BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…………/…………
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ ANH TRÂM
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Đắk Lắk, 2019
i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…………/…………
……/……
i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập tại lớp Cao học HC22.TN5 Phân viện Học
viện Hành chính Quốc gia khu vực Tây Nguyên và quá trình để có được công
trình nghiên cứu này, tôi luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình từ
nhiều tập thể, cá nhân. Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
TS. Hoàng Sỹ Kim – Giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia, người
thầy đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ dạy tận tình và đóng góp những ý kiến quý
báu giúp tôi hoàn thành luận văn này;
Ban lãnh đạo, cán bộ Khoa Đào tạo – Bồi dưỡng Phân viện Học viện
Hành chính Quốc gia khu vực Tây Nguyên; đặc biệt là Th.S Nguyễn Thị Nghị
– chủ nhiệm lớp Cao học HC22.TN5 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình học và nghiên cứu;
Quý thầy, cô giáo là giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia đã tận
tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức trong quá trình học tập;
Lãnh đạo UBND huyện Cư M’gar, Phòng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn huyện Cư M’gar; đặc biệt là ông Phạm Quang Mười – Trưởng
phòng NN&PTNT huyện, ông Hứa Chấn Trí – Phó Trưởng phòng
NN&PTNT huyện đã nhiệt tình hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số
liệu để nghiên cứu đề tài;
Gia đình, bạn bè và tập thể học viên lớp Cao học HC22.TN5 đã luôn
quan tâm, động viên, khích lệ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn.
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
3.3. Kiến nghị ...................................................................................... 94
KẾT LUẬN ............................................................................................... 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................... 101
PHỤ LỤC
iv
BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCĐ
Ban Chỉ đạo
BCH
Ban Chấp hành
CB
Cán bộ
CC
Công chức
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Nhà xuất bản
QLNN
Quản lý nhà nước
TW
Trung ương
UBND
Ủy ban nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
v
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông thôn là nơi sinh sống của một bộ phận dân cư chủ yếu làm việc
trong lĩnh vực nông nghiệp. Nước ta hiện nay vẫn là một nước nông nghiệp
với hơn 70% dân cư đang sống ở nông thôn. Vấn đề phát triển nông nghiệp,
nông dân, nông thôn luôn được Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng trong các
giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam đặc biệt trong thời kỳ CNH HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Sở dĩ có điều đó không chỉ bởi nông
dân là một lực lượng quan trọng của cách mạng và hiện còn đang chiếm tỷ lệ
Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước, hiện nay,
Chương trình xây dựng NTM đã và đang diễn ra sôi nổi ở khắp các địa
phương trên cả nước nói chung và trên địa bàn huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk
– một địa phương luôn nỗ lực trong xây dựng NTM nói riêng.
Cư M'gar là huyện có dân số đông với trên 174.000 nhân khẩu, trong
đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 46%. Mặc dù còn nhiều khó khăn,
song với sự quyết tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự chung tay của
người dân, sau hơn tám năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM,
Cư M'gar đã đạt được những kết quả tích cực trên nhiều lĩnh vực, đời sống vật
chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, diện mạo nông
thôn thay đổi rõ rệt.
Từ những nỗ lực, cố gắng đến nay toàn huyện đã có 9 xã trong tổng số
15 xã của huyện được công nhận đạt chuẩn NTM. Ngoài ra, có 3 xã đạt từ 1518 tiêu chí và 3 xã đạt chuẩn từ 12-14 tiêu chí. Huyện Cư M’gar đang phấn
đấu đến năm 2020 sẽ về đích huyện NTM.
Tuy nhiên, trong thực tiễn thực hiện chương trình vẫn tồn tại nhiều khó
khăn, hạn chế, làm ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành mục tiêu của chương
trình theo đúng lộ trình của tỉnh, huyện. Vấn đề này cần sớm được phân tích,
2
làm rõ và đưa ra các giải pháp phù hợp, hiệu quả nhằm hoàn thiện QLNN về
xây dựng NTM, đẩy mạnh thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM.
Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề như phân tích trên, tôi lựa chọn
“Quản lý nhà nước về xây dựng NTM trên địa bàn huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk
Lắk” làm đề tài luận văn của mình. Đề tài này tập trung nghiên cứu, đánh giá
thực trạng, đề xuất các giải pháp và kiến nghị để hoàn thiện công tác QLNN
về xây dựng NTM, góp phần thúc đẩy thực hiện có hiệu quả Chương trình
MTQG xây dựng NTM trên địa bàn huyện Cư M’gar nói riêng và ở các huyện
tại tỉnh Đắk Lắk nói chung trong giai đoạn sắp tới.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
nghiệp, xã hội nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân ở Tây Nguyên.
Cuốn sách “Xây dựng NTM những vấn đề lý luận và thực tiễn” do Vũ
Văn Phúc làm chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2013.
Sách gồm các bài viết của các nhà khoa học, lãnh đạo các cơ quan trung
ương, các địa phương, các ngành, các cấp về vấn đề xây dựng NTM.
Tác phẩm đã tổng hợp được những vấn đề lý luận chung và kinh
nghiệm quốc tế về xây dựng NTM. Các bài viết bàn đến những khía cạnh đa
dạng của việc xây dựng NTM: vấn đề quy hoạch và huy động các nguồn vốn,
an sinh xã hội, thực trạng về phụ nữ nông dân, nông thôn, chính sách đất đai,
bảo vệ môi trường đất đai, hiện đại hóa và các giá trị của gia đình nông thôn
Việt Nam. Đặc biệt, nhiều bài viết tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của một
số nước trên thế giới như: Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan
về vấn đề này. Từ đó giúp Việt Nam có cách nhìn đa chiều để nghiên cứu, áp
dụng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước.
Song song, cuốn sách phân tích khá toàn diện thực tiễn xây dựng NTM
ở Việt Nam. Tổng hợp nhiều bài viết mang tính thực tiễn về xây dựng NTM
4
tại 11 tỉnh được lựa chọn để triển khai thí điểm chương trình MTQG về NTM
trên phạm vi cả nước gồm Lào Cai, Nghệ An, Phú Thọ, Ninh Bình, Thái
Nguyên, Bắc Ninh, Lai Châu, Bắc Giang, Nam Định, Thái Bình, Vĩnh Phúc.
Trên cơ sở đó để đề xuất các giải pháp cụ thể về: công tác tuyên truyền, tổ
chức sản xuất, phát triển kinh tế nông thôn, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
và vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng NTM
Cuốn sách "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng
trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011 - 2020" do tác giả Nguyễn Thị Tố Quyên
chủ biên và Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2011 đã đề cấp đến vấn đề
nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam trước những bối cảnh, cơ hội và
thách thức trong mô hình tăng trưởng kinh tế. Trong đó, lý thuyết về nông
NTM, QLNN về xây dựng NTM và tình hình thực tiễn công tác QLNN về
xây dựng NTM trên địa bàn huyện Cư M’Gar, tỉnh Đắk Lắk trong hơn 8 năm
qua. Từ đó, đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện công tác
QLNN về xây dựng NTM trên địa bàn huyện những năm tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về xây dựng NTM, QLNN về xây dựng
NTM: làm rõ khái niệm, sự cần thiết xây dựng NTM; vai trò, nội dung QLNN
về xây dựng NTM;
Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về xây dựng NTM trên địa bàn
huyện Cư M’Gar tỉnh Đắk Lắk; làm rõ những kết quả đạt được, những hạn
chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm;
Xác định mục tiêu, phương hướng và các giải pháp có tính khả thi
nhằm góp phần nâng cao hiệu quả QLNN về xây dựng NTM trên địa bàn
huyện Cư M’Gar.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
6
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác QLNN về xây dựng NTM
trên địa bàn huyện Cư M’Gar, tỉnh Đắk Lắk.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: trên địa bàn huyện Cư M’Gar, tỉnh Đắk Lắk.
Về thời gian: từ năm 2011 đến năm 2018 và định hướng, đưa ra các giải
pháp đến năm 2020.
Về nội dung:
- Đặc điểm cơ bản của huyện Cư M’Gar (sau đây gọi tắt là huyện);
- Thực trạng QLNN về xây dựng NTM của huyện;
- Những thuận lợi và khó khăn trong việc QLNN về xây dựng NTM
trên địa bàn huyện;
6.1. Về ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận QLNN về xây dựng
NTM.
6.2. Về ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn làm rõ được thực trạng QLNN về xây dựng NTM trên địa
bàn huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk;
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác
QLNN về xây dựng NTM trên địa bàn huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk;
- Làm tài liệu tham khảo cho học tập, nghiên cứu và hoạt động thực
tiễn trong lĩnh vực QLNN về xây dựng NTM và các ngành liên quan.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn
mới;
8
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
trên địa bàn huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về
xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk
9
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
quán cổ truyền ở nông thôn rất là phong phú thể hiện rõ lối sống và cách sống
riêng của người dân nông thôn so với đô thị.
Từ đó, có thể hiểu nông thôn là khu vực không gian lãnh thổ mà ở đó
cộng đồng cư dân có cách sống và lối sống riêng, lấy sản xuất nông nghiệp
làm hoạt động kinh tế chủ yếu và sống chủ yếu dựa vào nghề nông (nông,
lâm, ngư nghiệp); có mật độ dân cư thấp và quần cư theo hình thức làng xã;
có cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội kém phát triển, trình độ về dân trí, trình độ
khoa học kỹ thuật cũng như tư duy sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường là
thấp kém hơn so với đô thị; có những mối quan hệ bền chặt giữa các cư dân
dựa trên bản sắc văn hóa, phong tục tập quán cổ truyền về tín ngưỡng, tôn
giáo [28; tr.6].
Dưới góc độ khoa học quản lý nhà nước, khái niệm nông thôn có thể
được hiểu theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính
phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn thì
“Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị
xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã”. Như vậy,
nông thôn là địa bàn sinh sống chủ yếu của người nông dân gắn với hoạt động
sản xuất nông nghiệp là chính và được quản lý bởi chính quyền cấp xã.
1.1.2. Nông thôn mới
Nông thôn mới có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng đa số đều khá
thống nhất khi khẳng định NTM phải có kinh tế phát triển, đời sống vật chất,
tinh thần của nhân dân được nâng cao, dân trí cao, bản sắc văn hóa dân tộc
được giữ gìn, tái tạo.
Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung
ương Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã xác định: NTM là khu
vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu
11
kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; gắn nông nghiệp với phát
nhưng cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vấn đề quản lý theo khoa học
mới xuất hiện. Do quản lý gắn liền với quá trình kinh tế - xã hội nên trên thực
tế có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý. Những quan điểm này có lịch sử
ra đời khác nhau và gắn với mỗi tổ chức hoạt động trong một lĩnh vực, thậm
chí với mỗi quá trình trong từng tổ chức.
Theo Fredrich Winslow Taylor với cuốn sách “Các nguyên tắc quản lý
theo khoa học” thì, quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người
khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách
tốt nhất và rẻ nhất.
Henry Fayol định nghĩa quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các
khâu: lập kế hoạch, tổ chức, phân công, điều khiển và kiểm soát các nỗ lực
của cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả nguồn lực vật chất khác của tổ
chức để đạt được mục tiêu đề ra.
Mary Parker Follett cho rằng: Quản lý là nghệ thuật đạt được mục tiêu
thông qua con người.
Có quan điểm cho rằng quản lý là hoạt động phối hợp các hoạt động
chung của đoàn thể hợp tác.
Cũng có quan điểm cho rằng quản lý là điều khiển con người và sự vật
nhằm đạt được mục tiêu đã định trước.
Từ những điểm chung của các định nghĩa trên, có thể hiểu khái niệm
tổng hợp về quản lý như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định
hướng của chủ thể lên các khách thể nhằm đạt được mục tiêu định trước [16;
tr.13].
13
1.1.5. Quản lý nhà nước
Trong hệ thống các chủ thể quản lý xã hội, Nhà nước là chủ thể duy
nhất quản lý xã hội toàn dân, toàn diện bằng pháp luật. Thuật ngữ “Quản lý
trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị vững mạnh và được tăng
cường; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người
dân ngày càng được nâng cao theo định hướng XHCN [17, tr 57].
1.2.
Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
1.2.1. Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới
Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới, chủ trương, chính sách phát
triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước ta đã có những thay đổi
căn bản. Những nội dung trong chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn
đã bắt đầu tạo ra những yếu tố mới trong phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Bên cạnh đó, Nhà nước đã phối hợp với các tổ chức quốc tế, các tổ chức xã
hội trong nước để xoá đói giảm nghèo, cải thiện môi trường thiên nhiên và
môi trường xã hội ở nông thôn. Các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà
nước ta đã và đang đưa nền nông nghiệp tự túc tự cấp sang nền nông nghịêp
hàng hoá.
Những thành tựu đạt được trong phát triển nông nghiệp, nông thôn thời
kỳ đổi mới là rất to lớn, tuy nhiên, nông nghiệp và nông thôn nước ta vẫn tiềm
ẩn những mâu thuẫn, thách thức và bộc lộ những hạn chế không nhỏ như:
Thứ nhất, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch và tự phát. Hiện nay
nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, tự phát, nhiều xã tuy đã có quy hoạch
nhưng thiếu đồng bộ, tầm nhìn ngắn chất lượng chưa cao. Cơ chế quản lý phát
triển theo quy hoạch còn yếu. Xây dựng tự phát, kiến trúc cảnh quan làng quê
bị pha tạp, lộn xộn, nhiều nét đẹp văn hoá truyền thống dần bị mai một. Sản
xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn chế, chưa gắn
15
hội có xu hướng gia tăng. Hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển, môi trường
sống đang bị ô nhiễm. Mặt khác, số trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia thấp, vai
trò y tế dự phòng của trạm y tế còn hạn chế.
Thứ năm, do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất
nước, cần ba yếu tố chính: đất đai, vốn và lao động kỹ thuật. Qua việc xây
dựng NTM sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng
yêu cầu phát triển của đất nước.
Xây dựng NTM là chính sách về một mô hình phát triển cả nông
nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực,
vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan
hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối
mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý chí. Vì vậy, một
trong những nhiệm vụ trong giai đoạn này chính là xây dựng NTM đáp ứng
yêu cầu CNH – HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế.
1.2.2. Vai trò của quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
Xây dựng NTM là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước gắn liền
với quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội . Là quá trình biến đổi toàn diện về kinh
tế, xã hội nông thôn cả về cơ cấu kinh tế nông nghiệp, cơ cấu kinh tế nông
thôn, xây dựng nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại, cơ cấu
kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát
triển nhanh công nghiệp dịch vụ , đô thị theo quy hoạch, xã hội nông thôn ổn
định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc , dân trí được nâng cao, môi trường sinh
thái được bảo vệ , hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng
được tăng cường.
Xây dựng NTM là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của cả toàn
dân. Trong đó, vai trò của QLNN về xây dựng NTM có vị trí đặc biệt quan
17