VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ HOÀI THU
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN
TỈNH THANH HÓA
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 938.01.02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh
HÀ NỘI - 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng. Những kết luận
khoa học của luận án chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào. Tôi
hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình.
Tác giả
Phạm Thị Hoài Thu
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
Xã hội chủ nghĩa
9 XLNTTT: Xử lý nước thải tập trung
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN
CỨU ................................................................................................................................ 8
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án ................................. 8
1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án .................................. 30
1.3. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học .............................................................. 34
Chương 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP .......................... 38
2.1.Khái niệm, đặc điểm, vai trò thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các
khu công nghiệp ............................................................................................................ 38
2.2.Nội dung, hình thức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công
nghiệp ............................................................................................................................ 57
2.3. Các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu
công nghiệp ................................................................................................................... 71
Chương 3. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH THANH HÓA ............................... 79
3.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội và các khu công nghiệp ở tỉnh
Thanh Hóa ..................................................................................................................... 79
3.2. Kết quả, ưu điểm thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công
nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa và nguyên nhân .................................................................... 83
3.3. Những hạn chế của việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu
công nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa và nguyên nhân ......................................................... 109
2019 được so sánh với cột A, QCVN 40:2011/BTNMT (Kq = 0,9; Kf = 1,1) ........... 92
Hình 6: Hàm lượng NH4+_N có trong nước thải đầu ra của hệ thống XLNT năm
2019 được so sánh với cột A, QCVN 40:2011/BTNMT (Kq = 0,9; Kf = 1,1) ........... 92
Hình 7: Diễn biến môi trường không khí trong KCN Lễ Môn năm 2019 ................ 102
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ
Biểu đồ 1: Đánh giá diễn biến kết quả quan trắc một số thông số trong nước thải
sau xử lý năm 2019 so sánh với một số quy chuẩn hiện hành tại nhà máy xử lý chất
thải Trường Lâm. [39]........................................ 89
Biểu đồ 2: Diễn biến nồng độ các chất ô nhiễm có trong môi trường không khí tại
khu B .................................................. 98
Biểu đồ 3: Nồng độ các chất ô nhiễm có trong môi trường không khí tại khu B .. 99
Đồ thị 1: Biến thiên nồng độ bụi phát sinh tại ống khói của các dự án trong năm
2019 ........................................................................................................................... 100
Đồ thị 2: Biến thiên nồng độ CO phát sinh tại ống khói của dự án ........................... 101
Đồ thị 3: Biến thiên nồng độ NOx phát sinh ống khói của dự án năm 2019 .............. 101
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế mỗi nước với khoa học công
nghệ phát triển ngày càng mạnh mẽ thì vấn đề bảo vệ môi trường (BVMT)
càng trở nên quan trọng và cấp thiết không chỉ đối với mỗi quốc gia mà đã trở
thành vấn đề toàn cầu. Môi trường liên quan chặt chẽ đến cuộc sống của con
người, đồng thời là một dạng tài nguyên đặc biệt, ảnh hưởng đến mọi hoạt
động và sự phát triển của xã hội. Trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt
Nam, sự suy thoái, ô nhiễm và sự cố môi trường đang làm cho môi trường có
những thay đổi bất lợi cho con người. Việt Nam cũng như nhiều quốc gia
khác, trong quá trình phát triển phải đối mặt với những khó khăn là làm thế
nghiên cứu lập pháp đến hết năm 2018 cả nước có 326 KCN, trong đó một số
doanh nghiệp có lắp đặt hệ thống xử lý chất thải nhưng luôn cố tình vi phạm,
thủ đoạn tinh vi, lén lút xả thải ra môi trường như xây dựng hệ thống bí mật,
phức tạp, ngụy trang bằng hệ thống đạt tiêu chuẩn rất khó phát hiện ra như
công ty Vedan Việt Nam, công ty Miwon, công ty Hào Dương, công ty giấy
Việt Trì, formosa Hà Tĩnh vi phạm tới 53 lỗi về những quy định của pháp luật
về môi trường trong KCN … Tình hình vi phạm pháp luật BVMT diễn biến
phức tạp, nhưng việc thực hiện pháp luật BVMT còn nhiều tồn tại. Các cơ
quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường chưa thực sự chủ động,
thiếu phương tiện, cán bộ BVMT hạn chế… là nguyên nhân chủ yếu của thực
trạng yếu kém trong thực hiện pháp luật BVMT hiện nay. Thực tiễn này đặt ra
vấn đề cần phải hoàn thiện các cơ chế nhằm kiểm soát việc thực hiện pháp
luật BVMT trong các KCN có hiệu quả, trong đó có việc hoàn thiện các quy
định pháp luật về vấn đề này. Việc quy định và thực hiện pháp luật BVMT
trong các KCN như thế nào để vừa gìn giữ được một môi trường xanh, sạch,
bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân đồng
thời vẫn có điều kiện phát huy tối đa các nguồn lực cho phát triển kinh tế đất
nước là hết sức quan trọng.
Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về pháp luật BVMT trong
các KCN, trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, có thể thấy Luật quy định
còn có những nội dung khá chung chung, nhiều thiếu sót, chưa mang tính hệ
thống, thiếu cụ thể dẫn tới khó khả thi. Ví dự như: đánh giá tác động môi
trường (ĐTM) trong các KCN còn thiếu dẫn đến nhiều cơ sở sản xuất, kinh
doanh trong các KCN vẫn có thể lách luật qua các quy định pháp luật để
không phải lập báo cáoĐTM ; hệ thống xả thải các chất thải của doanh nghiệp
không đấu nói với hệ thống xả thải chung của KCN; thiếu các quy định về phí
2
Hóa” làm Luận án tiến sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính,
3
với mong muốn góp phần bảo đảm thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN
trên cả nước nói chung và ở tỉnh Thanh Hóa nói riêng.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng thực
hiện pháp luật BVMT trong các KCN và thực tiễn thực hiện pháp luật BVMT
trong các KCN tỉnh Thanh Hóa, luận án hướng đến mục đích nghiên cứu là đề
xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật BVMT trong
các KCN.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án cần thực hiện các
nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
Một là: tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
Xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án, nghiên cứu
sinh cần thu thập các tài liệu, công trình khoa học liên quan đến đề tài luận
án; nhận xét, đánh giá, nêu quan điểm về những kết quả đạt được các công
trình nghiên cứu, xác định các vấn đề, nội dung cần tiếp tục giải quyết
trong luận án.
Hai là: phân tích, khái quát làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về thực
hiện pháp luật BVMT trong các KCN, bao gồm khái niệm, đặc điểm, vai trò,
nội dung, hình thức, các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật
BVMT trong các KCN.
Ba là: phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện các quy định pháp luật
BVMT trong các KCN ở tỉnh Thanh Hóa. Từ đó, rút ra các nhận xét về những
ưu điểm, hạn chế; phân tích những nguyên nhân của kết quả và hạn chế. Đây
lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
Nhà nước, pháp luật về môi trường, BVMT và thực hiện pháp luật BVMT.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quá trình nghiên cứu luận án sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu cụ thể trong khoa học xã hội như phương pháp phân tích tổng hợp;
phương pháp logic; hệ thống hóa; tiếp cận đa ngành; liên ngành, thống kê, so
sánh… phù hợp cho từng chương, cụ thể:
Chương 1: Chương tổng quan tình hình nghiên cứu chủ yếu sử dụng
phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp để khái quát các vấn đề liên
quan đến đề tài được nghiên cứu trong các công trình khoa học đã công bố,
5
xác định những nội dung kế thừa cũng như khái quát các vấn đề mà luận án
cần nghiên cứu.
Chương 2: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp hệ
thống hóa để làm rõ các vấn đề lý luận của pháp luật BVMT trong các KCN.
Chương 3: Sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp tổng
hợp, phương pháp phân tích, phương pháp logic, phương pháp tiếp cận đa
ngành - liên ngành để làm rõ thực tiễn thực hiện pháp luật BVMT trong các
KCN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa từ năm 2015 đến nay.
Chương 4: Sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp,
phương pháp logic, phương pháp tiếp cận đa ngành - liên ngành để đưa ra một
số giải pháp thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN từ thực tiễn các KCN
ở tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình khoa học nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn
diện về việc thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN và có những đóng góp
thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN chưa hoàn thiện. Đồng thời, kết
quả nghiên cứu của luận án còn là cơ sở để các cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp và cá nhân xây dựng và áp dụng các biện pháp thực hiện pháp luật
BVMT trong các KCN có hiệu quả trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong thời
gian tới.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận án gồm bốn
chương.
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật bảo vệ môi
trường trong các khu công nghiệp
Chương 3: Thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các
khu công nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa
Chương 4: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật bảo vệ
môi trường trong các khu công nghiệp
7
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN
TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.1.1. Các công trình nghiên cứu trong nước
1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện
pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp
Ở Việt Nam, trong quá trình thực hiện đường lối phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) và chủ động hội nhập quốc tế
pháp luật BVMT trong các KCN.
Về khái niệm thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN ở các địa
phương, các tác giả đều xuất phát từ những vấn đề lý luận cơ sở, có tính chất
công cụ đã được khẳng định trong nhiều công trình như môi trường, BVMT,
pháp luật BVMT, thực hiện pháp luật BVMT. Tác giả Nguyễn Thị Hoài
Phương tiếp cận pháp luật BVMT với phạm vi rộng hơn; tác giả Phạm Thị
Thanh Xuân, Nguyễn Thị Hường, Đỗ Thị Hương tiếp cận ở phạm vi nhỏ hơn
ở một địa phương. Nhìn chung khái niệm do các tác giả nêu ra đều khẳng
định thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN là hành vi của các chủ thể
thực hiện vai trò, trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ BVMT do pháp luật quy
định. Nhưng về chủ thể thì mỗi công trình đều giới hạn trong phạm vi xác
định, phù hợp với thời gian nghiên cứu và yêu cầu của luận văn thạc sĩ.
Về đặc điểm thực hiện pháp luật BVMT và thực hiện pháp luật BVMT
trong các KCN, công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hường (2008) chỉ
rõ thực hiện pháp luật BVMT nói chung cũng như ở tỉnh Nam Định nói riêng.
Đề cập đặc điểm thực hiện pháp luật BVMT ở các KCN tại tỉnh Hải Dương,
tác giả Phạm Thị Thanh Xuân (2008) phân tích các đặc điểm về chủ thể, nội
dung, hình thức; tương tự tác giả Đỗ Thị Hương (2015) cũng xác định thực
hiện pháp luật BVMT trong các KCN ở tỉnh Nam Định hiện nay có các đặc
điểm về chủ thể, nội dung, thời điểm về lập quy hoạch đến đầu tư xây dựng
hạ tầng và quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời, các tác
giả cũng phân tích vai trò thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN ở các địa
phương, các tác giả đều tiếp cận dưới góc độ vai trò chung góp phần thực hiện
có hiệu quả pháp luật BVMT trong các KCN ở từng địa phương.
Các công trình nghiên cứu trực tiếp về thực hiện pháp luật BVMT trong
các KCN ở các địa phương Nam Định, Hải Dương nêu trên đã nghiên cứu
9
Trong công trình này tác giả chủ yếu tập trung đánh giá thực trạng thực hiện
pháp luật môi trường của người dân, doanh nghiệp, các cơ quan tổ chức có
10
trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật môi trường. Tuy nhiên do phạm vi
nghiên cứu rộng bao gồm pháp luật môi trường nói chung, các chủ thể cũng
đa dạng nên những đánh giá của tác giả chỉ ở mức khái quát, chưa cụ thể.
Năm 2016, thạc sĩ Nguyễn Trần Điện - Viện Công nghệ môi trường công bố
bài viết Thực trạng thực hiện pháp luật về BVMT trên Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp. Bài viết đã đề cập tới các vi phạm pháp luật về BVMT như những vi
phạm pháp luật trong lĩnh vực sản xuất, nhất là tại các KCN, khu chế xuất;
lĩnh vực sản xuất làng nghề, nông nghiệp; lĩnh vực khai thác lâm sản, khoáng
sản, nước ngầm, bảo vệ đa dạng sinh học; lĩnh vực quản lý và xử lý chất thải;
đối với rác thải công nghiệp; rác sinh hoạt, phế thải xây dựng; trong lĩnh vực
an toàn vệ sinh thực phẩm. Đáng chú ý là khi phân tích các hạn chế, yếu kém
trong thực trạng thực hiện pháp luật môi trường của Việt Nam, tác giả đã đi
sâu phân tích nguyên nhân chủ yếu là do pháp luật BVMT chưa hoàn thiện,
chỉ rõ những điểm còn hạn chế, bất cập từ các quy định của pháp luật về
BVMT như chưa có sự gắn kết chặt chẽ, hữu cơ giữa các quy định về phát
triển kinh tế với các quy định về BVMT. Yếu tố môi trường chưa thực sự
được coi trọng và tính đến nhiều trong quá trình xây dựng và ban hành luật
như các vấn đề về thương mại, đầu tư và phát triển kinh tế bởi những đòi hỏi
bức xúc về phát triển kinh tế. Hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật về
kinh tế còn chưa tính đến chi phí môi trường trong sản xuất kinh doanh. Còn
thiếu vắng những công cụ kinh tế nhằm BVMT như lệ phí môi trường, thuế
môi trường, người gây ô nhiễm phải trả tiền; các quy định của pháp luật về
BVMT tương đối đầy đủ ở luật nội dung và hình thức nhưng chưa có một cơ
chế pháp lý hữu hiệu trong việc kiểm soát các hoạt động tác động vào tự
với dự án sản xuất, kinh doanh của họ. Kết quả nghiên cứu của Lê Sơn Hải là
tài liệu tham khảo bổ ích cho nghiên cứu sinh.
Tác giả Đinh Tiến Quân (2013), Hoạt động phòng ngừa tội phạm về
môi trường theo chức năng của lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về
môi trường trong tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hóa đất nước, Luận án
tiến sĩ, Hà Nội. Tác giả đã nghiên cứu lý luận về tội phạm môi trường cũng
như công tác phòng ngừa loại tội phạm này của lực lượng Cảnh sát phòng
chống tội phạm môi trường. Khảo sát, nghiên cứu, phân tích tình hình tội
phạm về môi trường ở Việt Nam và thực trạng hoạt động phòng ngừa loại tội
phạm này của lực lượng cảnh sát phòng chống tội phạm môi trường.
Tác giả Phan Tiến Dũng (2012), Công tác điều tra cơ bản của lực
lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Luận án tiến sĩ, Học
viện cảnh sát nhân dân, Hà nội. Ngoài việc phân tích, khái quát những vấn đề
12
lý luận có liên quan, tác giả đi sâu phân tích đánh giá thực trạng công tác điều
tra cơ bản của lực lượng cảnh sát phòng chống tội phạm môi trường. Công
trình này giúp cho nghiên cứu sinh cách nhìn bao quát hơn, toàn diện hơn vấn
đề thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN.
Tác giả Nguyễn Duy Hà (2008), trong luận văn thạc sĩ luật học “Quản
lý nhà nước bằng pháp luật về môi trường ở tỉnh Bình Thuận” đi sâu phân
tích thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với môi trường trên địa
bàn tỉnh Bình Thuận. Những đánh giá của tác giả có giá trị tham khảo giúp
cho nghiên cứu sinh đánh giá thực trạng các cơ quan quản lý nhà nước thực
hiện pháp luật BVMT ở các KCN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa như thế nào.
Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật BVMT phải kể đến các công
trình trực tiếp nghiên cứu vấn đề thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN ở
các địa phương. Cụ thể có công trình của Phạm Thị Thanh Xuân (2008), “Thực
phát triển bền vững về cung cấp nước; đề xuất quy hoạch liên tỉnh, liên vùng
về phát triển kinh tế - xã hội trong chiến lược phát triển bền vững lưu vực
sông Đồng Nai.
Tô Trung Nghĩa (2006), Nghiên cứu cơ sở khoa học và giải pháp công
nghệ để phát triển bền vững lưu vực sông Hồng, Đề tài nghiên cứu khoa học
cấp Bộ, Hà Nội. Tác giả đã nghiên cứu cơ sở khoa học và giải pháp công
nghệ để phát triển bền vững lưu vực sông Hồng trên cơ sở nghiên cứu, điều
tra hiện trạng tài nguyên, môi trường lưu vực sông Hồng, áp dụng các mô
hình TANK, mô hình NAM, mô hình MITSIM, mô hình MIKE BASIN để
tính toán cân bằng nước, tính toán khả năng chịu tải, tự làm sạch của lưu vực
sông Hồng, đồng thời thiết lập, mô phỏng, phân tích đánh giá các kịch bản và
các phương án công trình cho việc tối ưu hiệu quả kinh tế trên lưu vực sông
Hồng. Trình bày kết quả tính toán mô phỏng chất lượng nước và xâm nhập
mặn, xác định và đề xuất giải pháp duy trì dòng chảy môi trường cho hệ thống
sông Hồng phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững tài nguyên nước; khả
năng chịu tải của lưu vực sông Hồng, thiết lập cơ sở khoa học cho xây dựng
các phương án công trình phục vụ việc khai thác tài nguyên nước và tối ưu
hiệu quả kinh tế trên lưu vực sông Hồng. Nghiên cứu về kiểm soát ô nhiễm
trên lưu vực như chất lượng nước của các thủy vực chịu tác động của các yếu
tố tự nhiên như địa chất, thổ nhưỡng, lớp phủ thực vật, những yếu tố quan
trọng gây ra các vấn đề về chất lượng nước là các hoạt động của con người và
vấn đề sử dụng đất trong lưu vực để BVMT nước ở sông Hồng.
14
Lê Huy Bá (2013), Sách chuyên khảo về khả năng chịu tải hệ sinh thái
môi trường lưu vực sông Vàm Cỏ, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà
Nội. Lê Huy Bá và cộng tác viên đã nghiên cứu đánh giá hiện trạng ô nhiễm,
khả năng chịu tải của hệ sinh thái lưu vực sông Vàm Cỏ để phục vụ cho quy
Lê Sơn Hải (2006) Những vấn đề pháp lý của việc đánh giá tác động
môi trường của các dự án đầu tư, Luận án tiến sĩ luật học, khoa Luật Đại học
quốc gia, Hà Nội. Từ việc phân tích những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện
các quy định pháp luật về ĐTM của các dự án đầu tư tác giả đề xuất các giải
pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật về ĐTM và cơ chế thực hiện pháp luật
về ĐTM của các dự án đầu tư.
Nguyễn Quang Hùng (2016), Nghiên cứa góp phần hoàn thiện pháp luật
bảo vệ môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, Luận án Tiến sĩ khoa
học môi trường, Trường Đại học khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội,
Hà nội. Đề tài tập trung nghiên cứu nguyên nhân ô nhiễm, nhận diện và phân
tích những hạn chế trong hoạt động của Ủy ban BVMT lưu vực sông Nhuệ sông Đáy, của chế tài xử lý vi phạm và của hệ thống pháp luật BVMT nước
lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy. Từ đây, đề xuất phương án, giải pháp, kiến
nghị góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật BVMT nước lưu vực sông Nhuệ
- sông Đáy với mục tiêu để pháp luật trở thành công cụ sắc bén, hiệu quả
trong việc kiểm soát ô nhiễm, kiểm soát tội phạm môi trường, đáp ứng yêu
cầu BVMT trong tiến trình xây dựng đất nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại. Luận án đã góp phần xác lập cơ sở khoa học,
phương pháp luận về hoàn thiện hệ thống pháp luật BVMT nước lưu vực
sông Nhuệ - sông Đáy và khung pháp lý mô hình Ủy ban quốc gia lưu vực
sông ở Việt Nam; kiến nghị các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật
BVMT nước lưu vực sông, hệ thống pháp luật BVMT nước lưu vực sông
Nhuệ - sông Đáy, các chế tài xử lý vi phạm và xây dựng khung pháp lý mô
hình Ủy ban quốc gia lưu vực sông nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm
soát, sử dụng, bảo vệ, cải thiện và nâng dần chất lượng môi trường nước trên
các lưu vực sông ở Việt Nam nói chung và lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy nói
riêng; đánh giá chất lượng, hiệu lực thực thi và hiệu quả can thiệp của hệ
thống pháp luật BVMT nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy; xác định nguyên
nhân và phân tích những hạn chế, khoảng trống của hệ thống pháp luật
- Ở những công trình nghiên cứu trực tiếp về thực hiện pháp luật
BVMT và thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN, các tác giả đã đề xuất
nhiều giải pháp cụ thể, có tính hệ thống hơn trong việc thực hiện pháp luật
BVMT nói chung và BVMT trong các KCN nói riêng. Tiêu biểu là các công
trình sau đây:
Nguyễn Thị Thu Hường (2008), Thực hiện pháp luật môi trường ở tỉnh
Nam Định, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc
17
gia Hồ Chí Minh, Hà nội. Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận về thực
hiện pháp luật môi trường như khái niệm thực hiện pháp luật môi trường,
phân tích, đánh giá khái quát các quy định pháp luật môi trường, thực tiễn
thực hiện pháp luật môi trường của người dân và doanh nghiệp, tác giả đã đưa
ra các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về
môi trường trên địa bàn tỉnh Nam Định.
Phạm Thị Thanh Xuân (2008), Thực hiện Pháp Luật về Bảo vệ môi
trường ở các khu công nghiệp tại tỉnh Hải Dương, Luận văn Thạc sĩ Luật, Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà nội. Trên cơ sở lý luận,
đánh giá toàn diện tình hình thực hiện pháp luật về BVMT trong các KCN ở
tỉnh Hải Dương, tác giả đề xuất hệ thống các giải pháp thực hiện pháp luật
BVMT trong các KCN tỉnh Hải Dương như tăng cường công tác tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức BVMT trong KCN
của các chủ thể có liên quan; hoàn thiện các quy định của pháp luật về sử
dụng và BVMT; hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật môi trường;
tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực BVMT; đẩy mạnh xã hội hóa công
tác BVMT; tăng cường vai trò của cộng đồng trong việc giám sát thực hiện
các chủ trương, chính sách và pháp luật về BVMT; phát triển các phong trào
quần chúng tham gia BVMT; tăng cường và đa dạng hóa đầu tư cho BVMT;
về môi trường ở Việt Nam cần xuất phát và nằm trong tổng thể các chính
sách, định hướng mang tính quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước; xã hội hóa các hoạt động thực hiện pháp luật về BVMT bằng cách tăng
cường sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể và cộng đồng
dân cư trong việc tham gia quản lý, tổ chức thực hiện và giám sát công tác
BVMT; tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực môi trường, đặc biệt là hợp
tác quốc tế về pháp luật; tăng nguồn chi cho BVMT.
Ths.Nguyễn Thị Bình (2017), Trách nhiệm bảo vệ môi trường khu
công nghiệp của Ban quản lý khu công nghiệp, Tạp chí Dân chủ và pháp luật
số chuyên đề tháng 8 năm 2016, cơ cấu, tổ chức, vị trí của các Ban Quản lý
KCN liên tỉnh; tại nhiều KCN, Ban Quản lý KCN đồng thời là chủ kinh
doanh cơ sở hạ tầng KCN; Ban Quản lý KCN chưa đủ điều kiện để thực hiện
trách nhiệm BVMT trong các KCN; việc ủy quyền của cơ quan nhà nước
khác cho Ban Quản lý KCN nhằm quản lý, BVMT trong các KCN chưa thực
sự hiệu quả; chế tài xử lý chưa được quy định rõ ràng. Hiện nay, hầu hết các
quy định về trách nhiệm BVMT mới chỉ có bộ phận giả định, quy định còn
thiếu. Trên cơ sở những phân tích thực trạng Ban Quản lý và trách nhiệm
BVMT của Ban Quản lý KCN, tác giả đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định
19