Tư tưởng đạo đức của n machiavelli trong tác phẩm quân vương - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TRIẾT HỌC
-----------------------

LÊ THỊ DIỆU NGỌC

TƢ TƢỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA N.MACHIAVELLI
TRONG TÁC PHẨM QUÂN VƢƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: QH 2016 – X

HÀ NỘI – 2020


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TRIẾT HỌC
-----------------------

LÊ THỊ DIỆU NGỌC

TƢ TƢỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA N.MACHIAVELLI
TRONG TÁC PHẨM QUÂN VƢƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy

2.1. Mối quan hệ chính trị và đạo đức ...................................................... 30
2.2. Cái nhìn của N.Machiavelli về bản tính con ngƣời ........................... 40
2.3. Bản tính ngƣời thể hiện trong phẩm chất quân vƣơng ...................... 44
2.4. Thời cơ và vận mệnh.......................................................................... 53
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: ....................................................... 60


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử là một dòng chảy không ngừng từ quá khứ đến tƣơng lai. Trong
dòng chảy đó thời kì Phục hƣng có vị trí vô cùng độc đáo, đặt nền móng cho
một nền văn minh phát triển rực rỡ sau này. Thời kì Trung cổ con ngƣời bị kìm
kẹp, thân phận con ngƣời đã quá nhỏ bé, con ngƣời phải đeo gông cùm của thần
quyền và thế quyền, một xã hội luôn nhuốm màu u ám. Chủ nghĩa nhân văn thời
kì Phục hƣng nhƣ những tia sáng đầu tiên trong màn đêm u tối ấy, đƣa con
ngƣời dần thoát khỏi sự kìm kẹp hàng ngàn năm, mở ra một thời kì phát triển
rực rỡ về mọi mặt. Ăngghen đã nhận xét thời kì Phục hƣng: “Đó là một cuộc
đảo lộn tiến bộ nhất mà từ xƣa tới nay, nhân loại đã trải qua, đó là một thời đại
cần có những con ngƣời khủng lồ và đã sinh ra những con ngƣời khủng lồ:
khổng lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình tính cách, khổng lồ về mặt có lắm
tài, lắm nghề và về mặt học thức sâu rộng” [9; tr.459- 460].
Niccolò Machiavelli (1469 - 1527) cũng đƣợc xem nhƣ một ngƣời
“khổng lồ” của thời kì này. N.Machiavelli là một nhà tƣ tƣởng lỗi lạc của Italia
thời kì Phục hƣng, một ngƣời đƣợc coi là “ông tổ” của chính trị học hiện đại.
N.Machiavelli sống trong một thời kì có nhiều biến động, một thời kì mà mọi
mặt trong đời sống từ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tƣ tƣởng,… đều có sự
thay đổi to lớn. Thời kì Trung cổ đang trên đà sụp đổ để nhƣờng chỗ cho thời kì
Phục hƣng, chủ nghĩa tƣ bản xuất hiện và ngày càng lớn mạnh cùng với đó là
chế độ phong kiến đang trên đà tiêu vong, các phát kiến địa lí, những phát minh

lĩnh vực, trong đó có cả văn hóa, chính trị, đạo đức. Vì vậy việc nghiên cứu, tìm
hiểu tử tƣởng đạo đức của N.Machiavelli trong tác phẩm Quân vƣơng là hoàn
toàn cần thiết. Qua việc nghiên cứu tác phẩm chúng ta có thể nâng cao năng lực
tƣ duy chính trị, nhận diện các sự kiện chính trị, hiểu rõ hơn về bối cảnh xã hội
châu Âu những năm đầu thời kì Phục hƣng, điều đó có ích trong quá trình hội
nhập của nƣớc ta. Trong qua trình hội nhập với thế giới, chúng ta cũng phải đối
2


mặt với không ít nguy cơ, nhƣ hiện tƣợng một số ngƣời đánh mất bản thân,
chạy theo các giá trị vật chất, bội tín, ích kỉ, hay sự xuống cấp của các giá trị
đạo đức truyền thống. Để khắc phục tình trạng này chúng ta cần nghiên cứu và
khảo sát các tƣ tƣởng triết học về đạo đức, về con ngƣời đặc biệt là tƣ tƣởng đạo
đức của N.Machiavelli để tìm ra nguyên nhân của sự tha hóa và các giải pháp
khắc phục. Machiavelli còn cho chúng ta thấy rõ con ngƣời không chỉ tha hóa
trong lĩnh vực kinh tế mà còn tha hóa trong lĩnh vực chính trị - lĩnh vực thể hiện
rõ bản chất của con ngƣời. Một đóng góp quan trọng khác của N.Machiavelli
trong quan niệm về con ngƣời là sự định hƣớng vào chủ thể chính trị. Theo đó,
an nguy của quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào phẩm chất của quân vƣơng, của
thủ lĩnh chính trị.
Không phải ngẫu nhiên mà Quân vƣơng đƣợc liệt vào hàng một trong
những cuốn sách kinh điển hay về chính trị. Cho đến tận ngày nay tác phẩm vẫn
duy trì đƣợc tính thực tế và khả năng dự báo về những gì cần có để trở thành
một quân vƣơng, một ngƣời lãnh đạo. Trong quan niệm của Machiavelli, đã là
một quân vƣơng thì không thể bị cản trở bởi những luân lí, những giá trị đạo
đức. Rousseau đã nói về Machiavelli: “Dƣờng nhƣ đây là các bài học dành cho
các vị vua chúa, nhƣng thực ra ông đang dạy những bài học vĩ đại cho nhân
dân”.
Xuất phát từ những lý do trên em chọn Tƣ tƣởng dạo đức của Niccolò
Machiavelli trong tác phẩm “Quân vƣơng làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cử

Bismark cũng đã là một đệ tử trung thành của N.Machiavelli. Gần đây hơn nữa,
cứ theo nhƣ chính lời của Hitler thì Ông hoàng là nguồn cảm hứng thƣờng
xuyên của ông ta lúc nghỉ ngơi. Về phần Benito Mussolini, ông đã từng tuyên
bố: Tôi tin rằng cuốn Ông hoàng của N.Machiavelli phải là sách chỉ nam tuyệt
tác của nhà chính khách. Học thuyết của tác giả ngày nay vẫn hợp thời vì trong
vòng bốn trăm năm vẫn không có những gì thay đổi sâu xa trong trí não ngƣời
ta hay là trong những hoạt động của các quốc gia” [ 2; tr. 23].

4


Có thời gian tiếng tăm của Machiavelli bị gắn với sự độc ác, xấu xa, là
một chính khách đầy mƣu mô, thủ đoạn, giả đạo đức,… đến thế kỉ XIX tiếng
tăm của Machiavelli mới đƣợc bênh vực và biện minh phần nào. Ngày nay
Machiavelli đƣợc xem nhƣ là “ông tổ” của chính trị học hiện đại, một nhà bình
luận xuất sắc về tâm lí học và nghệ thuật của ngƣời lãnh đạo và tác phẩm “Quân
vƣơng” chính là tác phẩm đặt nền móng.
Ở Việt Nam thân thế, sự nghiệp của Niccolò Machiavelli cũng đƣợc
nhiều ngƣời quan tâm, xuất hiện những công trình nghiên cứu về Machiavelli
tuy còn nhiều hạn chế. Một số tác phẩm của Machiavelli cũng đƣợc dịch sang
tiếng Việt với nhiều bản dịch khác nhau. Đặc biệt là tác phẩm Quân vƣơng đã
đƣợc nhiều ngƣời dịch và tái bản nhiều lần. Các bản dịch của Vũ Mạnh Hồng,
Nguyễn Hiền Chi hay bản dịch của Đặng Thƣ đã cho ta thấy đƣợc khái quát
nhất về Machiavelli và toàn bộ nội dung của tác phẩm Quân vƣơng. Trong tác
phẩm Quân vƣơng Machiavelli đƣa ra những tƣ tƣởng chính trị, đạo đức, tƣ
tƣởng về con ngƣời hết sức độc đáo, khác biệt với những tƣ tƣởng trƣớc đó.
Cuốn Những luận thuyết nổi tiếng thế giới (Nxb văn hóa thông tin. Tp Hồ
Chí Minh 1999) của Vũ Đình Phòng và Lê Huy Hòa đã bƣớc đầu giới thiệu khái
quát về thân thế, sự nghiệp và tác phẩm Quân vƣơng của Machiavelli. Ngoài ra
tác phẩm còn nói đến một số biến cố của Italia giai đoạn này.

từ những trang đầu tiên, và nhận định tác phẩm chứa đựng những bài học cho
muôn đời. Tác phẩm đã chỉ ra và phân tích khái quát nhất những tƣ tƣởng đạo
đức, chính trị,… mà Machiavelli nhắc đến trong tác phẩm Quân vƣơng.
Nhìn chung những nghiên cứu về N.Machiavelli không nhiều, nhƣng các
nghiên cứu đều có đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu tử tƣởng của
Machiavelli trong đó có cả tử tƣởng về đạo đức của ông. Tuy nhiên chƣa có
cuốn sách nào lấy Machiavelli cũng nhƣ những tƣ tƣởng và tác phẩm của ông
làm nghiên cứu chủ đạo. Trƣớc tình hình đó, khóa luận mong muốn đem đến cái
nhìn sáng tỏ tƣ tƣởng đạo đức của Machiavelli trong tác phẩm Quân vƣơng.

6


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Phân tích, làm rõ tƣ tƣởng đạo đức của Machiavelli trong tác
phẩm Quân vƣơng.
Nhiệm vụ:
- Phân tích điều kiện kinh tế, xã hội và tiền đề tƣ tƣởng – lý luận cho sự
ra đời của tƣ tƣởng đạo đức của Niccolò Machiavelli và sự ra đời của tác phẩm
Quân vƣơng.
- Trình bày khái quát những nội dung cơ bản của tác phẩm Quân vƣơng
- Phân tích, làm rõ những tƣ tƣởng đạo đức mà Machiavelli thể hiện trong
tác phẩm Quân vƣơng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Tƣ tƣởng đạo đức của Niccolò Machiavelli
Phạm vi nghiên cứu: Chủ yếu nghiên cứu tƣ tƣởng đạo đức của
N.Machiavelli thông qua tác phẩm “Quân vƣơng”.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Dựa trên các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, học thuyết đạo đức Mác - Lênin.

hình thành trong lòng phƣơng thức sản xuất phong kiến, mầm mống của quan
hệ sản xuất tƣ bản dần dần đƣợc hình thành. Sự phân công lao động giữa các
ngành nghề, các vùng sản xuất đã hình thành nên nền kinh tế hàng hóa, giai cấp
tƣ sản bắt đầu xuất hiện. Quan hệ sản xuất tƣ bản phát triển nhanh chóng và trở
nên lớn mạnh hơn, các nhà tƣ sản, các nhà tƣ tƣởng không còn chịu sự áp đặt,
các giáo lí lỗi thời của nhà thờ, họ tìm cách thoát khỏi sự kìm kẹp của giáo hội
và nhà thờ. Tuy nhiên do lực lƣợng còn mỏng, giai cấp tƣ sản chƣa thể lật đổ
đƣợc nhà thờ, vì vậy họ tìm đến một cách khác, đó là làm một cuộc cách mạng
trên lĩnh vực văn hóa, tƣ tƣởng.
Các nhà tƣ tƣởng của giai cấp tƣ sản vận động khôi phục lại sự huy hoàng
của văn hóa Tây Âu thời cổ đại. Họ nhìn thấy ở trong nền văn hóa thời cổ đại có
nhiều yếu tố phù hợp với tình hình hiện nay, có thể giúp ích đƣợc họ, có thể
chống lại giáo hội và nhà thờ và hơn hết có thể làm cho giáo hội và nhà thời
không có lí do để buộc tội họ.
Phong trào văn hóa Phục hƣng xuất hiện đầu tiên ở Italia. Ngƣời Italia gọi
phong trào này là “Renascita”. Italia là trung tâm của đế quốc Roma thời cổ đại
vì vậy ở đây còn giữa lại nhiều di tích của nền văn hóa Hy Lạp – Roma. Từ
9


Italia phong trào nhanh chóng lan ra khắp các nƣớc ở Tây Âu nhƣ Anh, Pháp,
Tây Ban Nha và lan khắp cả Châu Âu. Các nhà văn hóa phục hƣng mong muốn
khôi phục lại nền văn hóa rực rỡ từ thời cổ đại Hy lạp – La Mã, với một lí do
chính đáng là khôi phục lại những điều mà Chúa cho phép, điều này làm cho
giáo hội và nhà thờ không thể phản đối phong trào Phục hƣng. Qua việc khôi
phục nền văn hóa cổ đại các nhà văn hóa thời kì này còn muốn nhà thờ thay đổi
cách nhìn về thế giới và con ngƣời.
Các nhà văn hóa Phục hƣng chú ý nhiều vào việc khôi phục lại truyền
thống đề cao con ngƣời của thời Hy Lạp cổ đại vốn từ thời Protago đã coi “Con
ngƣời là thƣớc đo của muôn loài”. Và khôi phục sự tự do của con ngƣời so với

những cuộc nổi dậy của nông dân nhằm chống lại địa chủ phong kiến diễn ra
khắp Châu Âu và giai cấp tƣ sản trở thành đồng minh của họ. “Ngƣời ta không
chỉ đòi xóa bỏ đặc quyền đặc lợi của giai cấp phong kiến, những chƣớng ngại
trên con đƣờng phát triển theo xu hƣớng tƣ bản chủ nghĩa và còn chĩa mũi nhọn
vào giáo hội La Mã, thành lũy tinh thần của chế độ phong kiến” [4; tr. 236].
Giai đoạn này cũng xuất hiện nhiều trƣờng đại học nhƣ đại học Tuludo,
Oxford, Cambridge, Palecmo,… chúng trở thành những nơi học tập, nghiên
cứu, trung tâm văn hóa, khoa học, dần thay thế cho các trƣờng học của giáo hội,
làm giảm ảnh hƣởng của giáo hội đối với nhân dân. Các trƣờng học có xu thế
hoạt động độc lập nhằm thoát khỏi sự kìm kẹp của giáo hội.
Ở Tây Âu giai đoạn này ngƣời nông dân rời bỏ quê hƣơng đến các thành
thị làm thuê rất đông đảo, vì thế hình thành rất nhiều các thành thị. Có ba loại
thành thị: “Thành thị mới: thành thị của những ngƣời thủ công thoát ly khỏi
nông thôn lập nên. Thành thị cổ: thành thị có từ thời cổ đại đƣợc phục hồi lại.
Thành thị do lãnh chúa quý tộc phong kiến xây dựng cho thị dân thuê” [13;
tr.94].
Thế kỉ XV đánh đánh dấu sự chuyển biến to lớn của xã hội châu Âu. Do
kinh tế tƣ bản không những phát triển, sự đòi hỏi của thực tiễn sản xuất vật chất,

11


các ngành khoa học tự nhiên bắt đầu phát triển. Các thành tựu to lớn của khoa
học kĩ thuật trên mọi lĩnh vực nhƣ sử dụng năng lƣợng nƣớc, các ngành dệt,
luyện kim, chế tạo vũ khí,… có sự phát triển vƣợt bậc. Sự phân công lao động
đƣợc đẩy mạnh, các công xƣởng thủ công không ngừng đƣợc mở rộng.
Quan hệ sản xuất tƣ bản đƣợc hình thành và phát trển không ngừng. Giai
cấp tƣ sản không ngừng lớn mạnh và khẳng định vai trò, sức mạnh của mình
trong xã hội phong kiến. Nhƣng trong giai đoạn này, quan hệ sản xuất phong
kiến vẫn còn tồn tại, quan hệ sản xuất tƣ bản chƣa đƣợc củng cố vững chắc. Vì

phổ biến của giáo hội không còn tuyệt đối nhƣ trƣớc. Ngoài những phát minh về
khoa học kĩ thuật làm thay đổi phƣơng thức sản xuất còn có các khám phá khoa
học làm đảo lộn mọi nhận thức trƣớc đó của con ngƣời, lung lay nền chuyên
chính của nhà thờ. Các vấn đề khoa học nhƣ Galileo khẳng định trái đất hình
tròn. Ông nói trái đất cũng nhƣ mọi hành tinh khác mà thôi, nó không phải là
trung tâm của cả vũ trụ này, nó chỉ là trung tâm của các lực lƣợng mà nó chi
phối. Các quan điểm của các nhà triết học nhƣ của Leonardo da Vinci, Bruno,
Nicolo Machiavelli, Dante… đã đƣa ra những quan điểm khác biệt so với các
quan điểm trƣớc đó. Những quan điểm mới này đã đánh một đòn mạnh vào sự
chuyên chính tinh thần của nhà thờ Trung cổ. Phục hƣng có thể xem là thời kì
con ngƣời tìm lại chính mình, con ngƣời không bị lệ thuộc vào Chúa, con ngƣời
trở về chính mình, trở về với chính thế giới thực tại.
1.2. Tiền đề lý luận cho sự ra đời tƣ tƣởng của Machiavelli
Thời kì Phục hƣng chịu ảnh hƣởng sâu sắc của nền văn hóa Hy Lạp cổ
đạị. “Từ thế kỷ XIII trở đi, nhờ sự tiến bộ của kỹ thuật, sự phát triển của phƣơng
tiện giao thông, sự trao đổi về sách cũ, sách mới bên cạnh nền học thuật chính
thức, bên cạnh kinh viện học, ngƣời ta đã thấy nảy nở một nguồn tƣ tƣởng lành
mạnh, bạo dạn. Kho tàng tƣ tƣởng Hy Lạp, khoa học Ả Rập kích thích tinh thần
học hỏi với ngƣời xƣa, với ngoại quốc. Đi đôi với những cuộc thám hiểm,
những đạo quân viễn chinh, với sự phát triển công nghệ và thƣơng mại, là
những cuộc phát kiến về văn hóa, về khoa học, về phong tục của xã hội Đông

13


Âu và Tiểu Á” [8; tr.20 – 21]. Con ngƣời thời Phục hƣng có cơ hội tiếp xúc lại
với nền văn minh cổ đại dƣới mọi hình thức nhƣ triết học, nghệ thuật, văn
chƣơng,… những điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đời sống
tinh thần con ngƣời của giai đoạn Phục hƣng.
Vì vậy, ngay từ thời còn trẻ N.Machiavelli đã dành nhiều quan tâm đến

sự công bằng là tri thức giúp con ngƣời biết tuân thủ luật pháp đó” [14; tr.50].
Socrates coi điều tốt (phúc lợi) là thỏa mãn, hài lòng, coi cái ác là đau
khổ. Tất cả mọi ngƣời đều hƣớng đến điều tốt, đến hạnh phúc, tránh cái xấu.
Tuy nhiên con ngƣời lại mắc sai lầm khi tìm đến hạnh phúc, và con ngƣời
không biết rõ thế nào là hài lòng thực sự. Vì thế con ngƣời cần đến tri thức, cần
tri thức dẫn đƣờng đến hạnh phúc. Socrates đặc biệt đề cao tri thức và coi tri
thức là nền tảng của đức hạnh. Khi con ngƣời có tri thức thì họ sẽ biết hƣớng
đến cái thiện và tránh điều ác. Mọi cái ác, hành vi vô đạo đức đều là do sự kém
hiểu biết, do sự dốt nát. Vì vậy con đƣờng đi đến tri thức cũng là con đƣờng
hoàn thiện nhân cách đạo đức của con ngƣời. Tuy nhiên con ngƣời tự tìm kiếm
tri thức của riêng mình vì vậy họ có đủ sức chống lại những ý kiến của ngƣời
khác. Socrates kiên quyết bảo vệ tính độc lập của mỗi cá nhân trƣớc những đánh
giá của xã hội.
Socrates ủng hộ ngƣời cầm quyền là những ngƣời có tri thức chứ không
phải là quý tộc hay những kẻ giàu có. Ông cho rằng nhà nƣớc và luật pháp đứng
trên nhất vì vậy mọi ngƣời đều phải tuân thủ luật pháp mà mỗi quốc gia đã ban
hành.
1.2.2. Platon
Platon (427 - 347 TCN) xuất thân từ tầng lớp quý tộc ở Athen. Ông cho
rằng nhà nƣớc phát sinh từ những nhu cầu của con ngƣời. “Trong cuộc sống,
con ngƣời luôn tồn tại các nhu cầu cơ bản là lƣơng thực, quần áo và chỗ ở.
Không một cá nhân nào có thể tự một mình thỏa mãn đƣợc tất cả những nhu cầu

15


ấy, vì vậy nhà nƣớc đầu tiên sẽ gồm nhiều cá nhân kết hợp với nhau để giúp
nhau đáp ứng các nhu cầu này. Nhƣ vậy, Platon là một trong những nhà triết
học đầu tiên đƣa ra quan điểm về nguồn gốc tự nhiên của nhà nƣớc. Platon phê
phán gay gắt nền dân chủ Athens, và thể hiện rõ ra tƣ tƣởng duy lý hóa nhà

1.2.3. Aristotle
Aristotle (384 - 322 TCN) là nhà triết học vĩ đại ngƣời Hy Lạp. Cũng nhƣ
một số nhà triết học khác, ông chủ trƣơng cai trị nhà nƣớc bằng pháp luật. Ông
cho rằng nhà nƣớc là một tạo vật của tự nhiên và trong con ngƣời luôn có bản
tính chính trị. Ông cho rằng đạo đức là một biến thể của chính trị.
Aistotle xem xét cái thiện trên nhiều phƣơng diện khác nhau. Theo ông
cái thiện tồn tại trong phong tục, kinh nghiệm cuộc sống hàng ngày của con
ngƣời. Theo ông cái thiện đạt đƣợc vì lợi ích tự thân chứ không phải vì lợi ích
của bất cứ ai. Con ngƣời có đầy đủ giàu có, danh dự xã hội, nhiều bạn,… đều
thúc đẩy con ngƣời ta đến thực hiện hành vi tốt, đến cái thiện.
Mục đích mà con ngƣời hƣớng đến chính là hạnh phúc, con ngƣời hƣớng
đến hạnh phúc theo con đƣờng và phƣơng tiện khác nhau, cho dù họ có ý thức
đƣợc điều đó hay không. Hạnh phúc là một khả năng dựa trên những phẩm chất
đạo đức, nó bắt đầu bằng sự lựa chọn có mục đích của con ngƣời. Hạnh phúc
theo ông, là không phải đầy đủ các đức tính mà là có cuộc sống đầy đủ. Hạnh
phúc có tính phổ quát, nó không giống nhau ở mỗi cá nhân, có ngƣời hạnh phúc
trong khoái lạc, hƣởng thụ, có ngƣời hạnh phúc trong danh vọng, đại vị.
Aistotle xây dựng nên quan điểm về sự trung bình mẫu mực trong đạo
đức học. Quan điểm này của ông xuất hát từ quan niệm độ nhƣ một thứ cốt cách
thẫm đẫm tinh thần Hy Lạp. Bởi thế trong các học thuyết của mình, đặc biệt
trong đạo đức học và chính trị học, Arixtotle cho rằng trong một tập thể cái tốt
nhất luôn là cái trung bình cộng, không thái quá mà cũng không bất cập. Ông
khẳng định “Ta phải công nhận rằng sự trung dung và trung bình là điều tốt

17


nhất, và nhƣ vậy. Rõ ràng có đƣợc vận may vừa phải là điều tốt nhất” [1;
tr.236].
Ông cho rằng chế độ nô lệ là dĩ nhiên, vì một số ngƣời đã đƣợc định

quan trọng của chủ nghĩa nhân văn là hƣớng đến thực tiễn. “Điều này không có
nghĩa là các nhà nhân văn không xây dựng hay không cố gắng xây dựng các lý
thuyết. Điều này có nghĩa lý luận đối với họ không phải là mục đích tự thân.
Khác với triết học trung cổ, trong đó tính hoàn hảo của hệ thống lý luận là một
yếu tố quan trọng tự thân nó, lý luận trong chủ nghĩa nhân văn cần phải phục vụ
công khai và phục vụ ngay các lợi ích của cuộc sống thực tiễn” [6; tr.547]. Con
ngƣời cần phải sống một cuộc sống hiện thực ở trần thế chứ không phải mong
chờ về một cuộc sống bên kia thiên đàng.
Chủ nghĩa nhân văn Phục Hƣng có ảnh hƣởng rất lớn đến các tƣ tƣởng
đạo đức của Machiavelli. Chính tên gọi Phực Hƣng đã liên quan đến sự phục
hồi lại các tri thức thời kì cổ đại mà vẫn còn đến giá trị của thời kì hiện nay.
Mọi tri thức là ở trần thế chứ không phải là nhƣng tri thức trên thiên đàng của
tôn giáo, kinh viện. “Đồng thời với việc xảy ra sự phục hồi tinh thần Thiên chúa
chân chính, suy xét lại truyền thống Thiên chúa, chống đối kịch liệt sự xa hoa
của giới tăng lữ và sự xuyên tạc học thuyết của Chúa Kitô bằng sự bù trừ, kêu
gọi sự Phục hƣng Thiên chúa giáo tông đồ khởi thủy” [8; tr.23].
Đặc điểm căn bản của thời đại Phục hƣng là đề cao con ngƣời, lấy con
ngƣời làm trung tâm của thế giới chứ không phải Chúa. Con ngƣời đƣợc đặt lên
hàng đầu, sau đó mới là quan tâm các vấn đề xung quanh con ngƣời. Các quan
niệm nhƣ thế giới do tự nhiên sinh ra chứ không phải do Chúa trời tạo nên, con
ngƣời không phải là một bộ phận của Chúa,… đƣợc truyền bá rộng rãi.
“Chủ nghĩa nhân văn, thứ nhất là ý thức tự do tƣ tƣởng và chủ nghĩa cá
nhân hoàn toàn thế tục đặc trƣng cho thời Phục hƣng. Thứ hai, đây không đơn
giản là tự do tƣ tƣởng thế tục mà còn là các phƣơng diện chính trị - xã hội, công
dân, giáo dục, sinh hoạt, đạo đức và các phƣơng diện thực tiễn khác của sự tự
19


do tƣ tƣởng này. Nhƣ vậy đặc điểm quan trọng của chủ nghĩa nhân văn là sự
hƣớng đến thực tiễn của nó. Điều này hoàn toàn không có nghĩa là các nhà nhân

tƣ tƣởng bảo vệ các quyền và nhân cách con ngƣời. Tƣ tƣởng từ bỏ hạnh phúc
trần gian của Thiên chúa giáo đối lập với niềm tin vào sức mạnh của lý trí và
kinh nghiệm, vào sức mạnh của con ngƣời. Sự thay đổi của đời sống kinh tế - xã
hội, sự chuyển biến đột ngột của các hoạt động chính trị đã làm rạn nứt và đổ vỡ
những hệ giá trị vốn có nền tảng trong hàng ngàn năm qua” [8; tr 27 – 28]. Sự
thống trị hàng ngàn năm của Giáo hội và chế độ phong kiến đang bị đe dọa. Hệ
giá trị của Thiên chúa giáo đã không còn phù hợp với xã hội, nó làm dấy lên sự
hoài nghi của con ngƣời, con ngƣời buộc phải suy ngẫm về mình. Thi sĩ
Giovanni Boccaccio đã diễn tả trạng thái tinh thần thời đại: “Chƣa bao giờ
ngƣời ta thấm thía đến thế về sự phù du và phi lý của kiếp ngƣời. Vậy chỉ còn
lại hai lối thoát: hoặc phải tận hƣởng cuộc sống ngắn ngủi nơi trần thế, hoặc
hiến mình cho những giá trị siêu thế gian. Nhƣ thế, bên cạnh nhu cầu tín
ngƣỡng, tôn giáo hƣớng đến cái vĩnh hằng, con ngƣời đột nhiên phát hiện ra
một cảm thức mới mẻ về cuộc đời, và tỏ ra nhạy cảm trƣớc nhu cầu nội tâm
hƣớng đến cái đẹp. Cái đẹp – thanh cao lẫn nhục cảm – rồi sẽ đƣợc khắc ghi
trong hoạt động nghệ thuật sáng tạo” [8; tr.28].
1.3. Cuộc đời và sự nghiệp của Nicolo Machiaveli
Niccolò Machiavelli là nhà văn, nhà sử học, nhà thơ thời đại Phục hƣng.
Ông sinh ngày 03 tháng 5 năm 1469, mất ngày 21 tháng 6 năm 1527 tại thành
phố Florence, Italia. Cha ông là một luật sƣ nhƣng do những món nợ không trả
đƣợc nên không đƣợc phép hành nghề nên gia đình ông trở nên túng thiếu. Ông
không học đại học, không biết tiếng Hy Lạp, nhƣng lại hiểu rất rõ về tiếng
Latinh đến mức có thể đọc đƣợc tiếng La Mã và cũng thông qua việc hiểu rõ
tiếng Latinh mà ông biết đến các tác giả Hy Lạp. Ông đọc và tìm hiểu rất kĩ các
tác giả La Mã, Hy Lạp.
Từ thời trẻ tuổi Machiavelli đã rất quan tâm đến sử thi của Lucretius
Carus và cũng chính sử thi này ảnh hƣởng rất nhiều đến quan điểm sau này của
21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status