(Luận văn thạc sĩ) nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán nội bộ tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

TRẦN VĂN TÙNG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN
NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH VÀ NGÂN HÀNG

Hà Nội – 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

TRẦN VĂN TÙNG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN
NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

Chuyên ngành

: Tài chính và Ngân hàng

Mã số


1.1.1 Khái niê ̣m về ngân hàng thương ma ̣i
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương ma ̣i
1.2
Hoạt động kiểm toán nội bộ trong ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm, mục đích và sự cần thiết của kiểm toán nội bộ trong

6
6
7
8
8

ngân hàng thương ma ̣i
1.2.2 Phạm vi kiểm toán nội bộ

12

1.2.3 Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ

13

1.2.4 Nhiệm vụ quyền hạn của bộ phận kiểm toán nội bộ

17

1.2.5 Tiêu chuẩn đối với người làm kiểm toán nội bộ

20

1.2.6 Nội dung hoạt động của kiểm toán nội bộ


2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng TMCP Công

35

2.1

thương Việt Nam
2.1.2 Hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP Công thương Việt
Nam

39


2.2

Hoạt động kiểm toán nội bộ tại ngân hàng TMCP Cơng thương

43

Việt Nam
2.2.1 Mơ hình tổ chức và quy chế hoạt động

43

2.2.2 Nội dung hoạt động kiểm toán nội bộ tại ngân hàng TMCP

50

Công thương Việt Nam

Việt Nam
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG HOẠT

72

ĐỘNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG
THƢƠNG VIỆT NAM
3.1

Định hướng phát triển của bộ máy kiểm toán nội bộ ngân hàng

72

TMCP Công thương Việt Nam
3.1.1 Định hướng phát triển của ngân hàng TMCP Công thương Việt

72

Nam
3.1.2 Định hướng xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động kiểm

73

toán nội bộ ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
3.2

Quan điểm và nguyên tắc nâng cao chất lượng hoạt động kiểm

74


96

3.4.3 Kiến nghị đối với các tổ chức nghề nghiệp

97

KẾT LUẬN
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

99
100


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Nguyên nghĩa

Chữ viết tắt
BCTC

Báo cáo tài chính

DN

Doanh nghiệp

GDV

Giao dịch viên


Ngân hàng thương mại cổ phần công thương

TCTD

Tổ chức tín dụng

TMCP

Thương mại cổ phần

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

i


DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng

STT

Bảng số

1

Bảng 2.1

Một số chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2007-2011


2011

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
STT

Sơ đồ

Tên sơ đồ

1

Sơ đồ 1.1

Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ

15

2

Sơ đồ 1.2

Tổ chức bộ máy KTNB theo các khối chức năng

16

3

Sơ đồ 1.3

Tổ chức bộ máy kiểm toán theo khu vực

Vietinbank

ii

Trang

38

49


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp nói chung và các
tổ chức tín dụng của Việt Nam nói riêng đã có sự phát triển nhanh chóng cả về quy
mô và số lượng. Song song với sự phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp,
nhà quản lý doanh nghiệp phải giải quyết những vấn đề mới phát sinh như: hiệu quả
kinh doanh, hiệu quả sử dụng các nguồn lực, quản trị rủi ro, độ tin cậy của thông tin
tài chính,….
Các tổ chức tín dụng là loại hình kinh doanh đặc biệt, hoạt động trong cơ chế
thị trường luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn bất kỳ ngành nghề nào khác. Do
vậy, để hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể xẩy ra đồng thời để nâng cao
hiệu quả hoạt động, một nhiệm vụ không thể thiếu được và ngày càng trở nên thiết
yếu trong hoạt động của các tổ chức tín dụng là phải tổ chức tốt công tác kiểm toán
nội bộ trong bản thân từng tổ chức tín dụng.
Trước những yêu cầu cấp bách, Ngân hàng nhà nước Việt nam đã ban hành
Quyết định số 37/2006/QĐ-NHNN vào ngày 01/8/2006, yêu cầu các ngân hàng phải
thành lập bộ phận kiểm toán nội bộ. Và gần đây nhất ngày 29/12/2011 ngân hàng
nhà nước (NHNN) đã ban hành thông tư số 44/2011/TT-NHNN quy định chi tiết về
hệ thống kiểm soát nội bộ & kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng thay thế hoàn

Ở Việt Nam, năm 1997 kiểm toán nội bộ chính thức được công nhận. Một số
nghiên cứu về kiểm toán nội bộ cũng bắt đầu phát triển: Tác giả Nguyễn Quang
Quynh (1998) về “Xây dựng hệ thống kiểm tra kiểm soát trong quản lý vĩ mô ở Việt
Nam”; tác giả Nguyễn Mai Vinh (2005) chủ trì đề tài “Hoàn thiện kiểm toán nội bộ
tại Bộ Thủy sản”; tác giả Ngô Trí Tuệ và cộng sự với đề tài “Xây dựng hệ thống
kiểm soát nội bộ với việc tăng cường quản lý tài chính tại TCT Bưu chính viễn
thông Việt Nam” (năm 2004); tác giả Vương Đình Huệ và cộng sự với đề tài cấp
nhà nước “Định hướng chiến lược và giải pháp phát triển kiểm toán ở Việt Nam”;…
Các nghiên cứu đã xem xét những vấn đề mang tính khái quát chung về kiểm
toán nội bộ hay đề cập đến tổ chức kiểm toán nội bộ trong một đơn vị nhất định hay

2


một ngành nhất định trong nền kinh tế. Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nào
mang tính khái quát bao gồm cả lý luận và thực tiễn về hoạt động kiểm toán nội bộ
đối với lĩnh vực ngân hàng mà cụ thể là Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế nước ta đang hội nhập mạnh mẽ
với thế giới bên cạnh đó hệ thống ngân hàng ở Việt Nam đang đứng trước những
khó khăn thách thức lớn về hiệu quả hoạt động, mua bán sáp nhập ngân hàng,…
đồng thời NHNN đã ban hành thông tư 44 thay thế hoàn toàn các văn bản trước đây
về hoạt động kiểm toán nội bộ tại các tở chức tín du ̣ng (TCTD).
Vì lý do nên trên, Luận văn tập trung nghiên cứu về hoạt động kiểm toán nội bộ
tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam. Các nghiên cứu của Luận văn sẽ bao
gồm cả lý luận về kiể m toán nô ̣i bô ̣ (KTNB) và thực trạng KTNB tại Ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam, đồng thời đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao chất
lượng hoạt động KTNB tại Ngân hàng TMCP Cơng thương Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của Luận văn là đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động kiểm toán
nội bộ Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam từ khi thành lập đến nay, bên cạnh

thương ma ̣i cổ phầ n công thư ơng (NHTMCPCT) đạt được các mục tiêu trên. Chính
vì vậy, Luận văn có những đóng góp cả về lý luận và giải quyết thực tiễn, cụ thể:
Một là, Luận văn trình bày có cơ sở khoa học về các giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng hoạt động hệ thống kiểm toán nội bộ của Ngân hàng TMCP Công
thương Việt Nam.
Hai là, Luận văn tạo cơ sở để nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán nội bộ
của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.
Ba là, Luận văn kiến nghị các giải pháp thực hiện cụ thể, khả thi nhằm góp
phần đưa hoạt động hệ thống kiểm toán nội bộ của Ngân hàng TMCP Công thương
Việt Nam đạt chất lượng tốt nhất.

4


7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn kết cấu gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về kiểm toán nội bộ trong ngân hàng thương mại.
Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động của kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng TMCP
Công thương Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2011.
Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán nội bộ tại Ngân
hàng TMCP Công thương Việt Nam.

5


CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1 Khái quát chung về ngân hàng thƣơng mại
1.1.1 Khái niêm

là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng
trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trị là cầu nối giữa người thừa vốn và người có
nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trị là
người đi vay, vừa đóng vai trị là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh
lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các
bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay.

Chức năng trung gian thanh toán: Ở đây NHTM đóng vai trị là thủ quỹ
cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách
hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ
hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu
khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện
thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán,
thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức
thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế khơng phải giữ tiền trong túi,
mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có
thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các
chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán
an toàn. Chức năng này vơ hình chung đã thúc đẩy lưu thơng hàng hóa, đẩy nhanh
tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.

Chức năng tạo tiền: Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ
bản chất của ngân NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu
chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh
mang tính đặc thù của mình đã vơ hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền
kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM
là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín
dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại
được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên
7

bao gồm sự hiểu biết mối tương quan giữa các dạng kiểm soát và sự đan xen tốt

8


nhất có thể, theo nhiều kiểu giữa chúng với nhau trong toàn bộ hệ thống kiểm soát
nội bộ. Như vậy là qua cái cửa kiểm soát mà kiểm toán viên nội bộ đi tới việc "xem
xét và đánh giá " các hoạt động có tổ chức và giúp đỡ tối đa cho tổ chức. Kiểm toán
viên nội bộ không thể sánh ngang – chứ chưa nói là vượt – kỹ năng tinh thông
nghiệp vụ kỹ thuật liên quan của các nhân viên nghiệp vụ khác của tổ chức nhưng
kiểm toán viên nội bộ có thể giúp những người có trách nhiệm đạt kết quả tốt hơn
bằng việc xác minh công việc kiểm soát hiện có và nêu ra căn cứ cải tiến những
cơng việc kiểm soát đó.
Tóm lại, có thể hiểu kiểm toán nội bộ là hoạt động kiểm toán do nhân viên của
đơn vị thực hiện. Phạm vi hoạt động của kiểm toán nội bộ rất đa dạng và tùy thuộc
vào quy mô và cơ cấu tổ chức của đơn vị, cũng như yêu cầu của các nhà quản lý
đơn vị. Công việc của họ bao gồm:
Thứ nhất, kiểm tra về thiết kế và vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ, và
đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện chúng.
Thứ hai, kiểm tra các thông tin hoạt động và thông tin tài chính.
Thứ ba, Kiểm tra tính hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động, kể cả các quy
định không thuộc lĩnh vực tài chính của doanh nghiệp.
Thứ tư, Kiểm tra tính tuân thủ pháp luật và các quy định nội bộ…
1.2.1.2 Mục đích của kiểm toán nội bộ
Những năm trước 1981, mục tiêu của kiểm toán nội bộ thường được giới hạn
trong việc kiểm tra và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của tổ chức. Trong những
năm gần đây, IIA đã mở rộng mục tiêu của kiểm toán nội bộ là đánh giá và cải thiện
mọi hoạt động của đơn vị. Phạm vi của hai chức năng này luôn gắn liền với những
nội dung công việc mà họ phải thực hiện, cụ thể như sau :
- Nhận định, phân tích và đánh giá những rủi ro có thể làm cho các thơng tin tài

(Enron, WorldCom…) đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay đều có
mối liên hệ đến sự tồn tại và vận hành thực sự của một cơ chế quản trị doanh nghiê ̣p
trong một doanh nghiê ̣p (DN) để có thể quản lý và kiểm soát được rủi ro. Các DN
đều chịu một áp lực rất lớn trong việc nhận biết tất cả rủi ro mà DN đang phải đối
mặt và phải lý giải được cách thức làm thế nào để kiểm soát các rủi ro này ở mức độ

10


chấp nhận được. Cùng với sự phát triển của khung quản trị rủi ro DN, KTNB đang
dần được xem là một công cụ hữu hiệu để một DN kiểm soát các rủi ro của mình
thơng qua cả chức năng đảm bảo và chức năng tư vấn cho ban giám đốc và cho các
chủ sở hữu. Vai trò của KTNB chuyển dịch từ vai trò truyền thống trong hoạt động
đánh giá công tác quản lý sang các hoạt động mang tính chất tư vấn và đưa ra các
đảm bảo mang tính khách quan cho các cấp quản lý. KTNB tham gia trực tiếp vào
chu trình quản trị DN, bao gồm chu trình hoạt động, thủ tục kiểm soát nội bộ, quản
trị rủi ro và cả báo cáo tài chính.
Trong rất nhiều công ty niêm yết và công ty đại chúng, KTNB hỗ trợ trực tiếp
cho hô ̣i đồ ng quản tri ̣ (HĐQT) và ủy ban kiểm toán trong vai trò giám sát chung các
hoạt động của Doanh nghiệp. Sự tham gia trực tiếp, với vai trò ngày càng quan
trọng và mang tính độc lập của KTNB vào cơ chế quản trị DN được xem là một tất
yếu cùng với sự phát triển của quản trị DN trong nền kinh tế hiện nay.
Một hệ thống kiểm soát nội bộ cho dù được thiết lập cơng phu đến đâu thì cũng
khó tránh khỏi những hạn chế bởi:
Thứ nhất, trình độ của cán bộ nghiệp vụ, đặc biệt là với những lĩnh vực, sản
phẩm mới.
Thứ hai, quá trình cơng tác của cán bộ nghiệp vụ đã trở nên mệt mỏi.
Thứ ba, cơ chế kiểm tra kiểm soát gắn liền với quy trình nghiệp vụ trở nên vơ
hiệu khi có sự cấu kết, thơng đồng.
Thứ tư, có những cán bộ tha hoá biến chất, cố tình gian lận.

toán tài chính và kiểm toán nghiệp vụ. Bên cạnh việc xác định mức độ tin cậy và
tuân thủ chuẩn mực của báo cáo tài chính, kiểm toán viên nội bộ còn phải khảo sát
tất cả các khía cạnh của quá trình tạo lập, duy trì hoặc rút gọn các bảng cân đối –
với nhận thức rõ ràng về mối liên hệ trùng lắp luôn tồn tại rất nhiều loại tài sản nợ
và tài sản có trong bảng tổng kết tài sản và các loại thu nhập và chi tiêu khác nhau
cấu thành nên báo cáo thu nhập. Trong đó, kiểm toán viên nội bộ quan tâm đến các
chính sách, quyết định, thủ tục và kết qủa hoạt động tác động đến những bảng tổng
kết tài chính luôn biến động này.
Về cơ bản phương thức hoạt động của kiểm toán nội bộ cũng giống như kiểm
toán độc lập nhưng kiểm toán nội bộ không chỉ quan tâm xem xét về tính trung thực
và hợp lý của các thông tin tài chính, mà còn quan tâm thường xuyên, sâu sát đến
12


công tác kế toán, hoạt động kinh doanh và những vấn đề về những quản lý tài chính,
quản trị điều hành của các đối tượng kiểm toán trong đơn vị để đưa ra những kiến
nghị hay các biện pháp cải tiến.
1.2.3 Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ
Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ phải dựa trên cơ sở tổ chức cơng việc của
KTNB vì tổ chức cơng việc KTNB ở cấp cao nhất trở thành chiến lược để đạt được
mục đích của KTNB. Bên cạnh đó, tổ chức bộ máy KTNB phải có sự chỉ đạo
thường xuyên về mặt quản trị, có sự kiểm soát tập thể, bộ máy kiểm toán nói chung
bao gồm con người và phương tiện chứa đựng các yếu tố của kiểm toán để thực
hiện chức năng kiểm toán và các yếu tố của kiểm toán phải trở thành nhận thức và
kinh nghiệm trong con người, hình thành nên cơ chế hoạt động của các phương tiện.
Tóm lại, bộ máy KTNB là hệ thống bao gồm các kiểm toán viên do đơn vị tự lập ra
đáp ứng yêu cầu quản trị nội bộ. Tất nhiên sẽ không tồn tại một cách thức tổ chức
bộ máy KTNB hiệu quả duy nhất vì cách thức tổ chức bộ máy KTNB phụ thuộc vào
rất nhiều yếu tố, đó là yêu cầu quản lý trong từng thời kỳ, phạm vi hoạt động, đặc
điểm lĩnh vực kinh doanh, yêu cầu về pháp lý.

những phương pháp đã đề cập trước đó với những nhân viên chủ chốt. Các cách
thức tiếp cận này có thể được sử dụng độc lập hoặc kết hợp theo mức độ cần thiết.
Một là, Tổ chức bộ máy KTNB theo loại hình kiểm tốn.
Bộ máy KTNB có thể được tổ chức theo từng loại hình kiểm toán (sơ đồ 1.1).
Theo quan điểm của kiểm toán hiện đại, một bộ phận của kiểm toán có thể được
chia theo từng loại hình kiểm toán, các khối chức năng và có thể chia nhỏ các lĩnh
vực đó để phân cấp tiếp. Ưu điểm của nó là tạo ra sự chuyên môn hoá trong công
việc, những vấn đề riêng biệt của cơng ty có thể được nghiên cứu sâu hơn và
chun mơn đặc biệt có thể được triển khai khi bàn đến. Nhược điểm của nó là sự
trùng lặp công việc kiểm toán dẫn đến tốn kém chi phí, thời gian, làm cho KTV tư
duy máy móc ít thay đổi. Điều này làm giảm khả năng hoàn thiện chuyên môn
của KTV.

14


KIỂM TOÁN
TRƢỞNG

Nhân viên hỗ
trợ hành chính

Trưởng bộ
phận kiểm toán
hoạt động

Giám sát kiểm
toán hoạt động
ngoài nước


trong nước

Nhân viên kiểm
toán hoạt động
trong nước

Nhân viên
kiểm toán tài
chính

Sơ đồ 1.1: Tổ chức bộ máy KTNB theo loại hình kiểm tốn
(Ng̀ n: Tác giả tự tổng hợp)
Hai là, Tổ chức KTNB theo cấu trúc tương ứng với khối chức năng
Tổ chức KTNB theo cấu trúc tương ứng với khối chức năng là tổ chức các
nhóm KTV nội bộ được giao kiểm toán theo từng “khối chức năng” trong tổ chức
của tập đoàn như khối thực hiện chức năng kinh doanh, khối thực hiện chức năng
hỗ trợ,… theo sơ đồ 1.2. Giống như mơ hình trên, lợi ích lớn nhất của nó là tạo ra
tính chun mơn hoá cao trong cơng việc, các KTV có kiến thức sâu hơn về đối
tượng được kiểm toán và có cơ sở để phát triển chuyên môn kể cả trong những lĩnh
vực đặc biệt; nhược điểm của nó là sự trùng lặp trong công việc kiểm toán, tốn kém
chi phí đi lại.

15


KIỂM TOÁN
TRƢỞNG

Nhân viên hỗ trợ
hành chính

Trưởng bộ
phận kiểm
toán khu vực
Miền Bắc

Nhân viên
kiểm toán hoạt
động

Trưởng bộ
phận kiểm
toán khu vực
Miền Trung

Giám sát
kiểm toán
thành phố A

Nhân viên
kiểm toán hoạt
động

Nhân viên
kiểm toán tài
chính

Nhân viên
kiểm toán tài
chính


chính

Nhân viên kiểm
toán HTTT

Nhân viên kiểm
toán HTTT

Sơ đồ 1.3: Tổ chức bộ phận kiểm toán theo khu vực
(Nguồ n: Tác giả tự tổng hợp)

1.2.4 Nhiệm vụ, quyền hạn của bộ phận kiểm toán nội bộ
a. Nhiệm vụ của Bộ phận kiểm toán nội bộ [6, tr.11-12]
- Xây dựng quy trình nghiệp vụ kiểm toán nội bộ tại TCTD trình Ban kiểm soát
xem xét, phê duyệt sau khi báo cáo Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên.
- Lập kế hoạch kiểm toán nội bộ hàng năm hoặc đột xuất và thực hiện hoạt động
kiểm toán nội bộ theo kế hoạch hoặc kiểm toán đột xuất theo yêu cầu của Hội đồng
quản trị, Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát; thực hiện các chính sách, quy trình và
thủ tục kiểm toán nội bộ đã được phê duyệt, đảm bảo chất lượng và hiệu quả.
- Kiểm tra, rà soát, đánh giá một cách độc lập, khách quan đối với tất cả các đơn vị,
bộ phận, hoạt động của TCTD (chính sách, thủ tục, quy trình hoặc các vấn đề trong
hoạt động) dựa trên mức độ rủi ro (cao, trung bình, thấp) và mức độ ảnh hưởng đến

17


hoạt động của TCTD. Đối với tất cả những vấn đề có thể ảnh hưởng xấu đến hoạt
động của TCTD kiểm toán nội bộ cần thông báo kịp thời về bản chất và ảnh hưởng
đối với hoạt động của TCTD và đưa ra những khuyến nghị thiết thực nhằm ngăn
ngừa, khắc phục những vấn đề này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status