ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
BÙI THỊ THU HẰNG
BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN
BỘ TIÊU CHUẨN KI ỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CÁC
TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHỊNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
HÀ NỘI- 2008
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
BÙI THỊ THU HẰNG
BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN
BỘ TIÊU CHUẨN KI ỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CÁC
TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHỊNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
Mã số: 60.14.05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. BÙI VĂN QUÂN
MỞ ĐẦU
làm cho cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục biết được mức độ thực hiện
mục tiêu, chương trình và nội dung giáo dục của các cơ sở giáo dục, từ đó có
các biện pháp tác động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tại các cơ sở này.
Kết quả kiểm định còn giúp cho mọi người trong xã hội biết được chất lượng
giáo dục tại các cơ sở giáo dục. Đồng thời, thông qua công tác KĐCLG, cơ
sở giáo dục biết được được chất lượng giáo dục của cơ sở mình để tự điều
chỉnh hoạt động giáo dục cho phù hợp . Năm 2005 Quốc hội nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nhất trí sửa đổi, bổ sung một số điều trong
Luật Giáo dục. Một trong những bổ sung lớn đó là triển khai hệ thống Kiểm
định chất lượng giáo dục (KĐCLGD) từ mầm non cho đến các trường đại
học.
Những chủ trương của Đảng và Nhà nước đã đặt ra nhiệm vụ cho
ngành Giáo dục và Đào tạo phải nhanh chóng tìm giải pháp nâng cao hơn
nữa chất lượng giáo dục. Một trong những giải pháp hiệu quả là phải khẩn
trương xây dựng và triển khai hệ thống KĐCLGD ở các cấp học.
Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thành lập Cục Khảo thí và Kiểm
định chất lượng giáo dục. Đây là cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo trong việc kiểm định chất lượng giáo dục. Và Bộ Giáo dục và Đào
tạo cũng đã ra các Quyết định ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá
chất lượng giáo dục các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Hải Phòng-Thành Phố hoa phượng đỏ, Thành phố Cảng “ Trung dũngQuyết thắng” là đất học, quê hương của danh nhân văn hố Trạng Trình
Nguyễn Bỉnh Khiêm, niềm tự hào của đất nước và của dân tộc, đã và đang
đổi thay từng ngày khi bước vào thế kỉ 21.
Với mục tiêu tiếp tục nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài ở cấp độ mới, ngành giáo dục và đào tạo Hải Phòng đã và đang
2
phấn đấu phát huy những thành tích đã đạt được, khắc phục những tồn tại,
tạo ra những bước phát triển mới trong sự nghiệp giáo dục đào tạo.
tiêu chuẩn kiểm định chất lượng tại các trường tiểu học trên điạ bàn thành
phố Hải Phòng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về kiểm định chất lượng giáo
dục phổ thơng.
+ Phân tích thực trạng việc chỉ đạo KĐCLGD của các trường TH trên
địa bàn Hải Phòng.
+ Đề xuất các biện pháp chỉ đạo thực hiện Bộ tiêu chuẩn kiểm định
chất lượng giáo dục trong trường TH của Hải Phịng trong tình hình hiện nay
và trong năm năm tới.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Kiểm định chất lượng giáo dục trường TH.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Công tác chỉ đạo thực hiện Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường
TH trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Triển khai đồng bộ các biện pháp chỉ đạo thực hiện Bộ tiêu chuẩn
kiểm định chất lượng giáo dục trường tiểu học của Hải Phòng dựa trên việc
áp dụng hệ thống các chuẩn mực để đánh giá chất lượng giáo dục thì chất
lượng giáo dục trường TH trên địa bàn thành phố Hải Phòng sẽ được nâng
cao.
6. Phạm vi nghiên cứu
+ Đề tài tập trung nghiên cứu về các biện pháp chỉ đạo thực hiện Bộ
tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục trường TH trên địa bàn thành phố
Hải Phòng.
4
+ Các số liệu thống kê được giới hạn từ năm 2005-2007. Triển khai
các phương pháp nghiên cứu khác.
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng công tác chỉ đạo đảm bảo chất lượng giáo dục và
kiểm định chất lượng giáo dục trường tiểu học thành phố Hải Phòng
Chương 3: Các biện pháp chỉ đạo thực hiện bộ tiêu chuẩn kiểm định
chất lượng giáo dục trường tiểu học thành phố Hải Phòng
6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
VỀ VẦN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Cùng với công tác dạy và học ở các cơ sở giáo dục là hoạt động đánh
giá chất lượng giáo dục. Mục đích chính của đánh giá CLGD là cải tiến chất
lượng giáo dục, là công cụ giám sát q trình dạy và học, từ đó đưa ra
những quyết sách về quản lý, dự đoán các kết quả đào tạo để không ngừng
cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục. Đánh giá chất lượng giáo dục có
nhiều nội dung khác nhau, trong đó có đánh giá các yếu tố điều kiện đảm
bảo chất lượng giáo dục và đánh giá chất lượng sản phẩm giáo dục.
Hoạt động đánh giá của nhiều nước trên thế giới thường tập trung vào
đánh giá kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh và thường áp dụng cho các
lớp ở cuối cấp học trong phạm vi cả nước theo các chuẩn mực quy định.
Các hoạt động đánh giá này rất phổ biến ở Bắc Mỹ, châu Âu, Australia.
Nhiều quốc gia còn tổ chức tiến hành đánh giá chất lượng học sinh ở các lớp
giữa các cấp học để giám sát chất lượng dạy và học nhằm đưa ra các biện
pháp can thiệp kịp thời, như ở Mỹ, Bang New South Wails….
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra chỉ ra các thành tố tạo nên CLGD là:
+ Kết quả học tập và rèn luyện của học sinh
Nhiều quốc gia trong quá trình đánh giá các nhà trường, họ thực hiện
công tác KĐCLGD để xác nhận và công nhận chất lượng dạy và học của các
nhà trường. Tiêu biểu cho hình thức này là ở Hoa Kì, Canada, Trung quốc,
Nhật bản, Hàn quốc…... Các Hiệp hội KĐCLGD ở các nước này đã xây
dựng những bộ tiêu chuẩn, tiêu chí để cơng nhận mức độ đạt được của các
cơ sở giáo dục so với các chuẩn quy định.
8
Ở nhiều nước trong khu vực gần đây đều nhấn mạnh đến lợi ích chăm
sóc, giáo dục trẻ thơ tồn diện. Các nước rất quan tâm tới việc lựa chọn các
tiêu chí và bộ cơng cụ đơn giản để can thiệp dựa vào gia đình và cộng đồng.
Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu và đề cập đến kiểm
định chất lượng giáo dục như Nguyễn Đức Chính với tác phẩm “Kiểm định
chất lượng trong giáo dục đại học” [16], Đặng Bá Lãm với “Kiểm tra và
đánh giá trong dạy- học đại học” [8], Nguyễn Công Khanh với “Về tiêu
chuẩn kiểm định khoá đào tạo giáo viên tiểu học” [15], Nguyễn Hữu Châu
với “Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng giáo dục và đánh giá chất
lượng giáo dục” [17]...Tuy nhiên việc sử dụng và quản lý việc thực hiện bộ
tiêu chuẩn Kiểm định chất lượng giáo dục ở Trường Tiểu học còn chưa được
nghiên cứu một cách có hệ thống.
1.2. Các khái niệm cơng cụ
1.2.1. Quản lý
Khi trình bày khái niệm quản lí, ngồi việc trích dẫn những tư tưỏng
của các tác giả kinh điển của lí luận chủ nghĩa Mác – Lênin, các tác giả
thường dẫn ra quan điểm của một số tác giả nước ngoài như: Frederich
Winslon Taylor (1855-1915); Henry Fayol (1841-1925); Mary Parkor Pollet
(1868-1933); Harold Koontz… và một số tác giả Việt Nam như: Nguyễn
Hoàng Toàn, Nguyễn Ngọc Quang, Hồ văn Vĩnh, Phạm Minh Hạc, Đặng
Như vậy: Quản lý là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác,
lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản
lí theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh
hưởng đến đối tượng quản lí nhằm tạo ra sự thay đổi cần thiết vì sự tồn tại
(duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến
động [14].
Theo quan niệm trên quản lí nhấn mạnh đến những khía cạnh sau:
10
1/ Quản lí có hình thức thực thể là những hoạt động do chủ thể quản lí
thực hiện. Điều đó có nghĩa khơng có những hoạt động này, chưa có hoạt
động quản lí trên thực tế, chưa có cơ sở để khẳng định hoạt động quản lí đã
xảy ra. Các hoạt động của chủ thể quản lí có hai nội dung chính. Thứ nhất,
tác động đến đối tượng quản lí (con ngưòi và những đối tượng khác); Thứ
hai, khai thác, tổ chức và thực hiện các nguồn lực. Nguồn lực cũng tồn tại
như một trong những đối tượng quản lí nhưng không đồng nhất hoạt động
tác động đến đối tượng quản lí với hoạt động khai thác, tổ chức nguồn lực.
Rất nhiều hoạt động tác động đến đối tượng quản lí cần đến điều kiện là
nguồn lực. Khai thác, tổ chức và thực hiện nguồn lực, trong những trường
hợp cụ thể là tạo điều kiện để hoạt động tác động của chủ thể đến đối tượng
quản lí được thực hiện có hiệu quả.
2/ Quản lí thể hiện tập trung trí tuệ và ý chí của chủ thể quản lí. Điều
này được thể hiện ở những tác động hướng đích có chủ định do chủ thể quản
lí thực hiện và những mục tiêu mà chủ thể quản lí xác định. Tuy nhiên,
những tác động này của chủ thể chỉ có hiệu quả khi nó dựa trên cơ sở nhận
thức của chủ thể về các qui luật khách quan trong lĩnh vực hoạt động của
mình và ý thức của chủ thể trong việc tuân thủ các qui luật khách quan đó.
Mức độ thống nhất giữa những tác động hướng đích, có chủ định và hệ
thống mục tiêu do chủ thể quản lí xác định với các qui luật khách quan
hoạt động quản lí của mình. Những cái gì thuộc khách thể quản lí đã khiến
cá nhân ấy trở thành chủ thể quản lí cũng lập tức trở thành đối tượng hoạt
động quản lí của anh ta. Khi cá nhân chưa xác định được đối tượng quản lí,
đương nhiên quản lí chưa diễn ra, và cá nhân đó chưa phải là chủ thể quản lí.
Như vậy, chỉ có những yếu tố nào đó của khách thể quản lí tham gia vào
hoạt động, có tác dụng động cơ hố (chứa đựng mục đích quản lí) một cá
nhân (tập thể) nào đó thì nó mới trở thành đối tượng quản lí.
12
+ Cơng cụ quản lí: là phương tiện, giải pháp của chủ thể quản lí nhằm
định hướng, dẫn dắt, khích lệ, điều hoà, phối hợp hoạt động của con người
và các bộ phận trong tổ chức trong việc đạt đến các mục tiêu đã đề ra. Cơng
cụ quản lí có vai trò quan trọng trong việc thiết lập phương thức hoạt động
hợp với qui luật khách quan cho hoạt động quản lí. Cơng cụ quản lí có tác
động trực tiếp đến việc xác lập và vận hành mối quan hệ giữa chủ thể quản lí
và đối tượng quản lí, đến việc định hướng tổ chức thực hiện và điều chỉnh
các hoạt động trong tổ chức.
Có nhiều cách phân loại cơng cụ quản lí. Xét theo hình thức thể hiện,
cơng cụ quản lí gồm hai loại:
+ Cơng cụ hình thức: là các phương tiện kĩ thuật và những qui định
thành văn có tác dụng định hướng, vận hành, điều chỉnh những quan hệ và
hoạt động trong tổ chức. Ví dụ, hiến pháp, pháp luật của nhà nước mà tổ
chức phải tuân thủ, điều lệ, nội qui của tổ chức...
+ Công cụ phi hình thức: là những qui định bất thành văn những có tác
dụng định hướng, vận hành, điều chỉnh những quan hệ và hoạt động trong tổ
chức. Ví dụ, phong tục, tập quán, truyền thống và tiền lệ của tổ chức...
Có thể mơ tả mối quan hệ giữa các thành tố cơ bản của hệ thống quản lí
như hình 1.1 dưới đây:
Chỉ đạo là một chức năng quan trọng trong cơng tác quản lý nói
chung, quản lí giáo dục nói riêng. Cơng tác chỉ đạo quản lý của mỗi cấp học
phụ thuộc vào mục tiêu của cấp học đó. Mục tiêu quản lý của Phịng
14
GD&ĐT đối với các trường tiểu học là thực hiện những tác động để các
trường đạt đến trạng thái xác định trong tương lai của mình.
Mục tiêu quản lý giáo dục phải được xác định trên cơ sở nhiệm vụ của
hệ thống giáo dục và xuất phát từ tình hình thực tế của hệ thống đó. Từ
nhiệm vụ và trạng thái đã xác định, các mục tiêu quản lý cho từng giai đoạn
phát triển của hệ thống giáo dục được hoạch định. Để đạt được mục tiêu
quản lý giáo dục, chủ thể quản lý phải thể hiện vai trò của người quản lý
biến trạng thái hiện tại của hệ thống sang trạng thái mục tiêu.
Như vậy công tác chỉ đạo trong quản lí giáo dục là một q trình liên
kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất
định để đạt được mục tiêu của tổ chức.
Nhiệm vụ của người quản lý khi thực hiện chức năng chỉ đạo là: Ra
các mệnh lệnh, thông báo truyền đạt mệnh lệnh, hướng dẫn động viên giúp
đỡ cấp dưới thực hiện mệnh lệnh, hướng dẫn điều chỉnh những lệch lạc sai
sót xuất hiện trong q trình thực hiện huấn luyện cán bộ và nhân viên dưới
quyền.
Sự chỉ đạo trong quản lí giáo dục phải đảm bảo các nguyên tắc:
- Nguyên tắc đảm bảo tuân thủ sự quản lý nhà nước: Quản lý nhà
nước trong nhà trường là quản lý bằng luật lệ, điều lệ quy định, quy chế.
- Nguyên tắc xác định trách nhiệm cá nhân: Để xác định trách nhiệm
của cá nhân, bộ phận, người quản lý cần phải dựa vào các quy định có tính
chất nhà nước đối với các công việc cụ thể của người giáo viên.
- Nguyên tắc phân công công việc, giao nhiệm vụ hợp lý, phù hợp với
quan trọng hơn nhiều so với đầu vào của q trình đào tạo.”Đầu ra” chính là
sản phẩm của giáo dục thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của học
sinh khi ra trường hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của trường
đó.
Có hai vấn đề cơ bản liên quan đến cách tiếp cận CLGD này:
16
Một là: Mối liên hệ giữa đầu vào với đầu ra không được xem xét một
cách đúng mức. Một trường có khả năngnhận các học sinh khá giỏi khơng có
nghĩa là học sinh của họ sẽ tốt nghiệp loại xuất sắc.
Hai là, cách đánh giá đầu ra của các nhà trường và các nhà tuyển dụng
rất khác nhau.
* Chất lượng được đánh giá bằng “ giá trị gia tăng”
Giá trị gia tăng(Chất lượng) = Đầu ra - đầu vào
Quan điểm thứ ba về chất lượng cho rằng một trường có tác động tích
cực tới học sinh khi nó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát triển về trí tụe
và cá nhân của học sinh.
Nếu theo quan điểm này , sẽ nảy sinh những vấn đề:
- Khó có thể có một thước đo thống nhất để đánh giá đầu vào, đầu ra.
- nếu có được một thước đo để tính được giá trị gia tăng, giá trị gia
tăng sẽ khơng cung cấp thơng tin gì cho chúng ta về sự cải tiến quá trình đào
tạo trong từng trường.
* Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị học thuật”
Dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội
ngũ cán bộ giảng dạy. Điều này có nghĩa là trường nào có đội ngũ giảng dạy
tốt, có uy tín cao thì được xem là trường có chất lượng cao.
Hạn chế của cách tiếp cận này là ở chỗ, cho dù năng lực học thuật có
thể được đánh giá một cách khách quan thì cũng khó có thể đánh giá được
những cuộc cạnh tranh của các trường về đội ngũ giáo viên trong mơi trường
giá chất lượng trong giáo dục. Nếu mỗi trường đều đánh giá bằng các tiêu
chuẩn như vậy thì đa số các trường sẽ bị quy là kém chất lượng. Vả lại, có
cần thiết phải làm cho các trường đều giống nhau không?
*Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn(thông số kĩ thụât)
Cách tiếp cận này có nguồn gốc từ ý niệm kiểm sốt chất lượng trong
các ngành sản xuất và dịch vụ.
18
Trong bối cảnh này, tiêu chủân được xem là công cụ đo lường, hoặc
bộ thước đo – một phương tiện trung gian để miêu tả những đặc tính cần có
của một sản phẩm hay dịch vụ. Chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ được
đo bằng sự phù hợp của nó với các thơng số hay tiêu chuẩn được quy định
trước đó.
Nhựơc điểm của cách tiếp cận này là nó không nêu rõ các tiêu chuẩn
được xây dựng trên cơ sở nào. Hơn nữa thuật ngữ tiêu chuẩn cho ta ý niệm
về một hình mẫu tĩnh tại, nghĩa là một khi các thơng số kĩ thuật đã được xác
định thì không phải xem xét lại chúng nữa. Trong khi khoa học. kĩ thuật và
cơng nghệ đang có những bước tiến mới, tri thức lồi người ngày càng
phong phú thì “tiêu chuẩn” của giáo dục không thể là một khái niệm tĩnh.
Trong một vài trường hợp, tiêu chuẩn trong giáo dục với nghĩa là
những kết quả củ học sinh khi tốt nghiệp được xem xét là chất lượng trong
giáo dục để chỉ đầu ra của giáo dục với ý nghĩa trình độ, kiến thức, kĩ năng
đạt được của học sinh sau những năm học tập tại trường.
*Chất lượng là sự phù hợp với mục đích
Cách tiếp cận khái niệm chất lượng được đa số các nhà hoạch định
chính sách và quản lý giáo dục, kể cả tổ chức Đảm bảo chất lượng giáo dục
quốc tế(INQAHE – International Network of Quality Assurance In Higher
Education) sử dụng là tính phù hợp với mục đích – hay đạt được các mục
đích đề ra trước đó.
tiêu đào tạo của nhà trường. Thông qua kiểm tra, thanh tra chất lượng các tổ
chức hữu quan sẽ xem xét, hoàn thành nhiệm vụ một cách hiệu quả và hiệu
suất cao nhất không? Mô hình này đặc biệt quan trọng đối với các trường có
nguồn lực hạn chế, giúp các nhà quản lý có được cơ chế sử dụng hợp lý, an
toàn những nguồn lực của mình để đạt tới mục tiêu đã định từ trước một
cách hiệu quả nhất.
Một định nghĩa về chất lượng có ý nghĩa trong việc xác định chất
lượng giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục là: “Chất lượng là sự phù
20
hợp với mục tiêu..” Mục tiêu ở đây bao gồm các sứ mạng, mục đích,..cịn sự
phù hợp với mục tiêu có thể là đáp ứng mong muốn của những người quan
tâm, là đạt hay vượt qua các tiêu chuẩn đặt ra, Đây là định nghĩa thích hợp
và thơng dụng nhất khi xem xét các vấn đề của giáo dục.
- Chất lượng giáo dục
Từ định nghĩa chất lượng trên, có thể hiểu “chất lượng giáo dục là sự
phù hợp với mục tiêu giáo dục”.Nói đến chất lượng là nói đến sự cải tiến
không ngừng của các sản phẩm và dịch vụ dành cho khách hàng, cùng với
những cải tiến phương pháp hành động nhằm tạo ra những đầu ra mong
muốn. Trong ngữ cảnh của giáo dục thì chất lượng thường được hiểu theo ý
nghĩa đa dạng. Chất lượng giáo dục thường liên quan đến thành tích học tập,
sự đáp ứng các chuẩn mực và giá trị, sự phát triển của cá nhân người học, lợi
ích của những đầu tư và sự phù hợp với những mục tiêu đề ra.
- Chất lượng của cơ sở giáo dục(mơ hình C.I.P.O)
Trong chương trình hành động Darkar(2000) của UNESCO, chất
lượng của một nhà trường hoặc một cơ sở giáo dục được hiểu qua mười yếu
tố:
1.Người học khoẻ mạnh, được ni dưỡng tốt, được khuyến khích
thường xuyên để có cơ hội học tập chủ động.
+ Thiết lập sứ mạng của nhà trường;
+ Thiết lập các phương pháp;
+ Lập các chuẩn mực.
Một đặc điểm quan trọng khác của đảm bảo chất lượng được Frazer
(1922) xác định, cho rằng có bốn thành phần chính trong một hệ thống đảm
bảo chất lượng.
Thứ nhất, tất cả mọi người trong hệ thống phải có trách nhiệm duy trì
chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ mà tổ chức làm ra.
Thứ hai, tất cả mọi người phải có trách nhiệm củng cố chất lượng của
sản phẩm hay dịch vụ đó.
22
Thứ ba, tất cả mọi người hiểu, sử dụng, và cảm thấy mình là người
làm chủ hệ thống đang hoạt động đúng hướng nhằm duy trì và củng cố chất
lượng
Thứ tư, những người hưởng lợi (người quản lý hay khách hàng) cần
phải thường xuyên kiểm tra hệ thống và có trách nhiệm kiểm tra chất lượng
của sản phẩm hay dịch vụ.
Lim (2001) đề nghị rằng cần có nhiều bước chi tiết trong cách tiếp cận
việc thiết lập một hệ thống đảm bảo chất lượng. Các bước đó là:
->Xác định sứ mạng hay mục đích của các trường;
-> Xác định các chức năng mà các trường thực hiện, và tầm quan
trọng tương ứng trong việc thực hiện sứ mạng;
->Xác định các mục tiêu của mỗi chức năng và đặt ra các chỉ số thực
hiện định tính và định lượng của chúng.
->Thành lập một hệ thống quản lý đảm bảo chất lượng, và các quá
trình quản lý nhằm đảm bảo rằng các mục tiêu này có thể đạt được.
->Thành lập một hệ thống kiểm định chất lượng nhằm đánh giá việc
các trường đại học thực hiện các chức năng và xác định các lĩnh vực