Thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn huyện nông sơn, tỉnh quảng nam - Pdf 70

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TÀO THỊ TỐ ĐIỂM

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH
SINH THÁI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG SƠN,
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CƠNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TÀO THỊ TỐ ĐIỂM

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH
SINH THÁI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG SƠN,
TỈNH QUẢNG NAM

Chun ngành : Chính sách cơng
Mã số

8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HOÀNG CẦM


3.1. Phương hướng thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái trên địa

bàn huyện Nông Sơn....................................................................................... 48
3.2. Những giải pháp chủ yếu thúc đẩy chính sách phát triển du lịch sinh thái

ở Nông Sơn......................................................................................................53
KẾT LUẬN.................................................................................................... 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Sự phát triển mạnh của cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề đơ thị hóa tăng
mạnh và biểu hiện q nóng khiến con người ngày càng gia tăng nhu cầu hướng trở
về với thiên nhiên. Du lịch sinh thái (DLST) hiện nay chính là sự lựa chọn đáp ứng
nhu cầu này và trở thành xu hướng du lịch phổ biến trên thế giới. Du khách ln tìm
về các điểm du lịch cịn lưu giữ những nét văn hoá truyền thống lâu đời, môi trường
trong sạch và nhất là các cảnh quan thiên nhiên, các khu bảo tồn đa dạng sinh học.
Mọi miền trên đất nước ta vốn sẵn có tài nguyên thiên nhiên phong phú và văn hóa
đặc sắc, trở thành là nơi có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái.
Tỉnh Quảng Nam nói chung và huyện Nơng Sơn nói riêng là địa bàn có địa
hình và tài ngun đa dạng và các giá trị văn hoá truyền thống phong phú. Nông
Sơn là một huyện thuộc khu vực trung du và miền núi, nằm ở phía Tây của tỉnh
Quảng Nam. Nơi đây tập trung nhiều nguồn tài nguyên du lịch có giá trị như: Làng
Đại Bình, Nước Nóng Tây Viên, Hịn Kẽm Đá Dừng, Khu Bảo tồn loài và sinh
cảnh Voi ... đã đạt đến mức độc đáo và quý hiếm.
Trong nhiều năm qua, kinh tế xã hội của huyện Nông Sơn, đặc biệt là lĩnh vực
du lịch nói đã có những thành tựu đáng kể, song vẫn còn chưa tương xứng với tiềm
năng, thế mạnh vốn có của huyện. Các chỉ tiêu về du lịch như: cơ sở vật chất kỹ

hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trên thế giới. Chỉ trong
khoảng 2 thập kỉ từ khi loại hình du lịch này xuất hiện, đã có hàng trăm bài viết
được xuất bản về chủ đề này. Trong phạm vi của luận văn này, chúng tơi chỉ điểm
lược một số cơng trình nghiên cứu tiêu biểu, có ý nghĩa về mặt phương pháp luận
cho ln văn.
Một trong những cơng trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về chủ đề này là
nghiên cứu của Santhosh Thampi (2001). Theo tác giả, du lịch sinh thái xuất hiện
như một cứu cánh để 'hoà giải" giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển sinh thái ở
những khu vực giàu có về nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tác giả cho rằng du lich
sinh thái bao gộp trong nó nhiều cấu phần để có thể tạo ra tiềm năng cho sự sự phát
triển bền vững. Để giảm thiểu sự mất cân bằng trong phân chia lợi nhuận, một vấn
đề phổ biến ở các loại hình du lịch khác, thì vấn đề quan trọng là gia tăng sự sở hữu
của các cộng đồng địa phương đối với tài nguyên và với các hoạt động kinh doanh
du lịch. Thêm vào đó, vấn đề này cịn có thể được giải quyết thơng qua việc sừ dụng


nguồn nhân lực địa phương trong các hoạt động du lịch, bao gồm cả việc xây dựng
cơ sở hạ tầng cho đến nhân cộng làm các dịch vụ liên quan. Điều này cũng đồng
nghĩa với sự loại bỏ hoàn toàn việc chỉ giao các hoạt động liên quan đến du lịch
sinh thái cho các nhà đầu tư đến từ bên ngồi.
Bijender Punia (1999) trong nghiên cứu của mình có tiêu đề "Vấn đề và triển
vọng của du lịch ở Haryana’ đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các thành tố cho
phát triển du lịch sinh thái như khí hậu, cảnh quan, khá năng tiếp cận địa bàn, thái
độ của các cộng đồng chủ nhân, sự sẵn có của nguồn lực con người cũng như các kế
hoạch khả thi của các nhà hoạch định chính sách. Theo tác giả, các yếu tố này có vị
thế quan trọng như nhau trong việc hình thành nên một mơ hình du lịch sinh thái
bền vững mà ở đó, cả vấn đề phát triển kinh tế địa phương lẫn vấn đề bảo tồn thiên
nhiên được đảm bảo. Trong khi đó, Aga Iqrar Haroon (1999) nhấn mạnh tầm quan
trọng của các cộng đồng địa phương. Theo tác giả, du lịch sinh thái sẽ khơng có ý
nghĩa nếu khơng có vai trị của các cộng đồng này. Giống như lập luận của Santhosh

Ở Việt Nam, Du lịch sinh thái cũng được một số nhà nghiên cứu quan tâm,
tìm hiểu đó là:
- Đề tài khoa học năm 2012 “Nghiên cứu tiềm năng phát triển du lịch cộng

đồng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” của tác giả Chu Thị Thanh Hiền. Đề tài này đã
nghiên cứu những điều kiện về xây dựng và phát triển du lịch cộng đồng, trên cơ sở
đó tìm hiểu và đánh giá khái qt về hiện trạng và tiềm năng phát triển du lịch cộng
đồng ở tỉnh Phú Thọ; phân tích mặt thuận lợi và thách thức trong quá trình thực
hiện du lịch cộng đồng trên địa bàn tỉnh và hiệu quả của nó về kinh tế xã hội mang
lại. Đây là luận cứ mà đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác, phát huy tiềm
năng phát triển du lịch cộng đồng ở tỉnh Phú Thọ. Dù vậy, đề tài này vẫn chưa đưa
ra được các giải pháp chiến lược và cụ thể nhằm phát huy tiềm năng du lịch cộng
đồng.
- Đề tài khoa học năm 2012 “Nghiên cứu, kết nối du lịch Phú Thọ với các

tuyến du lịch vùng Tây Bắc mở rộng” của tác giả Phùng Quốc Việt. Đề tài nghiên
cứu này đã góp phần chỉ ra cơ sở lí luận và thực tiễn về du lịch và du lịch liên vùng,
phân tích thực trạng du lịch của tỉnh Phú Thọ và vùng Tây Bắc mở rộng (Điện Biên,


Lai Châu, Sơn La, n Bái, Hịa Bình, Lào Cai và Hà Giang), đề xuất một số định
hướng và các giải pháp thúc đẩy du lịch tỉnh Phú Thọ kết nối với du lịch vùng Tây
Bắc mở rộng; thiết kế bản đồ các tuyến giao thông kết nối (đường bộ, đường thủy,
đường hàng không, đường sắt). Tuy vậy, kết quả đề tài này còn chưa đánh giá được
cụ thể về mặt hạn chế, tồn tại trong phát triển du lịch địa bàn tỉnh Phú Thọ và các
tỉnh Tây Bắc, nhằm đề xuất giải pháp khắc phục để phát triển du lịch bền vững.
- Trần Đức Thanh, “Cơ sở khoa học trong việc thành lập các bản đồ phục vụ

quy hoạch du lịch cấp tỉnh ở Việt Nam (Lấy ví dụ ở Ninh Bình)”. Luận án PTS, Hà
Nội 1995- 170 trang.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:

Lập luận cứ khoa học và đề xuất những phương hướng và các giải pháp chủ
yếu thúc đẩy chính sách phát triển du lịch sinh thái ở Nông Sơn tương xứng với
tiềm năng sẵn có của huyện.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và thực hiện chính

sách phát triển du lịch sinh thái.
- Nghiên cứu làm rõ thực tiễn thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái

ở Nơng Sơn, tìm hiểu những hạn chế cịn tồn tại cần giải quyết.
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp thúc đẩy chính sách phát triển du

lịch sinh thái ở Nông Sơn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Nông Sơn,
tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2015 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, chúng tơi sử dụng 3 phương pháp nghiên cứu
chính, bao gồm: Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu, phương pháp điền dã
và phương pháp đánh giá.
Phương pháp phân tích và tổng hợp, được sử dụng để thu thập, phân tích và
khai thác thơng tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm
các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, Bộ ngành ở
Trung ương và địa phương; các đề tài nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của
chính quyền, ban, ngành, đồn thể, tổ chức, người dân liên quan trực tiếp hoặc gián

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển du lịch
sinh thái.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện chính sách du lịch sinh thái của huyện Nơng
Sơn thời gian qua.
Chương 3: Đề xuất các giải pháp thúc đẩy chính sách phát triển du lịch sinh
thái huyện Nơng Sơn giai đoạn 2019- 2025.


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DU LỊCH SINH THÁI
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát

triển của du lịch sinh thái
1.1.1. Khái niệm du lịch sinh thái

Cho đến nay, du lịch sinh thái đã và đang phát triển nhanh chóng ở nhiều quốc
gia trên thế giới và ngày càng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của các tầng lớp xã
hội, đặc biệt là đối với những người có nhu cầu tham quan du lịch và nghỉ ngơi.
Ngồi ý nghĩa góp phần bảo tồn tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và văn hóa cộng
đồng, sự phát triển du lịch sinh thái đã và đang mang lại những nguồn lợi kinh tế to
lớn, tạo cơ hội giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập quốc gia và thu nhập cho
cộng đồng dân cư địa phương, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa, nơi có cảnh quan
thiên nhiên, văn hóa hấp dẫn. Mặt khác, DLST cịn góp phần vào việc nâng cao dân
trí và sức khoẻ cộng đồng thông qua giáo dục môi trường, văn hóa, lịch sử và nghỉ
ngơi giải trí. Là loại hình du lịch có xu thế phát triển nhanh trên phạm vi toàn thế
giới, DLST ngày càng nhận được sự quan tâm của nhiều người, nhiều quốc gia, bởi
đây là loại hình du lịch có trách nhiệm, có ảnh hưởng lớn đến việc “xanh hố”
ngành du lịch thơng qua các hoạt động nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường,
phát triển phúc lợi cộng đồng và đảm bảo cho sự phát triển bền vững.
Do tạo được sự quan tâm của xã hội nên nhiều tổ chức, cá nhân tham gia

bảo tồn những khu vực tự nhiên và phát triển những khu vực cộng đồng lân cận một
cách bền vững đồng thời phải nâng cao được khả năng nhận thức về môi trường và
công tác bảo tồn đối với người dân bản địa và du khách đến thăm [6, tr.11].
Có thể nói, đây là một định nghĩa đầy đủ nhất nội dung cũng như những đặc
điểm của DLST, đó là địa điểm để tổ chức được một tuor du lịch, mục đích chuyến
đi của du khách đặc biệt là việc giáo dục và nâng cao nhận thức cho du khách cùng
với nó là trách nhiệm của các tổ chức cũng như du khách trong việc bảo tồn giữ gìn
mơi trường tự nhiên và mơi trường văn hố để đảm bảo cho sự phát triển bền vững
ở những nơi mà du khách tới tham quan.
Tại hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển DLST tháng 9-1999 tại Hà
Nội: "Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa,
gắn với giáo dục mơi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững
với sự


tham gia tích cực của cộng đồng địa phương" [36, tr. ].
Có thể nói, đây là một định nghĩa đầu tiên của Việt Nam về du lịch sinh thái,
mang đầy đủ những ý nghĩa và nội dung của loại hình du lịch này. Đây được coi là
cơ sở lý luận cho các nghiên cứu và ứng dụng thực tế việc phát triển du lịch sinh
thái ở Việt Nam.
Mặc dù có thể có sự khác nhau về diễn đạt và cách thể hiện nhưng trong các
định nghĩa về DLST đều có sự thống nhất cao về nội dung ở bốn điểm:
Thứ nhất, phải được thực hiện trong môi trường tự nhiên còn hoang sơ hoặc
tương đối hoang sơ gắn với văn hố bản địa.
Thứ hai, có khả năng hỗ trợ tích cực cho cơng tác bảo tồn các đặc tính tự
nhiên, văn hố và xã hội.
Thứ ba, có tính giáo dục mơi trường cao và có trách nhiệm với mơi trường.
Thứ tư, phải mang lại lợi ích cho cư dân địa phương và có sự tham gia của
cộng đồng cư dân địa phương.
Ngày nay, người ra rất hay sử dụng thuật ngữ du lịch sinh thái để giới thiệu,


Thứ nhất, DLST được thực hiện tại những nơi hoang sơ hoặc tương đối hoang
sơ và có mơi trường tự nhiên đa dạng phong phú.
Những nơi có mơi trường tự nhiên đa dạng phong phú gắn với bề dày thời
gian về sự hình thành và phát triển của các hệ động thực vật và con người. Để có
thể làm được DLST phải là nơi có tài nguyên tự nhiên dồi dào, mà cụ thể là các hệ
sinh thái được làm giàu bởi rất nhiều các loài động thực vật khác nhau. Những yếu
tố từ cây cối, nguồn nước, bầu khí quyển, đất đai cũng được tính đến. Điểm chú ý là
mơi trường tự nhiên cịn tương đối ngun sơ, chưa bị hoặc ít bị can thiệp bởi con
người và chúng được hiện hữu dưới hình thức là các vườn quốc gia, các khu dự trữ
thiên nhiên hay các khu vực văn hóa lịch sử có gắn với khơng gian và tài ngun
thiên nhiên phong phú. Trong DLST đề ra một nguyên tắc bất dịch: “hãy để thiên
nhiên như nó vốn đã thế”, đó là quyết định thông minh nhất trong thỏa thuận cùng
tồn tại giữa con người và thế giới tự nhiên. Như vậy, DLST thường được thực hiện
ở các khu bảo tồn tự nhiên, các vườn quốc gia, ở những nơi có mật độ dân số thấp
và tài nguyên thiên nhiên phong phú, ở những khu vực có giá trị cao về mơi trường
tự nhiên như: hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh học cao và cuộc
sống hoang dã phong phú.
Thứ hai, du lịch sinh thái hỗ trợ tích cực cho cơng tác bảo tồn các đặc tính tự


nhiên, văn hóa, xã hội tại điểm tham quan.
Các nhà kinh doanh DLST ngồi việc phải quan tâm ni dưỡng, quản lý chặt
chẽ nguồn tài nguyên để nó tồn tại và hấp dẫn du khách, họ phải đóng góp tài chính
cho chính quyền sở tại, những cơ quan quản lý các tài nguyên từ những khoản lợi
nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh du lịch của mình. Những nguồn tài chính
này làm tăng thêm ngân sách cho các khu vực nơi tổ chức hoạt động DLST để bù
đắp cho các khoản chi phí như: quản lý, trồng thêm cây xanh, tơn tạo, trùng tu…
Bên cạnh đó, những tiêu chí và địi hỏi cao hơn của DLST đối với cơng tác bảo vệ
mơi trường, giữ gìn các hệ sinh thái khiến các nhà kinh doanh du lịch sinh thái phải

DLST là một phương tiện tốt để truyền đạt thông tin vì nó có khả năng đưa
con người tiếp cận trực tiếp và thấy rõ vai trò của thiên nhiên đối với đời sống con
người. DLST đẩy mạnh các hoạt động mang tính giáo dục về các hệ sinh thái và môi
trường sống. Các hoạt động giáo dục này bao gồm việc giảng giải về lịch sử, nguồn
gốc hình thành, tập quán sinh hoạt, mối quan hệ tương tác qua lại giữa các lồi động
thực vật và vai trị của chúng trong thiên nhiên. DLST hướng dẫn cách thức để
những người làm du lịch và khách du lịch tiến hành hoạt động du lịch đúng cách với
thái độ trân trọng, giữ gìn và bảo vệ mơi trường sống. Các hoạt động giáo dục, chỉ
dẫn cách thức du lịch đúng đắn mà DLST thực hiện từ nhiều cách: phương pháp
hướng dẫn, thuyết minh trực tiếp từ hướng dẫn viên tới khách du lịch, các tờ giới
thiệu, tờ bướm thông tin về du lịch, các mơ hình, mơ phỏng, các phương tiện nghe
nhìn.
Thứ tư, dựa vào việc khai thác tiềm năng tự nhiên và nhân văn du lịch sinh
thái mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư bản địa.
Khi du lịch phát triển và mở rộng, nhiều địa phương đã thoát khỏi cảnh đói
nghèo, người dân được tiếp cận với các dịch vụ giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng như:
Điện thắp sáng, đường giao thơng, hệ thống cấp thốt nước và thơng tin liên lạc...
Đối với DLST, những lợi ích được nó mang lại là khơi dậy và đánh thức những tiềm
năng sẵn có để qua đó mang lại thu nhập đáng kể cho cư dân địa phương bằng các
hoạt động dịch vụ du lịch như: phục vụ lưu trú, ăn uống, bán hàng lưu niệm và các
dịch vụ bổ trợ khác. Đồng thời, DLST luôn quan tâm đến việc tôn tạo cảnh quan
thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển bền vững chính những hoạt


động này đảm bảo cho hệ thống rừng cây, hệ động thực vật được bảo đảm, làm
giảm thiểu sự tác động của thiên nhiên đến đời sống của người dân bản địa như hạn
chế được xói mịn, lũ qt và những thiên tai địch họa khác.
Những người làm DLST đã nhận ra vấn đề, thấy được chính những người dân
bản địa, họ sinh ra và tồn tại cùng với các hệ sinh thái và môi trường thiên nhiên
xung quanh từ bao đời lại có được kiến thức truyền thống văn hố q giá của cha

Góp phần bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
1.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch sinh thái ở Nông Sơn

* Nhận thức của xã hội:
Du lịch và DLST được quan tâm và phát triển đúng với những gì mà nó vốn
có thì việc nhận thức và quan tâm đúng đắn là một vấn đề hết sức quan trọng.
Về mặt kinh tế, Nông Sơn là một trong những địa phương ở tỉnh Quảng Nam
có quy mơ nền kinh tế còn nhỏ, phát triển kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Tốc độ
tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây khá cao, trung bình giai đoạn 20082013 là 10,23%, giai đoạn 2013-2015 là 11,47%. Về du lịch (trong đó có DLST) đã
trở thành một trong những ngành quan trọng đóng góp vào phát triển. Phát triển du
lịch vừa đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, vừa góp phần nâng cao
dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội. Nên hoạt động của DLST có mối
quan hệ tương tác đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Bản thân du
lịch mang lại rất nhiều lợi ích cho các địa phương đón khách. Về mặt xã hội, phát
triển du lịch và DLST sẽ tăng cường giao lưu, trao đổi sự hiểu biết lẫn nhau giữa
các dân tộc, các quốc gia… Như vậy để du lịch thực sự góp phần vào việc bảo vệ
thiên nhiên địi hỏi phải có sự suy nghĩ và hành động đúng không những của những
người làm du lịch mà cịn là tồn xã hội. Người dân, chính quyền địa phương và du
khách cần phải nhìn thấy những lợi ích của DLST có thể mang lại thông qua những
hoạt động và những cơ hội mà loại hình du lịch này tạo nên mà mục tiêu cơ bản của
DLST là phát triển bền vững. Nghĩa là: "Đảm bảo đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà
không làm cản trở đến việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai" [12].
Sẽ rất có tác dụng nếu như các đối tượng sau đây được tuyên truyền hiểu biết
và nhận thức sâu sắc về DLST: Những nhà lập kế hoạch và đầu tư; những các tổ


chức quản lý ở các khu bảo tồn, khu dự trữ sinh quyển…; các cán bộ điều hành của
các công ty du lịch; các hướng dẫn viên du lịch, nhân viên khách sạn, nhà hàng; cư
dân địa phương; khách du lịch.Đồng thời, để tạo điều kiện và kích thích loại hình du
lịch này phát huy tác dụng của nó, vấn đề giáo dục cộng đồng sẽ góp phần hỗ trợ

môi trường sinh thái. Hệ sinh thái, môi trường tự nhiên sẽ rất dễ bị phá vỡ nếu mật
độ dân cư q đơng, trình độ dân trí thấp.
Với DLST, sự tham gia của cư dân địa phương đóng một vai trị quan trọng.
Thực tế mối quan hệ giữa người dân bản địa và các tài nguyên thiên nhiên có lịch sử
gắn bó lâu đời. Ở nhiều nơi người dân địa phương sử dụng tài nguyên thiên nhiên
như một kế sinh nhai của mình và họ biết cách để bảo vệ, kiểm soát việc sử dụng tài
nguyên thiên nhiên để tránh đi tình trạng tàn phá tài nguyên. Nên ngồi kiến thức
chun mơn nghiệp vụ về du lịch, yếu tố quan trọng đối với một điểm DLST thành
công hay khơng cịn phụ thuộc vào lao động làm việc ở các đơn vị này có am hiểu
về mơi trường sinh thái, có hiểu biết sâu rộng về hệ sinh thái động thực vật hy
không cũng như khả năng MC thuyết minh giảng giải cho khách tham quan.
* Môi trường luật pháp và cơ chế chính sách:

Xây dựng cơ chế, chính sách về quản lý một cách đồng bộ, khuyến khích việc
khai thác các tiềm năng DLST đặc biệt là ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên
thiên…phải được cụ thể hóa bằng các văn bản pháp lý, từ các cơ quan quản lý nhà
nước như: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nơng thơn, Bộ Tài chính, Tổng cục Du
lịch…Thực tế, mặc dù nhiều nước, nhiều quốc gia vùng lãnh thổ có tiềm năng rất
lớn về DLST nhưng sự nhìn nhận của các cấp lãnh đạo, những nhà hoạch định
chính sách và đầu tư chưa thật sự sâu sắc, từ đó khơng có cơ chế, chính sách thích
hợp để quy hoạch, tập trung đầu tư để phát triển du lịch do đó đã làm lãng phí
nguồn tài ngun thậm chí có thể bị lãng qn hoặc bị tàn phá do khơng có cơ quan
đơn vị hay người quản lý các nguồn tài ngun đó.
Để DLST phát triển thì việc nhận ra thế mạnh và phát huy nó là một vấn đề
cần được quan tâm. Vấn đề này chỉ được giải quyết khi các nhà hoạch định chính
sách, các cấp quản lý nhận thức rõ và đưa ra cơ chế, chính sách hợp lý để phát triển.
DLST chỉ phát triển khi nó có được một cơ chế chính sách hợp lý và pháp luật đồng
bộ. Đó



tiến thương mại. Chương trình quảng bá, xúc tiến là phải là làm thế nào khuyến khích
du khách có ấn tượng và mong muốn được đi du lịch theo hình thức DLST.
Có rất nhiều hình thức quảng bá hữu hiệu, nhưng tiết kiệm và hiệu quả nhất đó
là việc quảng bá trực tiếp ngay tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch. Hơn


nữa, dịch vụ DLST nó chỉ xuất hiện khi có khách hàng, du khách đến sử dụng,
tham quan… Ngày nay với sự phát triển vượt bậc của khoa học - kỹ thuật, sự
phát triển mạnh mẽ của các phương tiện thơng tin, do đó có rất nhiều hình thức
quảng bá xúc tiến phát triển du lịch. Việc xây dựng, duy trì và nâng cao chất
lượng sản phẩm, dịch vụ, mơi trường cảnh quan thiên nhiên độc đáo hay thái độ
phục vụ, hành vi ứng xử có văn hóa của nhân viên phục vụ, cộng đồng dân cư địa
phương đó là những phương thức quảng bá hữu hiệu nhất.
* Cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ DLST là toàn bộ phương tiện vật chất tham gia
vào việc tạo ra và thực hiện dịch vụ hàng hoá du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của
khách du lịch. Với DLST nó bao gồm các hoạt động nhằm cung cấp các sản phẩm,
dịch vụ đáp ứng nhu cầu đi lại, ăn uống, lưu trú, mua sắm, giải trí, thơng tin liên lạc,
các hoạt động giảng giải, hướng dẫn, nghiên cứu thiên nhiên và văn hố… của khách
du lịch. Vì vậy phạm vi hoạt động kinh doanh rất rộng, bao gồm hệ thống các cơ sở
lưu trú du lịch, nhà hàng, các điểm vui chơi giải trí, cho đến hệ thống giao thông vận
tải, điện, nước, thông tin liên lạc… Cơ sở hạ tầng là những hấp dẫn thứ cấp bổ sung
cho tài nguyên thiên nhiên của khu du lịch. DLST thông qua các vườn quốc gia, khu
bảo tồn thiên nhiên… thường nằm ở vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn, vì vậy cần
thiết phải đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng để du khách đến được những điểm tham
quan. Tuy nhiên nếu việc quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng khơng hợp lý và khoa
học thì sẽ dễ dẫn đến phá vỡ cảnh quan môi trường. Vì vậy, việc lập quy hoạch xây
dựng cơ sở hạ tầng cho phù hợp, thân thiện với môi trường là quan trọng. Xây dựng
cơ sở vật chất đảm bảo cho việc cung cấp và làm thỏa mãn nhu cầu của khách tham
quan cũng đồng thời với việc đảm bảo cho phát triển bền vững là yêu cầu quan

thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái cịn phải tính đến cả sự tham gia
của các đối tác là những tổ chức quốc tế, các nhà tài trợ quốc tế, tổ chức phi
chính phủ. Hơn nữa, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, cùng với xu hướng xã hội hóa các hoạt động cung cấp dịch vụ, quá trình
thực thi chính sách phát triển du lịch sinh thái cịn có sự tham gia tích cực của các
đối tác xã hội như: các doanh nghiệp, hiệp hội, người dân, tổ chức đào tạo, các tổ
chức nghiên cứu...
Dù rằng, có rất nhiểu chủ thể tham gia vào q trình thực thi chính sách và
các chủ thể này có mối quan hệ tương tác với nhau trong q trình thực hiện chính


sách; số lượng chủ thể và vai trò của từng chủ thề tham gia tùy thuộc vào từng
chính sách cụ thể và bốì cảnh của từng nước. Tuy nhiên, có thể nhóm các chủ thể
tham gia vào thực thi chính sách thành các nhóm sau: (1) Chủ thể thực thi là các
cơ quan nhà nước và nhân sự của các cơ quan đó - đây là chủ thể chịu trách nhiệm
thực hiện chính sách cơn; (2) Chủ thể tham gia là các đối tác phi nhà nước (các
doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước); (3) Chủ thể tham gia
với tư cách là đối tượng thụ hưởng chính sách (các cộng đồng dân cư, các nhóm
dân số, thậm chí mọi người dân).
Trong số đó, chủ thể triển khai trước hết và quan trọng nhất là các cơ quan
hành chính nhà nước cùng với các cơng chức của các cơ quan này.
1.2.3. Quy trình thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái

Xuất phát từ vai trò quan trọng của sự chuyển hóa ý chí chủ thể chính sách
thành chương trình hành động thực tiễn, nên hệ thống các cơ quan nhà nước và
chính quyền địa phương các cấp cần chú trọng chỉ đạo công tác triển khai tổ chức
thực thi chính sách. Để tổ chức, điều hành có hiệu quả cơng tác thực hiện chính
sách phát triển du lịch sinh thái, cần tuân thủ các bước tổ chức thực hiện căn bản
dưới đây:
* Bước 1: Xây dựng chương trình kế hoạch tổ chức điều hành thực hiện chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status