BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC KHU CÔNG
NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH
CẦN NHIỀU GIẢI PHÁP ĐỒNG BỘ
HOÀNG VĂN VY
THANH TRA BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố (TP) cảng lớn nhất ở nước ta, với vị trí địa lý thuận
lợi, hội tụ đủ các điều kiện thuận lợi về giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng
không, là đầu mối giao thông kinh tế lớn nối liền với các địa phương trong nước và quốc
tế. Những năm qua, TP luôn là động lực phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, là địa
phương đứng đầu về tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và gián tiếp nước ngoài. Hàng
năm, mức thu nộp ngân sách của TP chiếm 1/3 tổng thu ngân sách quốc gia; 1/3 tổng kim
ngạch xuất khẩu, GDP chiếm 20% cả nước và là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam.
Có được sự phát triển vượt bậc về kinh tế - xã hội kể trên là nhờ sự đóng góp quan trọng
của công nghiệp TP, trong đó phần lớn là của các khu chế xuất và khu công nghiệp (KCX
- KCN). Sau 15 năm phát triển, đến nay trên địa bàn TP đã có 13 KCN, 2 KCX, 1 khu
công nghệ cao và 1 công viên phần mềm được hình thành và đi vào hoạt động. Việc phát
triển nhanh chóng của các KCN - KCX đã thu hút được nhiều doanh nghiệp trong và
ngoài nước vào đầu tư phát triển, giải quyết việc làm thường xuyên cho hàng chục vạn
lao động, kim ngạch xuất khẩu ngày càng cao. Các KCN - KCX đã thu hút được 1.062 dự
án với tổng số vốn đầu tư là 3,53 tỷ USD, chiếm 80% số dự án và 52% số vốn đầu tư của
TP, kim ngạch xuất khẩu trong các KCX - KCN đạt lũy kế 11.482 triệu USD.
Bên cạnh những mặt tích cực kể trên, do sự tăng dân số cơ học và tốc độ đô thị hóa nhanh
dẫn đến áp lực về môi trường cũng ngày càng lớn tỷ lệ thuận với phát triển. Nhiều KCN
tập trung trước đây quy hoạch ở ngoại thành nay đã nằm trong nội vi thành phố nên tình
trạng ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước sông, nước ngầm đặc biệt nghiêm trọng. Một
thực tế mà ai cũng có thể nhận biết là càng đầu tư phát triển công nghiệp bao nhiêu thì
hiểm họa ô nhiễm môi trường càng gia tăng và càng tác động tiêu cực đến môi trường
sống của cộng đồng cư dân bấy nhiêu…
nước xả thải được phân tích có một số thông số ô nhiễm vượt TCCP với mức độ như đã
nêu ở trên. Đặc biệt, tại thời điểm thanh tra còn phát hiện được 2 cơ sở có hệ thống xử lý
nước thải nhưng đang xả ngầm nước thải ra môi trường không qua hệ thống xử lý.
Việc quản lý chất thải nguy hại (CTNH) tại các KCN - KCX cũng rất đáng được quan
tâm. Quy chế quản lý CTNH được Thủ tướng Chính phủ ban hành từ năm 1999 kèm theo
Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg và Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) đã có
Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ
đăng ký cấp phép hành nghề, mã số quản lý CTNH nhưng khá nhiều doanh nghiệp được
thanh tra thiếu các thủ tục quản lý CTNH, từ khâu đăng ký chủ nguồn thải CTNH đến
quản lý vận chuyển và xử lý CTNH. Trong số 17 cơ sở được thanh tra có 15 cơ sở có
phát sinh chất thải nguy hại nhưng chưa có hồ sơ đăng ký phát sinh CTNH, 7 cơ sở có
CTNH vi phạm về quản lý chất thải không đúng quy định chủ yếu là chuyển giao CTNH
cho đơn vị không có giấy phép quản
lý CTNH và không xử lý CTNH mà
dùng để san lấp mặt bằng.
Ý thức tuân thủ pháp luật và nhận
thức về BVMT của khá nhiều cơ sở
trong KCN - KCX còn yếu kém, vấn
đề BVMT tại các cơ sở chưa được
quan tâm đúng mức. Một số công ty
đầu tư hạ tầng chỉ tính đến việc xây
dựng hạ tầng và cho thuê, còn nước
thải công nghiệp tại đây thì bỏ mặc
doanh nghiệp tự xử lý. Các cơ sở
trong KCN chưa quan tâm lưu giữ
hồ sơ về BVMT, có tới 2/3 số doanh
nghiệp được thanh tra chỉ lưu giữ
Quyết định phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) hoặc Phiếu xác nhận
đăng ký đạt Tiêu chuẩn môi trường (TCMT), không xuất trình được Báo cáo ĐTM hoặc
Bản đăng ký đạt TCMT; không nhận biết được doanh nghiệp cần phải tuân thủ nội dung
phép các nhà đầu tư hạ tầng xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung khi diện tích
trong KCX - KCN đã cho thuê đạt 50% tổng diện tích, dẫn đến tình trạng nhiều công ty
đầu tư hạ tầng thiếu chủ động trong đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung.
Đội ngũ cán bộ quản lý và thanh tra chuyên ngành BVMT của TP khá mỏng, kinh
nghiệm còn chưa nhiều nên mặc dù hàng năm triển khai nhiều cuộc thanh tra, kiểm tra tại
các cơ sở nhưng không hướng dẫn kịp thời, đầy đủ những nội dung cụ thể về BVMT và
tài nguyên nước cần phải tuân thủ để doanh nghiệp nắm được và tự giác chấp hành.
Công tác thanh tra, kiểm tra về BVMT tuy đã được thực hiện thường xuyên, hàng năm xử
phạt hàng tỷ đồng vi phạm hành chính về BVMT, nhưng còn nhiều vi phạm của các cơ
sở vẫn chưa được xử lý kịp thời. Kết quả thanh tra cho thấy, các cơ sở được thanh tra vi
phạm chủ yếu theo các nhóm hành vi sau: xả nước thải vượt TCCP (20/21); 10/21 cơ sở
không thực hiện đúng nội dung Báo cáo ĐTM hoặc Bản đăng ký đạt TCMT; chưa có hồ
sơ đăng ký chủ nguồn thải CTNH (15/17); vi phạm quy định quản lý CTNH (7/17); 1 cơ
sở không lập Báo cáo ĐTM bổ sung.
Qua đợt thanh tra tại TP Hồ Chí Minh, Đoàn thanh tra của Bộ TN&MT đã tiến hành lập
biên bản vi phạm hành chính 20/21 cơ sở được thanh tra, đề nghị xử phạt với tổng số tiền
gần 460 triệu đồng. Trong đó có 8 đơn vị thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND
TP, 12 đơn vị thuộc thẩm quyền xử phạt của Chánh thanh tra Sở TN&MT.
Một số giải pháp trước mắt và lâu dài
Để giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường các KCN - KCX
tại TP Hồ Chí Minh, đề nghị UBND TP cần chỉ đạo triển khai ngay một số biện pháp cụ
thể sau:
Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BVMT và tài nguyên
nước cho các tổ chức cá nhân để nâng cao nhận thức cộng đồng và ý thức tự giác tuân thủ
pháp luật về BVMT, khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên nước.
Thứ hai, đẩy mạnh công tác quản lý cấp giấy phép xả nước thải vào nguồn nước, tăng
cường nghiệp vụ, năng lực để có thể thực hiện nhanh chóng việc xác nhận cam kết
BVMT của UBND cấp quận/huyện theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2005.
Thứ ba, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật
về BVMT và tài nguyên nước; tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác môi
cả nước học tập.