằng tháng, thuơng̛ binh,
nguờ̛i huở̛ng chính sách nhưthuơng̛ binh có tỷ lệthuơng̛ tạt̂từ 21% đến 30% đang
huở̛ng trợ cấp hằng tháng thuọĉ hộcạn̂ nghèo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; quy
định về trợ cấp thuờng̛ xuyên, đọt̂xuất đối với nguờ̛i có công với cách mạng mắc
bẹnĥ hiểm nghèo có hoàn cảnh khó khan̆ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng;…), các
chương trình “5 không” không có cơ hội đói, không có người mù chữ, không có
người lang thang xin ăn, không có người nghiện ma tuý, không có giết người cướp
của “3 có” bao gồm có nhà ở, có việc làm, có nếp sống văn hoá văn minh đô thị “4
an” bao gồm: An ninh trật tự, an toàn giao thông, an toàn thực phẩm, an sinh xã hội.
Những thành tích đáng ghi nhận trong thực hiện chính sách NCCVCM của quận
Sơn Trà đã góp phần vào thành tựu to lớn trong công tác thực hiện chính sách người
có công, an sinh xã hội của thành phố Đà Nẵng. Bên cạnh những kết quả đã đạt
được, do một số nguyên nhân, tổ chức thực hiện chính sách NCCVCM trên địa bàn
quận Sơn Trà còn gặp phải những vướng mắc, hạn chế như: Công tác phổ biến,
tuyên truyền chính sách chưa được thực hiện rộng rãi trong Nhân dân. Nhận thức
của một số người dân về chính sách chưa được đầy đủ, nên còn nhiều thắc mắc về
chính sách. Một số văn bản hướng dẫn chậm, thiếu đồng bộ hoặc chưa rõ ràng. Thủ
tục xét, công nhận còn rườm rà, chưa rõ ràng, gây khó khăn

2


cho các đối tượng. Việc triển khai thực hiện nhiều lúc còn chủ quan, thiếu chặt chẽ
trong quá trình xét duyệt, thẩm định nên việc xác định các đối tượng được hưởng
chế độ chính sách còn chưa đúng… những tồn tại hạn chế trong quá trình tổ chức
thực hiện chính sách, nếu không có những giải pháp kịp thời để khắc phục, hoàn
thiện, sẽ ảnh hưởng đến chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước. Nhằm đề
xuất biện pháp tiếp cận những cơ sở chính sách mới trong công tác thực hiện chính
sách với người có công, nâng cao chất lượng hiệu quả đồng thời hạn chế những

người có công. Trong nội dung của đề tài, tác giả đã đưa ra những nhận xét, đánh
giá thực tiễn cũng như những hạn chế của pháp luật ưu đãi xã hội, từ đó nêu lên
những kiến nghị có thể hoàn thiện hơn pháp luật về ưu đãi người có công.
Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam “Chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng
từ năm 1991 đến năm 2010” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hoài [12] đã trình bày
khái quát hoàn cảnh lịch sử, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt
Nam đối với thương binh, liệt sĩ và NCCVCM từ năm 1991 đến năm 2010 theo hai
giai đoạn từ 1991-1995 và 1996-2010 gắn với những kết quả cụ thể; đánh giá những
ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế từ đó đúc rút được những kinh
nghiệm của Đảng, Nhà nước đối với thương binh, liệt sĩ và NCCVCM.
“Hỏi đáp pháp luật về chính sách xã hội đối với người có công với cách
mạng” của tác giả Phạm Tiến Giang [9]. Cuốn sách tổng hợp những câu hỏi, trả lời,
giải đáp những thắc mắc liên quan đến các chế độ, chính sách NCCVCM theo quy
định của các văn bản pháp luật. Đây là tài liệu hữu ích dành cho người dân, đối
tượng thụ hưởng chính sách tìm hiểu, nghiên cứu, nắm bắt được những thông tin,
giải đáp thắc mắc về chính sách NCCVCM theo quy định pháp luật.
Ngoài những công trình nghiên cứu kể trên, còn rất nhiều công trình khác,
các bài viết liên quan đến đề tài chính sách người có công với cách mạng được đăng
trên các tạp chí như: “Quản lý nhà nước về ưu đãi người có công ở Việt Nam hiện
nay” của tác giả Đỗ Thị Hồng Hà [10]; Bài viết “Tiếp tục thực hiện tốt chính sách
ưu đãi người có công với nước hiện nay, định hướng đến năm 2020” của Phạm Thị
Hải Chuyền [6]; Bài viết “Đẩy mạnh xã hội hoá công tác chăm sóc người có công
và hoàn thành xác nhận người có công với cách mạng” của tác giả Bùi Sỹ Lợi [21];

2.2. Nhóm nghiên cứu thực hiện chính sách người có công với cách mạng
“Nâng cao năng lực của cơ quan hành chính nhà nước trong việc thực hiện
pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng ở nước ta hiện nay” của Phạm Hải
Hưng [14]. Từ việc tìm hiểu thực trạng ban hành và thực hiện Pháp lệnh ưu đãi
người có công ở Việt Nam, thực trạng năng lực của cơ quan hành chính nhà nước

“Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng và quy trình giải quyết hồ
sơ xác nhận người có công” của Nguyễn Hữu Đại [7]. Cuốn sách đã khái quát
chung về chính sách NCCVCM ở nước ta, hệ thống lại các văn bản pháp luật được
Chính phủ, Bộ LĐ-TB&XH ban hành quy định về một số nội dung liên quan chính
sách ưu đãi, trợ cấp, phụ cấp tiền lương, bảo hiểm, hỗ trợ nhà ở đối với người có
công, quy trình giải quyết hồ sơ xác nhận người có công năm 2017 như: Quyết định
408/QĐ-LĐTBXH ngày 20/3/2017 của Bộ LĐ-TB&XH về quy trình giải quyết hồ

5


sơ tồn đọng xác định người có công; Quyết định 157/QĐ-BCĐCCTLBHXH ngày
21/3/2017 ban hành Quy chế làm việc của ban chỉ đạo cải cách chính sách tiền
lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công; Nghị định 19/2017/NĐ-CP ngày
24/2/2017 của Chính phủ quy định về chế độ tiền lương của công nhân quốc phòng
và chế độ phụ cấp thâm niên đối với viên chức quốc phòng;…Cuốn sách là tài liệu
cần thiết trong công tác thực hiện chính sách NCCVCM.
Bên cạnh đó, còn rất nhiều những bài viết, bài phát biểu với chủ đề thực hiện
chính sách NCCVCM được đăng trên các tạp chí, báo điện tử: Bài viết “Thực hiện
chính sách người có công là trách nhiệm của cả xã hội” của tác giả Quang Vũ,
Phúc Hằng [13]; Bài viết “Nhìn lại 3 năm thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có
công” của tác giả Bùi Hồng Lĩnh [19]; Bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Xuân
Phúc [25] về thực hiện chính sách người có công được đăng tải trên website Báo
Quân đội nhân dân online;…
Nhìn chung, các bài viết công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến nhiều
góc độ của văn bản pháp luật nói chung, văn bản quy phạm pháp luật nói riêng và
việc triển khai thực hiện chính sách người có công với cách mạng tại mỗi thời kỳ
khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn đều tập trung ở phương diện rộng, trên quy mô toàn
quốc hoặc cấp tỉnh, thành phố, một số đề tài chỉ mới nghiên cứu việc thực hiện
chính sách NCCVCM ở mức độ khái quát, chưa tập trung phân tích kết quả việc

người có công với cách mạng, về việc thực hiện chính sách NCCVCM.
-

Thứ hai, phân tích thực trạng thực hiện chính sách, quy trình thực hiện

chính sách công trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng (trong đó tập trung
tìm hiểu việc thực hiện một số chương trình, kế hoạch lớn đối với NCCVCM mà
UBND quận Sơn Trà triển khai thực hiện trên địa bàn Quận).
-

Thứ ba, đánh giá, đưa ra đề xuất, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện

chính sách NCCVCM trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng trong thời gian
tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên
cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình thực hiện chính sách người có công với cách mạng
4.2. Phạm vi nghiên cứu
-

Về nội dung: Trong giới hạn của luận văn chỉ tập trung vào giai đoạn tổ

chức thực hiện chính sách trợ cấp thường xuyên, chính sách nhà ở, chính sách chăm
sóc sức khoẻ, mai táng… đối với người có công với cách mạng và đánh giá kết quả
thực thi.
Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng giai đoạn từ năm 2016 đến
tháng
1/2019.
-


tại Phòng Lao động – Thương binh & xã hội quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵ
ng, thông qua đó tìm hiểu việc quản lý đối tượng NCCVCM, thực trạng việc thực
hiện chính sách NCCVCM trên địa bàn quận. Kết hợp phỏng vấn Trưởng phòng,
Chuyên viên phụ trách mảng người có công; phỏng vấn sâu các cá nhân thuộc diện
chính sách, gia đình có thân nhân hưởng chế độ chính sách người có công,… để nắm
bắt rõ, hiểu sâu hơn từng bước trong việc tổ chức thực hiện chính sách, đặc điểm tâm
lý đối tượng người có công với cách mạng và một số khó khăn, vướng mắc khi triển
khai thực hiện chính sách NCCVCM trên địa bàn quận.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý luận liên quan đến
các vấn đề về chính sách, chính sách công, chính sách đối với NCCVCM ở nước ta
hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở đánh giá, phân tích thực trạng thực hiện chính sách người có công
với cách mạng; nhằm tiếp tục duy trì, phát huy những ưu điểm, cách làm mới, hay
mang lại hiệu quả thiết thực; đồng thời khắc phục những tồn tại, hạn chế, đề ra các
giải pháp để tổ chức thực hiện tốt hơn chính sách đối với người có công trên địa bàn
quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn
gồm 3 chương:

8


Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách người có công với cách
mạng
Chương 2: Thực trạng việc thực hiện chính sách người có công với cách
mạng trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng



được sửa đổi bổ sung theo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của lệnh ưu đãi
NCCVCM số 35/2007/PL-UBTVQH11 quy định NCCVCM bao gồm:
+
+

Người hoạt động cách mạng từ trước ngày 1/1/1945

Người hoạt động cách mạng từ ngày 1/1/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng

Tám năm 1945

+

+

Liệt sĩ

+

Bà mẹ Việt Nam anh hùng

+

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân

+

Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến

tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng, trí
tuệ, có người hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến
thiết đất nước. Họ là người có những thành tích đóng góp hoặc những cống hiến
xuất sắc phục vụ vì lợi ích của đất nước, của dân tộc được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật”. Ở đây có thể thấy rõ những
tiêu chí cơ bản của người có công, đó là phải có đóng góp, cống hiến xuất sắc và vì
lợi ích dân tộc. Những đóng góp, cống hiến của họ có thể là trong các cuộc đấu
tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và cũng có thể là trong công cuộc xây dựng
và phát triển đất nước [30, tr.11-12].
Theo nghĩa hẹp: “Người có công là những người không phân biệt tôn giáo,
tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc

10


trong thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến
giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
công nhận theo quy định của pháp luật”. Ở khái niệm này, người có công bao gồm
người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời mình hoặc một
phần thân thể hoặc có thành tích đóng góp cho sự nghiệp cách mạng [30, tr.15].
Tóm lại, có thể hiểu một cách đơn giản: NCCVCM là những người không
phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác,… đã đóng góp công lao
hoặc hy sinh tính mạng, hi sinh một phần thân thể trong thời kỳ cách mạng tháng
Tám, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa
vụ quốc tế,…được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận.
1.1.2. Đặc điểm, nhu cầu người có công với cách mạng
-

Đặc điểm


động viên nhất là vào các dịp ngày lễ, ngày tết bởi họ cũng mong muốn có được sự
đầm ấm hạnh phúc trong những ngày này. Nhìn chung người có công có những đặc
điểm khác nhau đòi hỏi công tác chăm sóc cũng khác nhau và phải tìm hiểu kỹ đặc
điểm, nhu cầu của họ. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng để đưa ra những giải pháp
chăm sóc, hỗ trợ phù hợp, đem lại hiệu quả cao, nhằm bù đắp phần nào những hy
sinh cống hiến to lớn của người có công với cách mạng.


Nhu cầu

mỗi thời đại, nhu cầu của mỗi con người rất khác nhau. Nhu cầu của con

người thường rất đa dạng, phong phú, tùy thuộc vào hoàn cảnh sống, nhận thức, văn
hóa, vị trí xã hội, điều kiện kinh tế của mỗi người. Để tồn tại, con người cần phải
được đáp ứng những nhu cầu cơ bản thiết yếu nhất cho sự sống như ăn mặc, nhà ở,
ngủ nghỉ, y tế... Để phát triển, con người cần những nhu cầu cao hơn như sự an
toàn, được học hành, được tôn trọng, yêu thương... Sự vận động và phát triển của xã
hội loài người cuối cùng nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, càng
nhiều của con người. Đồng thời việc đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, càng nhiều ấy
cũng chính là động cơ thúc đẩy con người tham gia vào các hoạt động sản xuất, hoạt
động xã hội.
Để làm rõ nhu cầu của NCCVCM, tác giả áp dụng thuyết nhu cầu của
A.Maslow để nghiên cứu. Từ đó xem xét nhu cầu nào đã được đáp ứng, sự đảm bảo,
đảm bảo ở mức độ nào, tính bền vững ra sao; nhu cầu nào chưa được đáp ứng;
NCCVCM muốn được đáp ứng nhu cầu nào trước, nhu cầu nào sau hay theo trình
tự 5 nhu cầu từ thấp tới cao của tác giả A.Maslow.

12



viên nhỏ tuổi trong gia đình.
-

Đối với nhu cầu được tôn trọng: với phần lớn con người nói chung,

NCCVCM nói riêng, đây là nhu cầu quan trọng. Bởi lẽ NCCVCM đã trải qua nhiều
hy sinh, mất mát, đóng góp cho cách mạng, có nhiều công lao nên họ rất muốn được
xã hội, cộng đồng, dòng họ, gia đình tôn vinh, quý trọng, xem họ là tấm gương để
noi theo và công nhận những gì mà họ đóng góp, nhất là tuổi thanh xuân, công sức,
sự hy sinh về xương máu để góp phần làm nên lịch sử dân tộc, xây dựng cuộc sống
ngày nay.

13


-

Đối với nhu cầu hoàn thiện: cũng như nhiều người khác, NCCVCM cũng có

mong muốn hoàn thiện bản thân để khẳng định mình dù trong hoàn cảnh nào; họ rất
muốn tiếp tục đóng góp trí tuệ, uy tín, sự ảnh hưởng, tiếng nói của mình để tham gia
xây dựng địa phương, xây dựng Nhà nước... để góp phần xây dựng cuộc sống ngày
càng tốt đẹp hơn.
1.2. Chính sách người có công với cách mạng
1.2.1. Khái niệm
Chính sách đối với người có công là một bộ phận của hệ thống chính sách xã
hội mà cụ thể là chính sách bảo đảm xã hội. Trong hệ thống chính sách an sinh xã
hội ở nước ta, gồm có ưu đãi xã hội đối với những người có công lao đối với đất
nước; bảo hiểm xã hội đối với người lao động trong các thành phần kinh tế; cứu trợ
xã hội đối với những người không may bị rủi ro, khó khăn hoặc hiểm nghèo.

ràng trong Pháp lệnh ưu đãi đối với NCCVCM, cơ bản bao gồm các chế độ như:
Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng; Mai táng phí; Cấp phát bảo hiểm y tế; Hỗ
trợ nhà ở; Điều dưỡng phục hồi sức khoẻ hằng năm; Cấp phương tiện trợ giúp, dụng
cụ chỉnh hình cần thiết;…
1.2.2. Vai trò chính sách người có công với cách mạng
Thứ nhất, chính sách NCCVCM là công cụ thực hiện chức năng xã hội của
Nhà nước, phản ánh thái độ, định hướng của Đảng, Nhà nước trong việc giải quyết
các vấn đề xã hội
Với tư cách là một công quyền, Nhà nước có hai chức năng cơ bản là chức
năng giai cấp và chức năng xã hội. Trong đó chức năng xã hội của Nhà nước là chức
năng thực hiện quản lý chung vì sự tồn tại của xã hội, chăm lo những công việc
chung của toàn xã hội và trong giới hạn có thể được nó phải thoả mãn một số nhu
cầu của cộng đồng dân cư. Thực hiện chức năng này, cần thiết phải sử dụng những
công cụ, phương pháp phù hợp, hiệu quả và chính sách chứa đựng những quy định,
cơ chế mang tính quyền lực nhất định, buộc các chủ thể, đối tượng tuân thủ thực
hiện theo được xem là một công cụ hữu hiệu, đảm bảo giải quyết các vấn đề phát
sinh trong xã hội, thực hiện tốt chức năng xã hội của Nhà nước.
Hậu quả sau chiến tranh để lại là vô cùng to lớn, đất nước bị tàn phá nặng nề,
vô số người đã hi sinh, ngã xuống, cống hiến sức lực, tài sản, trí tuệ,… đấu tranh
giành giữ độc lập, tự do cho dân tộc; những người may mắn sống sót trở về nhưng
mang trên mình nhiều thương tật, tổn thương nặng nề. Việc khắc phục hậu quả sau
chiến tranh, kiến thiết xây dựng đất nước, bù đắp những thương tổn. mất mát, cải
thiện đời sống nhân dân và đối tượng người có công là một vấn đề cấp bách chiến
lược. Việc ban hành và thực hiện chính sách NCCVCM được xem là một tất yếu
khách quan. Thông qua chính sách NCCVCM đã thể hiện truyền thống, đạo lý tốt
đẹp “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, bản chất nhân đạo, nhân văn sâu sắc của

15



NCCVCM luôn ý thức và có tinh thần trách nhiệm giữ gìn phẩm chất, truyền thống
cách mạng, gương mẫu chấp hành các quy định trong đời sống và công tác. Rất

16


nhiều người trở về sau chiến tranh với thương tích, bệnh tật rất nặng nhưng họ vẫn
cố gắng vươn lên, tìm kiếm việc làm, phát triển kinh tế, tiếp tục cống hiến cho xã
hội trong thời bình. Tuy nhiên đa phần NCCVCM đều già yếu, thương tật, không đủ
khả năng lao động, nhiều hộ gia đình thuộc diện chính sách đặc biệt khó khăn mức
sống dưới mức trung bình, không có khả năng chi trả các chi phí sinh hoạt, điều
kiện vật chất tối thiểu cho cuộc sống,… Chính sách NCCVCM được ban hành nhằm
mục đích khắc phục sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội, thực hiện ưu đãi cho đối
tượng là NCCVCM trong giải quyết việc làm, trợ cấp, chế độ bảo hiểm y tế, hỗ trợ
thoát nghèo,… để giúp đỡ người NCCVCM nâng cao được chất lượng cuộc sống,
có mức sống bằng mức trung bình hoặc cao hơn so với các xã hội đảm bảo thực
hiện tiến bộ, công bằng xã hội.
Thứ ba, chính sách NCCVCM đóng vai trò là cầu nối, tạo cơ sở phối hợp
thực hiện giữa cơ quan nhà nước và các tổ chức, người dân trong xã hội cùng tham
gia chăm sóc NCCVCM
Chăm sóc thương binh, liệt sĩ và người có công là bổn phận, trách nhiệm của
Đảng Nhà nước và toàn thể xã hội. Từ khâu hoạch định chính sách đã đòi hỏi sự
tham gia của nhiều chủ thể, cá nhân trong xã hội. Khi triển khai chính sách
NCCVCM trên phạm vi rộng thì cần có sự tham gia của nhiều cơ quan thuộc các
cấp, các ngành khác nhau, nhiều tổ chức, cá nhân để đảm bảo cho việc thực hiện
chính sách được hiệu quả. Dựa trên những quy định chung của Pháp luật về chính
sách NCCVCM và thông qua quá trình thực hiện chính sách, sẽ thúc đẩy được sự
phối hợp hoạt động giữa các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội. Mục tiêu
của chính sách được hiện thức hoá bằng các chương trình, chế độ cụ thể, nêu bật lên
tinh thần, đạo lý, truyền thống nhân đạo của dân tộc, qua đó lôi kéo được quần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status